Tổng hợp đề thi tuyển sinh lớp 10 môn văn các tỉnh năm 2015 - 2016(có đáp án) - Pdf 28

SỞ GIÁO DỤC- ĐÀO TẠO KỲ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 THPT
BÌNH ĐỊNH NĂM HỌC: 2015 – 2016
Đề chính thức:
Môn thi : NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 120 phút( Không kể thời gian phát đề)
Ngày thi : 18/6/2015

Câu 1 : (4,0 điểm)
Đọc đoạn văn sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
“Bên kia những hàng cây bằng lăng, tiết trời đầu thu đem đến cho con sông Hồng
một màu đỏ nhạt, mặt sông như rộng thêm ra.Vòm trời cũng như cao.Những tia nắng sớm
đang từ từ di chuyển từ mặt nước lên những khoảng bờ bãi bên kia sông, và cả một vùng
phù sa lâu đời của bãi bồi ở bên kia sông Hồng lúc này đang phô ra trước khuôn cửa sổ
của gian gác nhà Nhĩ một thứ màu vàng thau xen với màu xanh non - những màu sắc thân
thuộc quá như da thịt, hơi thở của đất màu mỡ.Suốt đời Nhĩ đã từng đi tới không xót một
só xỉnh nào trên trái đất dây là một chân trời gần gũi, mà lại xa lắc vì chưa hề bao giờ đi
đến - cái bờ bên kia sông Hồng ngay trước cửa nhà mình".
(Bến quê – Nguyễn Minh Châu)
1. Xác định chủ ngữ chính trong câu “Bên kia những hàng cây bằng lăng, tiết trời đầu
thu đem đến cho con song Hồng một màu đỏ nhạt, mặt sông như rộng thêm ra.”
2. Chỉ ra các thành phần phụ chú trong đoạn văn.
3.Xác định biện pháp tu từ chủ yếu được sử dụng trong đoạn văn.Nêu giá trị biểu
cảm của các biện pháp tu từ đó.
4. Hãy nêu điều nghịch lý mà tác giả đã thể hiện trong đoạn văn.
Câu 2: ( 6.0 điểm)
Cảm nhận của em về đoạn thơ sau:
Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về.
Vẫn còn bao nhiêu nắng

người ta không thể có không phải điều gì to tát, lớn lao mà lại là những điều hết sức nhỏ
bé, thường tình. Người ta vươn tới chính những giá trị bình dị. Mảnh đất mơ ước ở ngay
bến sông quê đây thôi.
Caâu 2: ( 6.0 ñieåm)
Cuối hạ, thu đến mang theo những cảm xúc bất chợt để lại trong lòng ai những bồi
hồi, xao xuyến về một mùa thu nồng nàn, êm ái. Ngày hạ qua đi để nhường chỗ cho nàng
thu dịu dàng bước tới, sự chuyển mình giữa hai mùa thật nhẹ nhàng và ngập ngừng như
lưu luyến, vấn vương một cái gì đó của thời đã qua. Khoảnh khắc ấy thật đẹp, nhưng
không phải ai cũng dễ dàng nhận thấy. Riêng nhà thơ Hữu Thỉnh thì khác, ông đã có một
cái nhìn thật tinh tường, một cảm nhận thật sắc nét và một cách sống hòa hợp với thiên
nhiên nên mới có thể vẽ lại bức tranh in dấu sự chuyển mình của đất trời qua bài thơ
“Sang Thu” – linh hồn của cả bài thơ chỉ vẻn vẹn trong hai từ thế thôi, song ý nghĩa sâu
sắc chất chứa trong hai từ ngắn ngủi ấy lại không hề ít. Và có lẽ những ý nghĩa đó, lại tập
trung nhiều hơn vào khổ thơ đầu và khổ cuối bài:
Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về.
Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi.
Khổ thơ mở đầu có cái hương vị ấm nồng của chớm thu ở một miền quê nhỏ. Tín
hiệu đầu tiên để tác giả nhận ra là hương vị ổi phả trong gió. Mùi hương quê nhà mộc
mạc được gió đưa trong không gian cứ lan tỏa, thoang thoảng bay. Cảm giác bất chợt đến
với nhà thơ: “bỗng nhận ra". Một sự bất ngờ mà như đã đợi sẵn, đợi từ lâu rồi, để giờ đây
có dịp là buông ra ngay. Trong số chúng ta chắc chắn không ai chưa một lần nếm vị ổi:
giòn ngọt, chua chua nơi đầu lưỡi. Cái dư vị của hương thơm đó cứ vương vấn lại trong
ta khi chợt đọc câu thơ của Hữu Thỉnh. Có hương ổi. Và gió. Và sương. Những hạt sương
thu mềm mại, ươn ướt giăng màn qua ngõ. Mùa thu lại về. Mùa thu mang theo hương quê

cuối thêm nhiều ý nghĩa sâu sắc, in dấu trong lòng người đọc một ấn tượng khó phai mờ
về một mùa thu tha thiết, nồng hậu và cả mùa hạ sôi động của dĩ vãng nữa. Cũng chính vì
lẽ đó, mà ta cảm thấy yêu thiên nhiên hơn, yếu cái giao mùa và sự chuyển biến của đất
trời trên quê hương mình, cũng như yêu vòng tuần hoàn máu chạy khắp cơ thể qua chính
con tim này
Bằng những từ ngữ giàu hình ảnh, gợi cảm, khơi gợi trong lòng người đọc nhiều
nét đẹp về cảnh, về tình. Sang thu đã gợi cho ta nhiều suy nghĩ về tình yêu quê hương ,
đất nước, con người.
(Bài văn mang tính tham khảo, không phải đáp án chính thức – Blog NNCTT)
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
NAM ĐỊNH
ĐỀ THI TUYỂN SINH LỚP 10 THPT NĂM HỌC 2015-2016
Môn: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 120 phút
(Đề thi này có 02 trang)
Phần I: Tiếng Việt (2,0 điểm)
Trong 8 câu hỏi sau, mỗi câu có 4 phương án trả lời A, B, C, D; trong đó chỉ có một
phương án đúng. Hãy chọn phương án đúng viết vào tờ giấy làm bài.
Câu 1: Từ nào dưới đây là từ ghép?
A. Lành lạnh C. Lấp lánh
B. Cỏ cây D. Xôm xốp
Câu 2: Trong câu thơ “Vầng trăng đi qua ngõ.”, tác giả Nguyễn Duy sử dụng biện pháp tu từ:
A. so sánh. C. ẩn dụ.
B. hoán dụ. D. nhân hóa.
Câu 3: Câu văn “Không ai nói với ai, nhưng nhìn nhau, chúng tôi đọc thấy trong mắt nhau điều
đó.” (Lê Minh Khuê) có mấy cụm động từ?
ĐỀ CHÍNH THỨC
A. Hai C. Bốn
B. Ba D. Năm
Câu 4: Câu “Vâng, cháu cũng nghĩ như cụ.” có sử dụng:

Và trả lời các câu hỏi dưới đây:
Câu 1: Đoạn văn trích trong văn bản nào? Của ai? (1,0 điểm)
Câu 2: Phương thức biểu đạt chủ yếu của đoạn văn là gì? Xác định nội dung chính của đoạn
văn? (1,0 điểm)
Câu 3: Trình bày suy nghĩ của em về tác dụng của việc đọc sách. (1,0 điểm)
Phần III: Tập làm văn (5,0 điểm)
Về Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ, có ý kiến cho rằng: Tác phẩm
không chỉ phản ánh số phận oan nghiệt của người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến
mà còn khẳng định vẻ đẹp truyền thống đáng quý của họ.
Theo em, ý kiến trên thể hiện như thế nào qua nhân vật Vũ Nương?
______________HẾT______________
Họ và tên thí sinh ……………………………. Giám thị số 1 ………………………
Số báo danh ………………. ……………. Giám thị số 2 ……………………
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
NAM ĐỊNH
ĐÁP ÁN VÀ HƯỚNG DẪN CHẤM THI
ĐỀ THI TUYỂN SINH LỚP 10 THPT NĂM HỌC 2015-2016
Môn: NGỮ VĂN
Toàn bài 10,0 điểm, phân chia cụ thể như sau:
Phần I: Trắc nghiệm khách quan (2,0 điểm)
Mỗi câu trả lời đúng được 0,25 điểm:
Câu 1 2 3 4 5 6 7 8
Đáp án B D B A C B B C
Phần II: Đọc-hiểu văn bản (3,0 điểm)
Câu 1: Đoạn văn trích trong văn bản nào? Của ai? (1,0 điểm)
- Đoạn văn được trích trong văn bản Bàn về đọc sách (0,5 điểm)
- Tác giả: Chu Quang Tiềm (0,5 điểm)
Câu 2: Phương thức biểu đạt chủ yếu của đoạn văn là gì? Xác định nội dung chính của
đoạn văn? (1,0 điểm)
- Phương thức biểu đạt chủ yếu của đoạn văn trên là nghị luận. (0,5 điểm)

phong kiến mà còn khẳng định vẻ đẹp truyền thống của họ. Chính điều này đã góp phần
tạo nên sức sống muôn đời của áng danh văn.
- Nội dung trên đã được thể hiện tập trung qua hình tượng nhân vật Vũ Nương.
3. Phân tích làm sáng tỏ ý kiến (3,5 điểm)
a. Qua nhân vật Vũ Nương, tác phẩm phản ánh số phận oan nghiệt của người phụ
nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến.
- Là nạn nhân của chiến tranh phong kiến: phải sống cảnh cô phụ chờ chồng, một
mình gánh vác gia đình;
- Là nạn nhân của chế độ nam quyền độc đoán nên phải chịu nỗi oan khuất, cuối
cùng phải chết bi thảm.
b. Nhưng không chỉ phản ánh số phận oan nghiệt của người phụ nữ, qua nhân vật
Vũ Nương, tác phẩm còn khẳng định vẻ đẹp truyền thống đáng quý của họ.
- Hiếu thảo với mẹ chồng: chăm sóc khi ốm đau, lo ma chay, tế lễ khi mẹ qua
đời ;
- Thương con: dỗ dành, an ủi ;
- Rất mực yêu thương, thuỷ chung với chồng: giữ gìn khuôn phép không để xảy ra
cảnh vợ chồng phải thất hoà; khi chồng đi lính, nàng an ủi, hứa hẹn: Chàng đi chuyến
này cũng không sợ có cánh hồng bay bổng, nhớ thương mòn mỏi; bị chồng nghi oan,
nàng tìm mọi cách phân trần để chồng hiểu rõ lòng mình, tìm đến cái chết để chứng minh
tấm lòng trinh bạch ;
- Vẻ đẹp của Vũ Nương còn tiếp tục toả rạng ngay cả khi nàng đã ở một thế giới
khác: vẫn thương nhớ chồng con, lo lắng cho phần mộ tổ tiên; khát khao được minh oan:
“Có lẽ không thể tìm về có ngày”.
Cách cho điểm:
+ Từ 2,75 điểm đến 3,5 điểm: Hiểu ý kiến, biết cách phân tích để làm sáng tỏ. Hệ
thống ý rõ ràng, mạch lạc, sâu sắc.
+ Từ 2,0 điểm đến 2,5 điểm: Hiểu ý kiến, biết cách phân tích song hệ thống ý chưa
thật rõ ràng, chưa thật sâu sắc.
+ Từ 1,25 điểm 1,75 điểm: Chưa bám vào ý kiến, chỉ dừng lại ở việc phân tích
nhân vật.

về nhìn thấy người ta nữa. ( Chuyện người con gái Nam Xương - Nguyễn Dữ; Ngữ văn 9
- Tập 1)
c) Xác đinh biện pháp tu từ được tác giả sử dụng trong 2 câu thơ sau: ( 0,5 điểm)
Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi
Mặt trời của mẹ em nằm trên lưng.
( Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ - Nguyễn Khoa Điềm)
d) Phần in đậm trong câu văn dưới đây là thành phần gì ?( 0,5 điểm)
Tiếng kêu của nó như tiêng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, nghe
thật xót xa. (Chiếc lược ngà - Nguyễn Quang Sáng; Ngữ văn 9 - Tập 1 )
Câu 2: ( 3,0 điểm) Viết bài văn nghị luận ngắn ( có độ dài khoảng 30 dòng tờ giấy thi)
bàn về tính tự trọng.
Câu 3: (5,0 điểm) Phân tích hình ảnh người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn lịch
sử trong thời kì kháng chiến chống Mĩ qua bài thơ: Bài thơ về tiểu đội xe không kính
của Phạm Tiến Duật ( Ngữ văn 9 - Tập 1)
Hết
Họ và tên ……………………………… ……….……. Số báo danh ………
Giám thị 1 ……………………………………….… Giám thị 2 ………………
ĐỀ A
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
NGHỆ AN
ĐỀ CHÍNH THỨC
KỲ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 THPT
NĂM HỌC 2015 - 2016
Môn thi: NGỮ VĂN
Thời gian: 120 phút, không kể thời gian giao đề
Câu 1. (3,0 điểm)
Đọc kỹ đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi:
Chân phải bước tới cha
Chân trái bước tới mẹ
Một bước chạm tiếng nói

d.
- Biện pháp tu từ được sử dụng trong bốn câu thơ đầu:
+ Điệp từ "bước tới", điệp cấu trúc.
+ Liệt kê "chân phải", "chân trái", "một bước", "hai bước", "tiếng nói", "tiếng cười"
- Tác dụng: gợi không khí gia đình đầm ấm, hạnh phúc, đầy ắp niềm vui, đầy ắp tiếng nói cười.
Ở đó, trong từng bước đi chập chững của con đều có sự dìu dắt, nâng đỡ của cha mẹ. Ẩn chứa
trong đó là niềm hạnh phúc vô biên của cha mẹ.
Câu 2:
* Đây là kiểu bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí (Cụ thể là nghị luận về một vấn đề đặt ra
trong một tác phẩm văn học)
* Trong phần thân bài, các em cần phải đảm bảo được đầy đủ những ý sau:
1. Giải thích khái niệm "quê hương": có thể hiểu khái quát là nơi ta sinh ra, lớn lên, có gia đình,
kỉ niệm thời thơ ấu
2. Phân tích ngắn gọn nội dung của hai câu thơ: "Rừng cho hoa - Con đường cho những tấm
lòng":
- Câu thơ nằm trong phần nhà thơ viết về cội nguồn sinh dưỡng của mỗi con người - đó là gia
đình và quê hương.
- Quê hương với gia đình ấm áp yêu thương; với những con người tài hoa, có tâm hồn lãng mạn;
cũng là quê hương với thiên nhiên thơ mộng, nghĩa tình: "Rừng cho hoa - Con đường cho những
tấm lòng".
- Điệp từ "cho" mang nặng nghĩa tình. Quê hương đem đến cho con người những thứ cần để lớn,
dành tặng cho con người những gì đẹp đẽ nhất. Quê hương đã che chở, nuôi dưỡng con người cả
về tâm hồn và lối sống.
=> Bằng cách nhân hóa "rừng" và "con đường" qua điệp từ "cho", Y Phương đã cho người đọc
cảm nhận sâu sắc về nghĩa tình quê hương đối với mỗi con người. Quê hương là điều quí giá vô
ngần mà mỗi con người không thể thiếu trên bước đường lớn khôn, trưởng thành.
3. Suy nghĩ của bản thân về vai trò, ý nghĩa của quê hương đối với mỗi con người:
- Mỗi con người đều gắn bó với quê hương, mang bản sắc, truyền thống, phong tục tập quán tốt
đẹp của quê hương. Chính vì thế, tình cảm dành cho quê hương ở mỗi con người là tình cảm có
tính chất tự nhiên, sâu nặng.

- Chi tiết là một trong những yếu tố nhỏ nhất tạo nên tác phẩm. Để làm nên một chi tiết nhỏ có
giá trị đòi hỏi nhà văn phải có sự thăng hoa về cảm hứng và tài năng nghệ thuật.
- Nghệ thuật là một lĩnh vực đặc thù: Tầm vóc của người nghệ sỹ có thể được làm nên từ những
yếu tố nhỏ nhất. Nhà văn lớn có khả năng sáng tạo được những chi tiết nhỏ nhưng giàu giá trị
biểu đạt, góp phần đắc lực trong việc thể hiện chủ đề tư tưởng của tác phẩm, quan niệm nghệ
thuật của mình.
=> Đánh giá giá trị của chi tiết “vết thẹo” trong truyện ngắn Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang
Sáng.
2. Phân tích:
* Chi tiết “vết thẹo” xuất hiện 3 lần trong tác phẩm. Lần thứ nhất, phút đầu bé Thu gặp ba; lần
thứ hai, qua cuộc trò chuyện với bà ngoại; lần thứ ba, Thu nhận ra ba, hôn cùng khắp, hôn cả vết
thẹo.
* Chi tiết này góp phần tạo sự hoàn chỉnh, chặt chẽ cho cốt truyện. Vết thẹo trên mặt ông Sáu là
chi tiết nghệ thuật đặc sắc, nối kết các tình tiết trong truyện, tạo nên nghệ thuật thắt nút, mở nút
bất ngờ, hợp lý:
- Chỉ vì "vết thẹo" mà bé Thu không nhận ra ba, đối xử với ba một cách lạnh lùng, cự tuyệt.
- Khi được bà ngoại giải thích về "vết thẹo" trên gương mặt ba, mối nghi ngờ của bé Thu về ông
Sáu đã được giải tỏa, khiến bé Thu nhận ra ba.
- Khi nhận ra ba, tình cảm, thái độ của em đã thay đổi hoàn toàn. Thu nhận cha, yêu cha, yêu vết
thẹo, không muốn chia tay cha
=> Như vậy, chi tiết "vết thẹo" đã tạo nên kịch tính, tình huống truyện làm nên sức hấp dẫn, lôi
cuốn của tác phẩm.
* Chi tiết nghệ thuật "vết thẹo" góp phần quan trọng làm rõ vẻ đẹp của các nhân vật:
- Ông Sáu yêu nước, dũng cảm,dám chấp nhận hi sinh.
- Bé Thu có cá tính mạnh mẽ, có tình yêu thương cha sâu sắc, mãnh liệt.
* Chi tiết "vết thẹo" còn thể hiện chủ đề, nội dung tư tưởng của tác phẩm:
- Vết thẹo là chứng tích của chiến tranh, chiến tranh đã gây ra nỗi đau về thể xác và tinh thần
cho con người, đã chia cắt nhiều gia đình.
- Chứng tỏ chiến tranh có thể hủy diệt tất cả nhưng không thể hủy diệt được tình cảm con người:
cụ thể là tình cha con, tình phụ tử thiêng liêng, sâu nặng.

Thỉnh
SANG THU
Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về
Sông được lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu
Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi.
( Ngữ văn 9, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2012, trang 70)
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HẢI DƯƠNG

KÌ THI TUYỂN SINH LỚP 10 THPT
NĂM HỌC 2015 - 2016
Môn thi: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian giao đề
(Đề thi gồm : 01 trang)
Câu 1 (2,0 điểm)
Nắng bây giờ bắt đầu len tới, đốt cháy rừng cây. Những cây thông chỉ cao quá
đầu, rung tít trong nắng những ngón tay bằng bạc dưới cái nhìn bao che của những cây
tử kinh thỉnh thoảng nhô cái đầu màu hoa cà lên trên màu xanh của rừng. Mây bị nắng
xua, cuộn tròn lại từng cục, lăn trên các vòm lá ướt sương, rơi xuống đường cái, luồn cả
vào gầm xe.
( Theo Ngữ văn 9, tập 1)

A. YÊU CẦU CHUNG
- Giám khảo phải nắm được nội dung trình bày trong bài làm của học sinh để đánh giá
được một cách khái quát, tránh đếm ý cho điểm. Vận dụng linh hoạt đáp án, nên sử dụng
nhiều mức điểm một cách hợp lí; khuyến khích những bài viết có cảm xúc và sáng tạo.
- Học sinh có thể làm bài theo nhiều cách riêng nhưng đáp ứng được các yêu cầu cơ
bản của đề, diễn đạt tốt vẫn cho đủ điểm.
Lưu ý: Điểm bài thi có thể lẻ đến 0,25 điểm và không làm tròn số.
B. YÊU CẦU CỤ THỂ
Câu 1 (2,0 điểm)
a. (0,5 điểm)
- Tác phẩm: “Lặng lẽ Sa Pa” (0,25 điểm)
- Tác giả: Nguyễn Thành Long ( 0,25 điểm)
b.( 0,5 điểm)
Đoạn văn được kể theo ngôi thứ ba.
c.(1,0 điểm)
- Biện pháp tu từ:
+ Nhân hóa (0,25 điểm)
+ Ẩn dụ (0,25 điểm)
-Tác dụng:
+ Làm nổi bật vẻ đẹp thiên nhiên Sa Pa lặng lẽ, thơ mộng và tràn đầy sức sống.
(0,25 điểm)
+ Tạo nên một đoạn văn đậm chất họa và chất thơ, góp phần làm nổi bật chủ đề
của câu chuyện. (0,25 điểm).
Câu 2 (3,0 điểm)
a.Yêu cầu về kĩ năng:
- Biết cách làm kiểu bài nghị luận xã hội.
- Luận điểm đúng đắn, sáng tỏ, lí lẽ thuyết phục.
- Diễn đạt trôi chảy, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.
b. Yêu cầu về kiến thức:
Bài viết có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần tập trung làm rõ các ý

- Trong cuộc sống, cần phê phán những kẻ giả dối, lừa thày phản bạn;
hoặc lợi dụng tình bạn để thực hiện những toan tính tầm thường…
0,25
- Tình bạn đẹp phải được kiểm nghiệm qua thời gian, qua những biến cố
của cuộc sống. Mỗi người nên ý thức về việc xây dựng, vun đắp cho
mình một tình bạn chân chính.
0,25
- Cần biết phân biệt bạn tốt, bạn xấu; Nên biết chọn bạn mà chơi. 0,25
4. Liên hệ bản thân 0,5
- Nhận thức được tầm quan trọng của tình bạn 0,25
- Khẳng định sự cần thiết của việc xây dựng tình bạn chân chính 0,25
Câu 3 (5,0 điểm)
a.Yêu cầu về kĩ năng:
- Làm đúng kiểu bài nghị luận văn học.
- Bố cục ba phần rõ ràng, lập luận chặt chẽ, dẫn chứng phù hợp; văn viết trong sáng,
có cảm xúc, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.
b. Yêu cầu về kiến thức:
Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần đảm bảo các ý cơ bản
sau:
Nội dung Điểm
tối đa
1. Giới thiệu khái quát 1,0
- Giới thiệu tên bài thơ, đoạn thơ, tác giả 0,5
- Khái quát được giá trị đoạn thơ: Đoạn thơ thể hiện niềm xúc động
nghẹn ngào khi gặp Bác, tâm trạng lưu luyến khi phải rời xa lăng Bác-
rời xa Bác
0,5
2. Phân tích hai khổ thơ 3,0
-Khái quát ngắn gọn cảm xúc của tác giả khi đến thăm lăng Bác 0,25
- Khổ thơ đầu thể hiện niềm xúc động nghẹn ngào, trào dâng khi tác giả

Môn: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 120 phút
(không kể thời gian giao đề)
Phần I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi:
…Ngửa mặt lên nhìn mặt
có cái gì rưng rưng
như là đồng là bể
như là sông là rừng
Trăng cứ tròn vành vạnh
kể chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình.
(Trích Ánh trăng - Nguyễn Duy, Ngữ văn 9 Tập một,
NXB Giáo dục Việt Nam, 2011)
Câu 1. (1,0 điểm) Hãy liệt kê 02 từ láy trong đoạn thơ trên.
Câu 2. (1,0 điểm) Nêu tác dụng của biện pháp so sánh trong đoạn thơ.
Câu 3. (0,5 điểm) Từ “tròn” trong câu thơ “Trăng cứ tròn vành vạnh” có ý nghĩa gì?
Câu 4. (0,5 điểm) Hai câu thơ “ánh trăng im phăng phắc - đủ cho ta giật mình” gợi cho
em bài học gì về cách ứng xử của mỗi người trong cuộc sống? (viết khoảng 03
câu)
Phần II. LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1. (3,0 điểm)
Cuộc sống sẽ ra sao nếu thiếu đi những nụ cười ?
Hãy bày tỏ suy nghĩ của em về vấn đề trên bằng một bài văn nghị luận (khoảng
300 chữ).
Câu 2. (4,0 điểm)
Cảm nhận về những yếu tố kì ảo trong Chuyện người con gái Nam Xương (trích
Truyền kì mạn lục - Nguyễn Dữ).
HẾT

+ Trong cuộc sống có rất nhiều nụ cười: có nụ cười thể hiện niềm vui, niềm hạnh phúc;
có nụ cười cổ vũ, động viên, khích lệ; có nụ cười hài hước, phê phán nhẹ nhàng
+ Nếu thiếu đi những nụ cười đời sống tâm hồn sẽ nghèo nàn, buồn tẻ; thiếu sự thân
thiện trong giao tiếp; đánh mất niềm lạc quan, hy vọng…
+ Nụ cười không đúng lúc đúng chỗ có thể gây ra những phiền toái, làm mất thiện cảm,
thậm chí gây hiềm khích…
- Rút ra bài học cho bản thân. (0,25 điểm)
b) Hình thức trình bày (0,75 điểm)
- Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận gồm 3 phần Mở bài, Thân bài, Kết bài (0,25 điểm)
- Lập luận chặt chẽ, mạch lạc (0,25 điểm)
- Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu (0,25 điểm)
c) Sáng tạo (0,5 điểm)
- Thể hiện được quan điểm và thái độ riêng, sâu sắc nhưng không trái với chuẩn mực
đạo đức và pháp luật (0,25 điểm)
- Có nhiều cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo (viết câu, sử dụng từ ngữ, hình ảnh và các
yếu tố biểu cảm…) (0,25 điểm)
Câu 2 (4,0 điểm).
* Yêu cầu chung: Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng về dạng bài nghị luận văn
học để tạo lập văn bản. Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; thể hiện
khả năng cảm thụ văn học tốt; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; không mắc lỗi chính
tả, từ ngữ, ngữ pháp.
* Yêu cầu cụ thể:
a) Nội dung trình bày (2,5 điểm)
- Giới thiệu về tác giả, tác phẩm và vấn đề cần nghị luận (0,5 điểm)
- Cảm nhận về những yếu tố kì ảo (2,0 điểm)
+ Những yếu tố kì ảo trong tác phẩm: Phan Lang nằm mộng, xuống thuỷ cung, tình cờ gặp
lại và trò chuyện với Vũ Nương; khi Trương Sinh lập đàn giải oan ở bến Hoàng Giang, hình ảnh
Vũ Nương hiện ra lung linh, huyền ảo rồi bóng nàng loang loáng mờ nhạt dần mà biến đi mất
+ Ý nghĩa của những yếu tố kì ảo: Làm hoàn chỉnh thêm những nét đẹp vốn có của
nhân vật Vũ Nương; tạo nên một kết thúc phần nào có hậu cho tác phẩm; khẳng định niềm

vẫn dâng trào một cảm xúc mãnh liệt. Đó là niềm tự hào và tình yêu quê hương, đất
nước. Xem xong trận bóng đá, con tôi lại hỏi “Khi nào Việt Nam đá nữa vậy ba? Để con
cùng ba mẹ hát quốc ca”.
(Theo Lê Văn Thu, Quốc ca Việt Nam, báo Thanh Niên số ngày 08/06/2015)
a. Xác định một phép liên kết trong đoạn (2). (0,5 điểm)
b. Tác giả đã có những cảm xúc gì khi hát quốc ca Việt Nam? (0,5 điểm)
c. Cho biết ý nghĩa của việc cả gia đình tác giả cùng hát theo khi quốc ca Việt
Nam vang lên. (1 điểm)
d. Em có nhận xét gì về thực trạng hát quốc ca của các bạn học sinh trong nhà
trường hiện nay? (1 điểm)
Câu 2: (3 điểm)
Có những bạn trẻ chỉ biết mải mê dán hình thần tượng khắp nơi; chỉ biết đắm
chìm trong sở thích của riêng mình;…
Họ đâu thấy rằng bên cạnh họ có những người đang vì họ mà vất vả, lo toan; có
những người đã dành cho họ bao nhiêu yêu thương, trìu mến;…
Những bạn trẻ ấy đâu biết rằng họ đang sống vô cảm ngay trong chính gia đình
mình.
Viết bài văn ngắn (khoảng 01 trang giấy thi) trình bày suy nghĩ của em về vấn đề trên.
Câu 3: (5 điểm)
Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về
Sông được lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã
Có đám may mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu
(Trích Sang thu, Hữu Thỉnh)
Cảm nhận của em về bức tranh thiên nhiên trong hai khổ thơ trên. Từ đó hãy liên
hệ với một khổ thơ hoặc đoạn thơ khác về đề tài thiên nhiên mã em biết để thấy được

*Yêu cầu cụ thể:
a- Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận.
b- Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: hiện nay có những bạn trẻ sống vô cảm
ngay trong chính gia đình mình. Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách nhưng cần theo
định hướng sau:
• Mở bài:
Khi đến trường, học sinh được giáo dục để biết yêu gia đình và Tổ Quốc. Chính tình yêu gia đình
và những điều gần gũi đã làm nên nền tảng của một con người đức hạnh và có ích cho xã hội. Nhưng có
rất nhiều bạn trẻ chỉ biết mải mê với thần tượng và sở thích của riêng mình mà đã vô cảm với những
người thân yêu nhất. Chính vì vậy mà có người đã đặt vấn đề: “Có những bạn trẻ … vô cảm ngay trong
chính gia đình mình”.
• Thân bài:
- Giải thích: Thế nào là thần tượng? Thế nào là sở thích riêng của mỗi người? Thế nào là sự vô
cảm?
+ Thần tượng giúp người ta biết sống có đam mê, có mục đích và lý tưởng; nhưng mải mê với
thần tượng một cách quá lố mà quên đi những tình cảm gần gũi và rất thật bên cạnh mình là một hành
động đáng phê phán và còn là sự suy đồi về đạo đức.
+ Phê phán những bạn trẻ chỉ biết đắm chìm trong sở thích của riêng mình mà quên đi những
trách nhiệm cụ thể đối với những người đang vất vả và lo toan cho chính họ. Cụ thể như những tấm
gương hy sinh đẹp đẽ, tấm lòng của những người cha, người mẹ dành cho con. Họ sẵn sàng chịu đựng
khổ sở đến cùng cực để con được cắp sách đến trường. (Dẫn chứng cụ thể : câu chuyện về sự hy sinh,
tình yêu thương, sự lo lắng của cha mẹ và những người thân trong gia đình để nuôi dưỡng và chăm sóc
con em đòi hỏi lớp trẻ phải nhìn lại bản thân. Bởi họ đã thờ ơ trước công ơn ba mẹ nuôi dưỡng và tạo
điều kiện để họ được đến trường. Cùng với những câu chuyện trong sách vở và trên báo chí đã tạo
những ấn tượng sâu sắc trong cuộc đời học sinh, thanh niên như hành trang quý giá giúp giới trẻ biết
trân trọng và yêu thương những điều “bình dị - cao cả”).
- Phân tích, chứng minh:
+ Hiện tượng đã nêu trên là khá phổ biến trong những gia đình Việt Nam. Các bạn trẻ (nói
chung) và học sinh (nói riêng) phải ý thức được trách nhiệm đối với những người đang vì họ mà vất vả
lo toan.

Trích đoạn Tạo một tiền đề để làm nổi bật hình ảnh người ngư dân trong hai câu cuối của khổ thơ: Mặt trời khuất dần trên mặt biển như kết thúc một ngày lao động; trong khi đó, LÀM VĂN (7,0 điểm) Câu 1 (3,0 điểm)
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status