LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, trong giai đoạn nước ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa thì vấn đề ổn định nền kinh tế, đảm bảo tăng trưởng và phát
triển toàn diện luôn là một trong những yêu cầu cấp thiết được đặt ra. Trong những
năm gần đây trước xu hướng hội nhập nền kinh tế thế giới chúng ta đã có rất nhiều
những cơ hội cho việc phát triển nền kinh tế song bên cạnh đó cũng có không ít khó
khăn mà một trong những khó khăn lớn nhất là phải đảm bảo cho nền kinh tế phát
triển và hội nhập thành công, đồng thời cũng phải đảm bảo sự vững mạnh, tự chủ.
Hiện tại trong những năm gần đây nền kinh tế nước ta đã có những bước
phát triển vượt bậc với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt ở mức khá cao. Có được
những thành tựu như vậy là do những chính sách tích cực và cụ thể của Đảng và
Nhà Nước ta trong mỗi giai đoạn cụ thể của quá trình phát triển kinh tế. Với mỗi sự
thay đổi của kinh tế thế giới chúng ta đều có những chính sách cụ thể phù hợp với
tình hình nhằm làm cho nền kinh tế ổn định phát triển.
Trong thực tế, chúng ta cũng cần nhận thức rõ ràng rằng không phải trong
mọi trường hợp chúng ta đều có thể thích ứng một cách tốt nhất, bởi lẽ chúng ta cần
hiểu rằng nền kinh tế Việt Nam là một phần của nền kinh tế thế giới. Một trong
những minh chứng rõ ràng là những ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế
giới tới nền kinh tế Việt Nam. Bắt đầu từ cuộc khủng hoảng của thi trường tài chính
Mỹ từ tháng 8 năm 2008 và đã nhanh chóng lan ra các nền kinh tế trên khắp thế
giới. Những ảnh hưởng này chúng ta có thể thấy rõ hàng ngày hàng giờ với việc
hàng chục nghìn lao động bị mất việc làm tại các khu công nghiệp, tốc độ tăng
trưởng kinh tế 6 tháng cuối năm 2008 bị giảm mạnh, thị trường chứng khoán xuống
dốc…. Đến lúc này chúng ta nhận thấy rằng nền kinh tế hiện nay với những quy
luật chung, với quá trình tự điều tiết của nó không còn có tác dụng cho việc bình ổn
thị trường. Chính vì vậy trong lúc này vai trò của nhà nước một lần nữa được khẳng
định với những biện pháp cụ thể để phục hồi nền kinh tế đang bị suy thoái.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Từ đầu năm 2009 khi nhận thấy cần có những chính sách cho việc bình ổn
kinh tế chính phủ các nước đã nhanh chóng thông qua các gói kích cầu, tuy nhiên ở
nhiều nước vẫn chưa có được sự nhất trí trong việc sử dụng chúng vào đâu. Phần
được cơ hội tiếp xúc với thực tế tại một trong những đơn vị hàng đầu trong hoạt
động tài chính tại Việt Nam tôi đã có thêm được những hiểu biết thực tế quý báu.
Với tình hình chung của nền kinh tế, với những hoạt động đang diễn ra tai đơn vị
thực tập, sau một quá trình thực tập tôi đã chọn đề tài:
“Thực trạng và giải pháp kích cầu đầu tư trong giai đoạn suy thoái kinh
tế tại Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Lai Châu”
làm đề tài cho chuyên đề thực tập của mình. Việc chọn đề tài này của tôi
xuất phát từ tình hình thực tế của kinh tế nước ta là hiện tại nền kinh tế chúng ta
đang gặp những khó khăn chung của kinh tế thế giới và chính phủ nước ta đang có
những biện pháp kích cầu đầu tư, ngăn chặn suy giảm kinh tế; thêm vào đó Ngân
hàng đầu tư và phát triển Việt Nam nói chung, Ngân hàng đầu tư và phát triển tỉnh
Lai Châu nói chung là một trong những đơn vị đầu mối thực hiện các chính sách về
kích cầu đầu tư này.
Hoàn thành được chuyên đề thực tập này, tôi xin chân thành cảm ơn:
ThS. Nguyễn Thị Thu Hà – Giảng viên khoa Kinh tế đầu tư – ĐH Kinh tế
quốc dân Hà Nội cùng toàn thể tập thể giảng viên Khoa kinh tế đầu tư.
Ban giám đốc cùng toàn thế cán bộ nhân viên Ngân hàng đầu tư và phát
triển chi nhánh tỉnh Lai Châu
Đã tận tình giúp đỡ trong quá trình thực tập cũng như trong quá trình hoàn
thành chuyên đề này. Tôi hi vọng rằng với đề tài này ngoài việc mang lại những
thông tin cập nhật, những hiểu biết về thực tế cho bản thân tôi thì nó cũng một phần
nào giúp cho quá trình thực hiện việc kích cầu đầu tư đạt được những kết quả như
mong muốn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Lai Châu, ngày 01 tháng 04 năm 2009
Hoàng Hải Nam Lớp: KTĐT 47D
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHO VIỆC KÍCH CẦU ĐẦU TƯ VÀ
Những kết quả của đầu tư đem lại là sự tăng thêm tài sản tài chính (tiền vốn),
tài sản vật chất (nhà máy, đường xá, của cải vật chất khác), tài sản trí tuệ (trình độ
văn hoá, chuyên môn, khoa học kỹ thuật của người dân). Các kết quả đã đạt được
của đầu tư đem lại góp phần tăng thêm năng lực sản xuất của xã hội.
Theo nghĩa hẹp, đầu tư chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực
ở hiện tại nhằm đem lại cho nhà đầu tư hoặc xã hội kết quả trong tương lai lớn hơn
các nguồn lực đã sử dụng để đạt được kết quả đó.
Như vậy, nếu xem xét trên giác độ đầu tư thì đầu tư là những hoạt động sử
dụng các nguồn lực hiện có để làm tăng thêm các tài sản vật chất, nguồn nhân lực
và trí tuệ để cải thiện mức sống của dân cư hoặc để duy trì khả năng hoạt động của
các tài sản và nguồn lực sẵn có. Có thể thấy rằng hoạt động đầu tư là hoạt động tất
yếu và không thể thiếu trong xã hội nó đem lại cho nền kinh tế những động lực phát
triển mới và cùng với đó là cơ sở cho sự duy trì và phát triển đời sống xã hội.
1.2. Khái niệm đầu tư trên góc độ tài chính
Việc xem xét quá trình đầu tư trên góc độ tài chính là một trong những vấn
đề chủ yếu của quá trình đầu tư. Có thể khẳng định như vậy là vì trong hoạt động
đầu tư thì nguồn lực chủ yếu bỏ ra cho đầu tư chính là tiền bạc và các nguồn lực vật
chất khác. Và đây cũng chính là mối quan tâm lớn của các nhà đầu tư vì khi nhà đầu
tư bỏ vốn ra thì việc thu hồi vốn và có lãi là một trong những yêu cầu cần thiết nhất.
Có thể xem xét đầu tư tài chính như sau:
“ Đầu tư là một chuỗi các hoạt động chi tiêu trong hiện tại để chủ đầu tư
nhận về một chuỗi các dòng thu nhằm hoàn vốn và sinh lời trong tương lai”.
Trong định nghĩa này thì tất cả những nguồn lực nhà đầu tư bỏ ra xem xét
với góc độ là vốn, là tiền bạc bỏ ra. Nhà đầu tư quan tâm đến các dòng tiền mà mình
bỏ ra và các dòng tiền thu về. Xem xét như vậy thì sau một quá trình đầu tư nếu
Hoàng Hải Nam Lớp: KTĐT 47D
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thành công thì nhà đầu tư có thể thu về dòng tiền lớn hơn dòng tiền mình đã bỏ ra,
sau quá trình đầu tư nhà đầu tư có thể tăng được quy mô tài sản hiện có.
quá trình đầu tư khi xét trên góc độ tiêu dùng, bởi vì với hoạt động tiết kiệm này
người tiết kiệm đã hi sinh những nhu cầu tiêu dùng trong hiện tại với kỳ vọng thu
những lợi ích trong tương lai để có thể cải thiện mức tiêu dùng của mình ở một mức
cao hơn.
Như vậy với mỗi góc độ nghiên cứu về khái niệm đầu tư chúng ta đều có
những cái nhìn khác nhau xung quanh vấn đề này. Việc xem xét đầu tư với góc độ
nào còn phụ thuộc nhiều vào quan điểm của mỗi người và trong từng trường hợp cụ
thể. Chính vì vậy mà chúng ta cần xem với từng trường hợp cụ thể mà đứng trên
góc độ nào để xem xét, điều đó sẽ giúp chúng ta có được cái nhìn đúng đắn và việc
ra quyết định được chính xác hơn.
2. Đặc điểm của hoạt động đầu tư
Trong việc nghiên cứu hoạt động đầu tư thì người ta có nhiều tiêu chí để
phân loại hoạt động đầu tư và với mỗi tiêu chí thì chúng ta lại phân loại đầu tư ra
thành những dạng đầu tư khác nhau. Song trong bài nghiên cứu này tôi chỉ xin
được phân loại hoạt động đầu tư theo tiêu chí xem xét bản chất của việc đầu tư và
phân loại đầu tư theo ba dạng là: Đầu tư phát triển, Đầu tư tài chính và Đầu tư
thương mại.
Trong ba dạng của hoạt động đầu tư thì đầu tư phát triển là hoạt động chủ
yếu nhất và nó mang đầy đủ các đặc điểm của hoạt động đầu tư thông thường.
Chính vì vậy mà việc nghiên cứu các đặc điểm của đầu tư phát triển cũng đồng
nghĩa với việc nghiên cứu đặc điểm của đầu tư nói chung.
2.1. Đầu tư là hoạt động đòi hỏi huy động các nguồn lực rất lớn
Với mỗi hoạt động đầu tư chúng ta thấy rằng đây là lĩnh vực yêu cầu những
nguồn lực rất lớn, bởi vì hoạt động đầu tư phát triển nói chung hoạt động đầu tư nói
riêng đều diễn ra trên quy mô lớn, với đặc điểm như vậy thì việc đòi hỏi mức vốn,
vật tư và lao động ở quy mô lớn là một điều tất nhiên. Hơn thế nữa kết quả của mỗi
quá trình đầu tư thường là những lợi ích mà nó mang lại cho chủ đầu tư và xã hội,
nhằm mục tiêu tạo dựng những điều kiện tốt hơn cho phát triển kinh tế và nâng cao
đời sống, chính vì vậy mà nguồn lực cần thiết cho quá trình đầu tư xét trên phương
Hoàng Hải Nam Lớp: KTĐT 47D
Hoàng Hải Nam Lớp: KTĐT 47D
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2.2. Thời gian đầu tư kéo dài
Với hoạt động đầu tư thời kỳ đầu tư được tính từ khi đi vào thực hiện dự đến
khi hoàn thành và đi vào vận hành các kết quả đầu tư. Do đó nếu như với các dự án
đầu tư có liên quan đến việc xây dựng hay các dự án tiến hành tạo dựng các điều
kiện về cơ sở hạ tầng mới thì việc đầu tư thường kéo dài từ vài năm thậm chí đến
hàng chục năm.
Với những dự án đầu tư như thế thì việc sử dụng vốn đầu tư và quản lý hoạt
động đầu tư theo phân kỳ là rất cần thiết. Với thời kỳ đầu tư kéo dài thì chúng ta
nên phân việc đầu tư thành các thời kỳ nối tiếp nhau, mỗi thời kỳ cần có nguồn lực,
kế hoạch, mục tiêu cụ thể. Việc phân chia này giúp cho các công việc của dự án
được thực hiện một cách khoa học, dứt điểm và mang tính hiệu quả.
Ngoài ra việc phân kỳ dự án đầu tư còn tạo cho chúng ta điều kiện đưa các
hạng mục công trình đã hoàn thành đưa vào vận hành khai thác một phần hoặc toạn
bộ như thế vốn đầu tư bỏ ra ban đầu sẽ sớm được thu hồi, tránh khe đọng vốn và tạo
cho việc tái đầu tư trở lại được nhanh chóng hơn, đây cũng là một biện pháp để nhà
đầu tư khắc phục tình trạng thiếu vốn và giảm được mức vốn đầu tư cần thiết phải
huy động cho toàn bộ dự án.
Hiện nay, nếu xét với thực tế nước ta thì với những công trình lớn mang tầm
cỡ quốc gia chúng ta đã vận dụng khá tốt các biện pháp để nhằm thích ứng với đặc
điểm thời kỳ đầu tư kéo dài với các dự án đầu tư lớn. Ví dụ với công trình thủy điện
Sơn La là một trong những công trình trọng điểm quốc gia lớn của nước ta hiện
nay: Được khởi công vào ngày 2/12/2005 và theo kế hoạch thì dự án sẽ hoàn thành
vào năm 2015. Như vậy thời gian thực hiện dự án hơn 10 năm đã khiến cho việc
quản lý dự án gặp những khó khăn nhất định do thời gian đầu tư kéo dài mang lại:
thư nhất chúng ta mất hơn 1 năm để tiến hành cho việc chuẩn bị thực hiện xây
dựng(di dân, tái định cư với hơn 18.000 hộ dân) ngoài ra thì chi phí lãi vay là khá
lớn với khoảng 6.210 tỷ đồng tiền lãi vay…. Với công trình này ngoài các biện
hoạch vận hành và khai thác hiệu quả và hợp lý.
2.4. Các kết quả đầu tư có ảnh hưởng lớn và nó cũng chịu ảnh hưởng lớn của
các yếu tố kinh tế, xã hội
Với các dự án thì mức ảnh hưởng của nó có thể nói là khá sâu rộng đối với
Hoàng Hải Nam Lớp: KTĐT 47D
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
khu vực mà dự án tiến hành.
Thứ nhất, dự án đầu tư có mức độ ảnh hưởng tới các mặt khác nhau của đời
sống cũng như điều kiện tự nhiên của khu vực xung quanh: điều kiện ánh sáng,
tiếng ồn… các ảnh hưởng này có thể là tích cực hoặc tiêu cực
Thứ hai, với dự án cũng chịu những tác động từ môi trường xung quanh nhất
là điều kiện tự nhiên và các yếu tố cung cấp trực tiếp cho dự án(nguyên vật liệu, lao
động…)
Chính vì hai đặc điểm trên mà chúng ta cần phải xem xét kỹ các ảnh hưởng
về điều kiện tự nhiên, xã hội mà dự án chịu ảnh hưởng cũng như những ảnh hưởng
của dự án tới môi trường xung quanh. Ngoài ra việc đo lường, lượng hóa những ảnh
hưởng này cũng rất quan trọng vì ta cần có những đánh giá chính xác trước khi ra
quyết định có nên đầu tư hay không. Vì khi đã tiến hành thực hiện đầu tư chúng ta
không thể dễ dàng dời dự án từ nơi này sang nơi khác hoặc việc di dời có thể trở
thành vô cùng tốn kém và dự án trở nên bất khả thi.
Do vậy, trong việc lập kế hoạch, chủ trương đầu tư cúng ta cần căn cứ trên
những thông tin thu thập chính xác để đưa ra quyết định đầu tư vào cái gì? với công
suất là bao nhiêu? do vậy khâu nghiên cứu thị trường và đưa ra dự báo phải tiến
hành chu đáo.
Với việc lựa chọn địa điểm đầu tư phải dựa trên những căn cứ khoa học đó là
những hệ thống chỉ tiêu kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, môi trường… để từ đó có
thể xây dựng cho việc lựa chọn dự án các phương án lựa chọn khác nhau; từ đó có
sự so sánh để lựa chọn ra phương án tối ưu. Việc này giúp cho nhà đầu tư có thể
khai thác tối đa thế mạnh của vùng từ đó nâng cao hiệu quả của việc đầu tư.
cần có những hiểu biết thực tế, nó sẽ giúp ta xây dựng phương án khả thi và hiệu quả.
II. LÝ THUYẾT VỀ SUY THOÁI KINH TẾ
1. Khái niệm suy thoái kinh tế
Suy thoái kinh tế đã là cụm từ quá quen thuộc với mọi người thời buổi này,
vậy thực chất suy thoái kinh tế là gì, và nó đang diễn ra thế nào trong bối cảnh nền
kinh tế toàn cầu đang đi qua những ngày ảm đạm nhất.
Suy thoái kinh tế (tiếng Anh: recession/economic downturn) có thể hiểu là
sự suy giảm của Tổng sản phẩm quốc nội thực trong thời gian hai hoặc hơn hai quý
Hoàng Hải Nam Lớp: KTĐT 47D
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
liên tiếp trong năm (nói cách khác, tốc độ tăng trưởng kinh tế âm liên tục trong hai
quý). Tuy nhiên, định nghĩa này không được chấp nhận rộng rãi. Cơ quan nghiên
cứu kinh tế quốc gia (NBER) của Hoa Kỳ đưa ra định nghĩa về suy thoái kinh tế
còn mập mờ hơn “là sự tụt giảm hoạt động kinh tế trên cả nước, kéo dài nhiều
tháng”.
Suy thoái kinh tế còn liên quan sự suy giảm đồng thời của các chỉ số kinh tế
của toàn bộ hoạt động kinh tế như việc làm, đầu tư, và lợi nhuận doanh nghiệp. Các
thời kỳ suy thoái có thể đi liền với hạ giá cả (giảm phát), hoặc ngược lại tăng nhanh
giá cả (lạm phát) trong thời kì đình lạm.
Một sự suy thoái trầm trọng và lâu dài được gọi là khủng hoảng kinh tế. Sự
tan vỡ tàn phá nền kinh tế là suy sụp/đổ vỡ kinh tế.
Các nền kinh tế theo định hướng thị trường có đặc điểm là tăng giảm theo
chu kỳ kinh tế, nhưng sự suy giảm thực tế (suy giảm các hoạt động kinh tế) không
thường xảy ra.
Kinh tế lâm vào khủng hoảng sẽ kéo theo nhiều mặt khác của xã hội đi vào
con đường suy thoái và khủng hoảng trầm trọng hơn.
Từ khủng hoảng tài chính -> khủng hoảng kinh tế -> khủng hoảng kinh
tế thực -> khủng hoảng an ninh lương thực -> khủng hoảng chính trị.
Nếu nhà nước chính quyền không có biện pháp gì ngăn chặn quá trình của khủng
Thông thường, người ta chỉ nhận ra hai điểm đáy và đỉnh của chu kỳ kinh tế
khi nền kinh tế đã sang giai đạon kế tiếp với dấu hiệu là tốc độ tăng trưởng GDP
thực tế đổi chiều giữa mức âm và mức dương. Trong thực tế, các nhà kinh tế học cố
tìm cách nhận biết dấu hiệu của suy thoái vì nó tác động tiêu cực đến mọi mặt kinh
tế, xã hội. Một số đặc điểm thường gặp của suy thoái là:
- Tiêu dùng giảm mạnh, hàng tồn kho của các loại hàng hóa lâu bền trong
các doanh nghiệp tăng lên ngoài dự kiến. Việc này dẫn đến nhà sản xuất cắt giảm
sản lượng kéo theo đầu tư vào trang thiết bị, nhà xưởng cũng giảm và kết quả là
GDP thực tế giảm sút.
- Cầu về lao động giảm, đầu tiên là số ngày làm việc của người lao động
giảm xuống tiếp theo là hiện tượng cắt giảm nhân công và tỷ lệ thất nghiệp tăng
cao.
- Khi sản lượng giảm thì lạm phát sẽ chậm lại do giá đầu vào của sản xuất
giảm bởi nguyên nhân cầu sút kém. Giá cả dịch vụ khó giảm nhưng cũng tăng
không nhanh trong giai đoạn kinh tế suy thoái.
- Lợi nhuận của các doanh nghiệp giảm mạnh và giá chứng khoán thường
giảm theo khi các nhà đầu tư cảm nhận được pha đi xuống của chu kỳ kinh doanh.
Cầu về vốn cũng giảm đi làm cho lãi suất giảm xuống trong thời kỳ suy thoái.
Còn khi nền kinh tế hưng thịnh thì các dấu hiệu trên biến thiên theo chiều
ngược lại.
2. Quá trình suy thoái kinh tế
Nguyên nhân suy thoái kinh tế
Những nguyên nhân đích thực của suy thoái kinh tế là đối tượng tranh luận
sôi nổi giữa các nhà lý thuyết và những người làm chính sách mặc dù đa số thống
nhất rằng các kỳ suy thoái kinh tế gây ra bởi sự kết hợp của các yếu tố bên trong
(nội sinh) theo chu kỳ và các cú sốc từ bên ngoài (ngoại sinh).
Ví dụ, những nhà kinh tế học chủ nghĩa Keynes và những lý thuyết gia theo
lý thuyết chu kỳ kinh tế thực sẽ bất đồng về nguyên nhân của chu kỳ kinh tế, nhưng
sẽ thống nhất cao rằng các yếu tố ngoại sinh như giá dầu, thời tiết, hay chiến tranh
Hoàng Hải Nam Lớp: KTĐT 47D
Deal” với 3 mục tiêu (1) khẩn trương cứu tế người thất nghiệp, (2) khôi phục kinh
Hoàng Hải Nam Lớp: KTĐT 47D
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tế trở lại tình trạng bình thường, và (3) cải cách hệ thống tài chính để Đại khủng
hoảng không bao giờ xảy ra nữa. Roosevelt đưa Tổng sản phẩm quốc gia (GNP) gia
tăng trở lại, đạt mức 11% hàng năm trong giai đoạn 1933-1936.
Cho đến nay, thảm họa như Đại khủng hoảng không xảy ra với các nước
công nghiệp hóa nữa. Tuy vậy nhiều nước Châu Mỹ Latin trải qua suy sụp kinh tế
đi liền với lạm phát cao những năm 1980, Nhật Bản sa vào khủng hoảng thập kỷ
1990, và các nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Trung và Đông Âu chìm đắm
trong khủng hoảng kinh tế khi chuyển đổi sang kinh tế tư bản. Thêm vào đó, từ “suy
thoái” có thể sử dụng để mô tả tình hình của rất nhiều quốc gia nghèo thuộc Thế
giới thứ ba (dù rằng trong nhiều trường hợp, các quốc gia này chưa hề có được giai
đoạn phát triển kinh tế).
Thời gian Đại khủng hoảng ở Châu Âu là một trong những nguyên nhân cho
sự chấp nhận Adolf Hitler và các nhóm phát xít cực đoan. Sự hoành hành của chúng
là nguyên nhân chủ yếu của Thế chiến thứ hai, cuộc chiến mà đến lượt nó là gốc
gác cho sự kích thích phát triển kinh tế sau này.
3. Những hệ quả mang lại của suy thoái kinh tế
Kinh tế suy thoái mang lại những hậu quả phức tạp, song cũng là cơ hội tái
xây dựng một nền tảng phát triển bền vững.
Suy thoái kinh tế hiện đang là một vấn đề làm đau đầu các nhà điều hành,
chuyên gia kinh tế và người dân trên toàn nước Mỹ. Suy thoái gây ra tình trạng thất
nghiệp, giá cổ phiếu sụt giảm và kinh tế đi xuống. Tuy nhiên có ba lý do chúng ta
nên lạc quan khi suy thoái xảy ra.
Sự suy thoái giúp nền kinh tế tái lập một nền vững chắc để tăng trưởng
Dù muốn hay không, nền kinh tế của chúng ta không thể lúc nào cũng đi lên
suôn sẻ. Sau một thời gian vận hành suôn sẽ, cỗ máy kinh tế sẽ gặp phải những vấn
đề nhất định. Các nhà hoạch định chính sách cần phải nhận thức rõ ràng vấn đề đó
từ đầu 2008 hạ 9 đến 18%. Trong lĩnh vực công nghệ họ là những tên tuổi lớn và
tiềm năng phát triển tốt. Khi cổ phiếu của họ đang hạ như hiện nay, đó là cơ hội
mua vào những cổ phiếu tốt cho nhà đầu tư.
Suy thoái kinh tế không thể kéo dài mãi
Điều này là hoàn toàn chính xác. Từ sau chiến tranh thế giới thứ 2, kinh tế
Hoàng Hải Nam Lớp: KTĐT 47D
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thế giới đã trải qua 10 lần suy thoái và sau đó đã phục hồi trở lại. Tuy rằng hiện nay,
mỗi ngày chúng ta lại nghe thêm một tin tức xấu về nền kinh tế, tính từ sau Cuộc
Đại Chiến Thế Giới đó, mỗi lần suy thoái kinh tế trung bình chỉ kéo dài khoảng 10
tháng.
Trong phần lớn những thời kỳ suy thoái này, thị trường chứng khóan thường
phục hồi trước khi suy thoái kinh tế kết thúc. Như vậy cũng có thể coi thị trường
chứng khoán như một công cụ để dự báo về tương lai. Nói cách khác thời gian giá
cổ phiếu đi xuống sẽ không dài như thời gian kinh tế suy thoái, đây là một tín hiệu
đang để lạc quan.
Như vậy qua những nghiên cứu trên cho thấy những đặc điểm, quá trình
cũng như những hệ quả mang lại của suy thoái kinh tế. Đây chính là những thông
tin quý báu để chúng ta có thể tiến hành đối mặt với khủng hoảng và có thể đẩy lùi
được khủng hoảng kinh tế trong giai đoạn hiện nay.
III. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ KÍCH CẦU ĐẦU TƯ
Đây chính là phần trọng tâm của chương I, nó chính là cơ sở cho việc đề ra
các chính sách kích cầu đầu tư trong giai đoạn hiện nay của nền kinh tế nước ta.
1. Khái niệm về kích cầu đầu tư
Trong quá trình nghiên cứu, bản thân tôi đã nhiều lần đặt ra việc định nghĩa
thế nào cho đúng về kích cầu đầu tư, và liệu trong trường hợp nào là kích cầu?
trường hợp nào là không?
Như vậy trong thực tế thì có nhiều vấn đề không hoàn toàn giống như lý
thuyết. Chính vì vậy việc có thể nhận diện và hiểu được bản chất của mỗi vấn đề
hiện nay thì nhiều khi chúng ta không nên chỉ nhìn vào một phía để đánh giá vấn
đề, chúng ta nên nhìn vào kết quả chứ không nên nhìn vào quá trình để đánh giá
một chính sách là đúng hay là sai, thêm vào đó với mỗi chính sách đưa ra thì độ trễ
thời gian là luôn luôn có chính vì thế mà chúng ta cần có một thời gian để kiểm
định.
Như vậy quá trình kích cầu đầu tư nói riêng và kích cầu nền kinh tế nói
chung là những giải pháp mang tính lâu dài. Chính vì thế trong quản lý, các nhà
Hoàng Hải Nam Lớp: KTĐT 47D
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
lãnh đạo cần đề ra các chính sách chiến lược trước mắt và lâu dài nhằm thực hiện
các mục tiêu đã đề ra.
2. Những nhân tố tác động đến kích cầu đầu tư
Việc đánh giá những nhân tố ảnh hưởng chủ yếu đến kích cầu đầu tư là một
trong những căn cứ để chúng ta đề ra các chính sách phù hợp và đạt hiệu quả. Nếu
đánh giá những nhân tố đó thì hiện tai chúng ta có thể thấy rằng những nhân tố của
chính nội tại nền kinh tế ảnh hưởng nhiều nhất đến các chính sách của nền kinh tế
đó. Chính vì vậy chúng ta sẽ đặt những yếu tố của nội tại nền kinh tế vào vị trí đầu
tiên khi xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến kích cầu đầu tư
2.1. Những nhân tố của nền kinh tế
Với vai trò là nhân tố trực tiếp chịu tác động của chính sách kích cầu, nền
kinh tế đóng vai trò chủ yếu trong việc quyết định là chính sách có phù hợp hay
không.
- Thứ nhất, với quy mô của nền kinh tế sẽ quyết định mức độ và quy mô ảnh
hưởng của các chính sách kích cầu. Với nền kinh tế lớn thì việc kích cầu đòi hòi
quy mô lớn và những hiệu ứng lan tỏa của nó cũng xảy ra trên diện rộng hơn và
ngược lại. Với việc kích thích nền kinh tế thì những hiệu ứng: số nhân chi tiêu, kích
thích dây chuyền sẽ có những hiệu quả lớn hơn so với những nền kinh tế nhỏ xét
trên quy mô toàn bộ nền kinh tế. Chính vì vậy, khi xem xét có nên kích cầu nền
kinh tế ở mức độ nào thì chúng ta cần căn cứ trên quy mô phát triển của nền kinh tế.
tư.
- Thứ hai, về trình độ dân trí của đại đa số người dân. Đây là yếu tố quyết
định cho việc triển khai các biện pháp của chính phủ có được nhanh chóng hay
không. Với những nước có trình độ dân trí cao thì việc xây dựng và triển khai chính
sách nói chung là khá nhanh chóng và thuận lợi. Vì thế cho nên mà nhân tố dân trí
có ảnh hưởng nhiều tới việc triển khai chính sách. Tuy nhiên nhân tố này có tốt hay
không là do quá trình lâu dài chứ không phải là có thể có ngay được.
- Thứ ba, tình hình chính trị xã hội của địa phương, của quốc gia. Việc duy
trì một chế độ chính trị với tình hình chính trị ổn định là nhân tố giúp cho việc thực
hiện chính sách được thông suốt và liên tục. Hiện tại với tình hình chính trị của Việt
Hoàng Hải Nam Lớp: KTĐT 47D
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nam được đánh giá là ổn định, không có biến động; đây chính là nhân tố quan trọng
cho việc thực hiện các chiến lược của quốc gia được thành công.
Ngoài ra còn có những nhân tố khác như: phong tục tập quán vùng miền, yếu
tố về lịch sử… cũng có những ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả của các chính sách
nói chung, chính sách kích cầu nói riêng. Chính vì vậy mà việc kết hợp các biện
pháp thực hiện phù hợp với điều kiện chính trị, xã hội là một trong những yếu tố
quyết định cho việc thực hiện có thành công chính sách đã đề ra hay không.
2.3. Hệ thống pháp luật và hiệu quả của quản lý nhà nước về đầu tư
Việc nêu lên yếu tố này trong đánh giá nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư là vì
trong điều kiện của nền kinh tế hiện nay thì việc điều tiết nền kinh tế có sự kết hợp
giữa những quy luật vốn có của nền kinh tế đồng thời với đó là sự điều tiết của
chính phủ. Vì thế cho nên việc đảm bảo cho hiệu quả của kích cầu về đầu tư được
cao thì một trong những nguyên nhân chủ yếu mang lại chính là hệ thống pháp luật
của nhà nước được phù hợp và bộ máy quản lý nhà nước trong lĩnh vực này cần
được kiện toàn về năng lực quản lý điều hành. Vì vậy để tạo những điều kiện tốt
nhất cho quá trình kích cầu đầu tư nói riêng và kích cầu kinh tế nói chung thì các
nhà quản lý cần lưu ý những vấn đế chủ yếu say:
những chính sách ưu đãi đã được chính phủ áp dụng như miễn thuế TNDN, hỗ trợ
các điều kiện về cơ sở hạ tầng… còn về phía mỗi địa phương đều có xây dựng
những chính sách ưu đãi riêng phù hợp với tình hình thực tế của địa phương nhằm
thu hút đầu tư kích thích kinh tế phát triển
2.4. Tình hình kinh tế quốc tế và trong nước
Với những diễn biến của kinh tế toàn cầu trong những năm gần đây và những
ảnh hưởng của nó tới nền kinh tế trong nước nói chung và thu hút đầu tư nói riêng.
Hiện nay với xu thế hội nhâp kinh tế toàn cầu thì thực sự nền kinh tế Việt Nam đã
và đang trở thành một phần của nền kinh tế toàn cầu. Với thực tế của nền kinh tế
nước ta đang là một trong những nước có kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng ở
mức cao trên thế giới và thêm vào đó hiện nay khu vực kinh tế có vốn nước ngoài
chiếm tỷ trọng không nhỏ trong đóng góp cho tăng trưởng kinh tế nước ta. Vì thế cho
nên những ảnh hưởng của nền kinh tế thế giới tới kinh tế Việt Nam là không nhỏ.
Hoàng Hải Nam Lớp: KTĐT 47D
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Trước hết, xem xét với nền kinh tế nước ta hiện nay đã và đang có một sự
đóng góp không nhỏ của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài vào tăng trưởng
chung của nền kinh tế. Chính vì thế cho nên nếu có những biến động dẫn đến việc
rút vốn đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài sẽ gây những ảnh hưởng không nhỏ
tới kinh tế nước ta. Vì vậy một trong những yêu cầu đặt ra là cần xây dựng nền kinh
tế tự chủ và chúng ta đã phần nào làm được việc này, cụ thể là hiện nay Nhà Nước
ta đã xây dựng được một số tập đoàn, tổ chức kinh tế thuộc những thành phần kinh
tế khác nhau và những tập đoàn, tổ chức kinh tế này đang nắm giữ những ngành
kinh tế trọng yếu quốc gia và có thể duy trì sự ổn định của những ngành kinh tế này,
từ đó tạo sự ổn định chung cho nền kinh tế trước những biến động bất lợi.
- Tiếp nữa, xét trong hoàn cảnh kinh tế nước ta hiện nay đang có kim ngạch
xuất khẩu một số mặt hàng về nông sản, công nghiệp nhẹ và công nghiệp chế
biến… cao so với các nước trên thế giới. Hiện nay thị trường chủ yếu của chúng ta
đang là thị trường Hoa Kỳ, Tây Âu… chính vì thế cho nên nếu có những biến động