BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH TĂNG THỊ TUYẾT MAI
TỐT NGHĨA VÀ XẤU NGHĨA
TRONG TIẾNG VIỆT LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 602201
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS HOÀNG DŨNG Thành phố Hồ Chí Minh – 2010 LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TP. Hồ Chí Minh - 2010
Tăng Thị Tuyết Mai
BẢNG QUY ƢỚC TRÌNH BÀY
1. Quy ƣớc về tài liệu trích dẫn
Số thứ tự (tương ứng với số thứ tự ở phần Tài liệu tham khảo) và số
trang của tài liệu trích dẫn được đặt trong dấu ngoặc vuông [] và ngăn cách
nhau bằng dấu phẩy (,). Nếu đoạn trích dẫn gồm nhiều trang liên tục thì giữa
trang đầu và trang cuối có ghi thêm dấu gạch ngang (-), ví dụ [5,2-11]; nếu
đoạn trích dẫn gồm nhiều trang không liên tục thì giữa các trang này có chữ
1
MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
Khi nói về màu trắng của da người, trắng hồng, trắng tươi... được xem là
những từ biểu thị thái độ đánh giá tích cực trong khi trắng hếu, trắng bệch,
trắng nhởn... biểu thị điều ngược lại. Bằng chứng là trắng hồng, trắng tươi...
không thể dùng để chê và trắng hếu, trắng bệch... không thể dùng để khen làn
da của một người nào đó. Như vậy, rõ ràng trong tiếng Việt tồn tại những sự
biểu đạt tốt nghĩa (ameliorative) và xấu nghĩa (pejorative).
Tốt nghĩa và xấu nghĩa được giới ngôn ngữ học quan tâm dưới nhiều
phương diện, có thể là dưới quan điểm ngôn ngữ học lịch đại hay ngôn ngữ
học đồng đại, cũng có thể là dưới cái nhìn ngữ âm học, từ vựng học, ngữ pháp
học, hay ngữ dụng học.
Trong tiếng Việt, nghiên cứu hiện tượng tốt nghĩa và xấu nghĩa hứa hẹn
nhiều điều thú vị, đặc biệt là trong sự thể hiện của các danh từ đơn vị (DTĐV)
và các vị từ trạng thái (VTTT) bởi vì theo đánh giá của chúng tôi, so với các
loại đơn vị từ vựng khác, hai loại đơn vị này có sự biểu hiện phức tạp hơn cả
về sắc thái ngữ nghĩa (STNN) theo từng loạt ngữ cảnh mà chúng xuất hiện.
Trong giới hạn của luận văn, chúng tôi sẽ đề cập đến tốt nghĩa và xấu
nghĩa ở hai loại đơn vị từ vựng đã nêu dưới quan điểm ngôn ngữ học đồng
đại, dưới góc độ ngữ nghĩa học từ vựng để có thể có một hình dung tương đối
khái quát về STNN của các đơn vị từ vựng này trong tiếng Việt.
1.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tốt nghĩa và xấu nghĩa là những khái niệm không xa lạ trong giới ngôn
ngữ học. Chúng thường được chú ý dưới dạng danh từ: sự biến đổi tốt nghĩa
(amelioration) và sự biến đổi xấu nghĩa (pejoration).
2
libraco (cuốn sách cũ mục nát), pajarraco (con chim xấu xí)… hay hậu tố -
ajo trong từ cintajo (dải ruy băng loè loẹt), trapajo (giẻ rách)… John J.
Kinder và Vincenzo M. Savini trong Using Italian: A Guide to Contemporary
Usage cũng đã đề cập đến những hậu tố xấu nghĩa tiếng Italia. Chẳng hạn như
hậu tố -accio (hay -azzo) trong những từ libraccio (cuốn sách dở tệ),
ragazzaccio (cậu bé thô lỗ), coltellaccio (con dao lớn nguy hiểm)…
Nhìn chung, khi bàn về tốt nghĩa và xấu nghĩa, các tác giả chủ yếu xem
xét chúng như một phần của quá trình chuyển nghĩa dưới quan điểm của ngôn
ngữ học lịch đại.
Trong tiếng Việt, hầu như chưa có công trình nào tập trung bàn về vấn
đề này. Đáng kể nhất là các công trình của Nguyễn Ngọc Trâm [65], Chu
Bích Thu [11] và Nguyễn Thị Bảo [74].
Khi đi sâu tìm hiểu bản chất ngữ nghĩa của nhóm từ biểu thị tâm lí - tình
cảm trong tiếng Việt, Nguyễn Ngọc Trâm đã đề cập đến tính chất tích
cực/tiêu cực của chúng. Luận án mô tả cấu trúc ngữ nghĩa điển hình của 19
nhóm vị từ tâm lí - tình cảm cơ bản của tiếng Việt (vui - buồn, tự hào - xấu
hổ, thoả mãn, chán, giận, tiếc, thương, thích…). Chẳng hạn, nhóm vị từ vui -
buồn được tác giả mô tả như sau:
Trạng thái tâm lí - tình cảm tích cực/tiêu cực
Cho rằng sự việc xảy ra phù hợp/không phù hợp với yêu cầu,
nguyện vọng của mình.
Có thể nói, công trình của Nguyễn Ngọc Trâm khai thác một cách hiệu
quả bản chất ngữ nghĩa - ngữ pháp của nhóm vị từ tâm lí - tình cảm tiếng
Việt, trong đó có chú ý đến thành phần đánh giá, một trong những thành phần
ngữ nghĩa quan trọng của loại đơn vị này.
Cũng như Nguyễn Ngọc Trâm, Chu Bích Thu đặc biệt chú ý khai thác
thành phần đánh giá khi nghiên cứu ngữ nghĩa của tính từ tiếng Việt hiện đại.
4
Tác giả chỉ ra hai bộ phận trong cấu trúc ngữ nghĩa của tính từ tiếng Việt: bộ
thiên về nghĩa tiêu cực, chẳng hạn như “bò”, “cáo”, “lợn”, “chó”, “vịt”,
“chuột”, “ếch”, “mèo”, “ốc”, “rắn”, “ruồi”… Số lượng từ ngữ thiên về nghĩa
tích cực rất ít: “ngựa”, “phượng”, “rồng”… Nghĩa tích cực, tiêu cực hay trung
hoà của các đơn vị này do văn hoá của mỗi dân tộc quy định.
Nhìn chung, mặc dù đã chú ý đến hiện tượng tốt nghĩa và xấu nghĩa
trong tiếng Việt như một thành phần quan trọng trong ngữ nghĩa của từ nhưng
các tác giả chỉ gói gọn vấn đề trong một phạm vi hẹp, chẳng hạn như trong
một nhóm từ mà thôi.
1.3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Do khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, chúng tôi tạm chưa khảo sát
hiện tượng tốt nghĩa và xấu nghĩa trong tiếng Việt ở góc độ ngữ dụng học mà
chỉ xem xét ở góc độ ngữ nghĩa học từ vựng, trên quan điểm ngôn ngữ học
đồng đại, trong đó chú ý đến sự kết hợp của từ trong ngữ cảnh.
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu STNN trong hai bộ phận từ loại cơ bản của tiếng
Việt: DTĐV và VTTT.
1.4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong luận văn của mình, người viết sử dụng các phương pháp nghiên
cứu sau:
1.4.1. Phương pháp phân tích phân bố
Đây là phương pháp vô cùng quan trọng trong việc xác định STNN của
các đơn vị từ vựng tiếng Việt. Thông qua các kết hợp của từ trong các loạt
6
ngữ cảnh khác nhau, chúng ta có thể nhận ra STNN chứa đựng trong từ cũng
như những biến đổi ngữ nghĩa (nếu có) qua các loạt ngữ cảnh nhất định.
Từ những tiền đề lý thuyết về ngữ cảnh, chúng tôi khái quát một phương
pháp phân tích STNN dựa trên ngữ cảnh nhằm xác lập STNN của các đơn vị
từ vựng tiếng Việt. Theo đó, phân loại và miêu tả STNN của hai bộ phận
DTĐV và VTTT tiếng Việt dựa theo phương pháp này là đóng góp chủ yếu
của luận văn.
1.6.2. Về mặt thực tiễn
Luận văn nghiên cứu hiện tượng tốt nghĩa và xấu nghĩa trong hai loại
đơn vị từ vựng tiếng Việt (DTĐV và VTTT) trên phương diện đồng đại, dưới
góc độ ngữ nghĩa học từ vựng, từ đó hình thành cái nhìn bao quát về STNN
của các đơn vị từ vựng này, giúp người bản ngữ hiểu rõ hơn ngôn ngữ mẹ đẻ
của mình đồng thời góp phần giúp học viên nước ngoài có thể dễ dàng hơn
khi sử dụng các đơn vị từ vựng vốn được xem là tinh tế và khó phân biệt
trong quá trình học tiếng Việt.
1.7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn được chia làm ba chương.
Chƣơng một đề cập đến những vấn đề lý thuyết cơ bản như các thành phần
nghĩa, các phương pháp phân tích ngữ nghĩa, STNN của các đơn vị từ vựng,
từ đó đúc kết nên phương pháp nhận diện STNN trong các đơn vị từ vựng
tiếng Việt của luận văn. Dựa trên phương pháp nhận diện này, chƣơng hai
xác lập và miêu tả STNN của hai tiểu loại DTĐV tiếng Việt (DTĐVKCL và
DTĐVCL). Tương tự, chƣơng ba phân loại các VTTT tiếng Việt dựa trên
STNN của chúng kèm theo những miêu tả cụ thể. Bên cạnh đó, chương này
8
còn đề cập đến các vấn đề: 1. STNN của những từ láy xuất phát từ VTTT và
vai trò của các yếu tố cộng thêm vào VTTT trong những kết hợp này. 2. Mối
quan hệ giữa ngữ âm và STNN của những từ chỉ mức độ cao theo sau các
VTTT. 3. STNN của những kết hợp giữa một VTTT và một vị từ chỉ hướng
biểu thị một quá trình.
thường hay nhắc đến một loại nghĩa được xem là loại nghĩa thêm vào - nghĩa
liên tưởng (connotation).
1.1.1.1. Nghĩa miêu tả và sự quy chiếu
Nhiều người cho rằng nghĩa miêu tả chỉ tồn tại đối với những thực từ.
Đó là quan niệm hoàn toàn sai lầm. Nếu nghĩa miêu tả của một thực từ
(content word) là “một khái niệm dành cho các vật quy chiếu tiềm năng của
nó”
1
thì những từ chức năng như giới từ, liên từ… hay những hình thức ngữ
pháp (đối với những ngôn ngữ biến hình) vẫn có nghĩa miêu tả, và ở đây,
nghĩa miêu tả chính là “đóng góp của chúng vào nghĩa miêu tả của câu”
2
.
Chẳng hạn, nghĩa miêu tả của từ mèo là một khái niệm dành cho tất cả
các con mèo, những con thú nhỏ cùng họ với hổ báo thường được nuôi trong
nhà để bắt chuột. Trong khi đó, nghĩa miêu tả của từ sẽ là một khái niệm
“biểu thị sự việc, hiện tượng nói đến xảy ra trong tương lai, sau thời điểm nói,
hoặc xảy ra trong thời gian sau thời điểm nào đó trong quá khứ được lấy làm
1
“The descriptive meaning of a content word is a concept for its potential referents.” [117,23]
2
“The descriptive meaning of a word or a grammatical form is its contribution to descriptive sentence
meaning” [117,24]
10
mốc.” Và từ này sẽ biểu hiện nghĩa miêu tả một cách cụ thể khi tham gia vào
các câu cụ thể.
Khi nhắc đến nghĩa miêu tả, người ta hay nhắc đến nghĩa sở thị
Một phạm trù
11
nhân và vợ lại có nghĩa xã hội rất khác nhau. Từ phu nhân chỉ dùng để chỉ vợ
của những người có địa vị cao trong xã hội. Không ai dùng phu nhân để nói
về vợ của một người bình thường, trừ khi có một hàm ý khác (trêu đùa, mỉa
mai…) bởi vì khi dùng từ phu nhân, tức là đã giả định sự trang trọng.
Nghĩa xã hội không chỉ xuất hiện trong các thực từ mà còn có mặt cả
trong các hư từ. Chẳng hạn, các trợ từ à, ư, nhỉ, nhé… chỉ dùng trong các
trường hợp biểu hiện sự thân mật. Vì thế, những phát ngôn kiểu như: “Tình
hình có vẻ rất nghiêm trọng, thủ tướng nhỉ?” khó được chấp nhận khi xuất
phát từ người nói có địa vị xã hội thấp hơn thủ tướng.
Tuy nhiên, nghĩa xã hội có được xem là một phần nghĩa nằm trong nghĩa
từ vựng hay không vẫn còn là vấn đề gây tranh cãi. Phần lớn các tác giả quy
phần nghĩa này về phong cách chức năng, nghĩa là một vấn đề thuộc tu từ
học.
1.1.1.3. Nghĩa biểu cảm và tính chủ quan
Bất cứ một sự biểu đạt nào cũng bao hàm trong đó tình cảm, quan điểm,
thái độ của con người. Chẳng hạn, từ xanh lè không chỉ đơn thuần biểu thị
màu sắc của sự vật mà còn thể hiện sự đánh giá (hàm ý chê) của người nói.
Thật vậy, với câu “Chiếc áo này màu xanh lè.”, ai cũng hiểu rằng người nói
đang thể hiện thái độ đánh giá tiêu cực về màu sắc của chiếc áo.
Cũng như nghĩa miêu tả, nghĩa biểu cảm là một phần của nghĩa từ vựng,
một phẩm chất ngữ nghĩa của từ và ngữ không phụ thuộc vào ngữ cảnh.
Phần nghĩa biểu cảm được hiểu là tất cả những STNN do cảm xúc con
người quy định, nghĩa là tính chất phù hợp hay không phù hợp với cảm xúc
con người. Phần nghĩa này do tính chủ quan của con người quy định, nhưng
nó có một mẫu số chung tương đối giữa các cá nhân.
Nghĩa biểu cảm có một vị trí khá quan trọng trong nghĩa của từ. Nếu
quan. Đây là vấn đề của ngôn ngữ học chứ không phải vấn đề của tâm lý học.
Nghĩa liên tưởng là sự liên tưởng của cả một cộng đồng nên nó liên quan
nhiều đến văn hoá. Sự liên tưởng ở đây có thể là tình cảm, có thể là bất kỳ
một vấn đề nào khác. Chẳng hạn, nghĩa liên tưởng gợi ra của từ kiến là “nhỏ”.
Bất cứ khi chúng ta nói một câu nào đó về kiến (ví dụ Chuyện bằng con kiến),
hàm ý đầu tiên cũng là nghĩa liên tưởng này. Nếu thật sự trên thế giới này có
một loài kiến khổng lồ đi chăng nữa, chúng ta cũng sẽ nói: Tuy là kiến nhưng
nó rất to. Khi nói như vậy, ta hiểu sự khổng lồ của loài kiến này là điều bất
thường bởi vì tiền giả định của từ kiến ở đây chính là “nhỏ”.
1.1.2. Sắc thái ngữ nghĩa trong quan hệ với các thành phần nghĩa
STNN không thuộc về nghĩa miêu tả mà thuộc về nghĩa biểu cảm và
nghĩa xã hội. Tuy nhiên, STNN của từ không hoàn toàn trùng lắp phần nghĩa
biểu cảm và phần nghĩa xã hội. STNN của từ còn bị chi phối ít nhiều bởi
nghĩa liên tưởng.
Cũng giống như nghĩa biểu cảm và nghĩa liên tưởng, STNN mang đậm
tính chủ quan nhưng đó là liên chủ quan, nghĩa là phải liên hệ đến những
chuẩn chung mang tính phổ biến, mang tính cộng đồng. Nó phải là một cái gì
đó có tính xu hướng chứ không phải chỉ là những trường hợp riêng lẻ. Chẳng
hạn, khi nói về phạm trù kích cỡ của người, đối với người này, có thể béo là
tích cực, nhưng đối với người khác lại không như vậy. Điều đó xảy ra tương
tự đối với từ gầy. Chuẩn chung nhất là xem béo và gầy đều mang nghĩa trung
hoà khi nói về người. Ở đây, cần chú ý phân biệt ranh giới về STNN giữa các
từ kiểu như béo và đầy đặn; gầy và thon thả, mảnh mai… hay béo với béo
ịch, béo núc ních, béo xụ, béo xù…; gầy và gầy gò, gầy guộc, gầy rốc, gầy
rộc... Nếu như béo và gầy trung tính khi miêu tả người, thì đầy đặn, thon thả,
mảnh mai… mang nghĩa tích cực còn béo ịch, béo núc ních, béo xụ, béo xù,
14
elevated than formerly (…). The opposite is pejoration” [126,17]
4
“Loss of an unpleasant reference in the meaning of a word. (Contrasts with
deterioration)” [101,5091]
15
đo thẩm mỹ để đo giá trị tốt/xấu của từ. Với câu nói “Cô ấy rất cao.”, người
nói đơn giản chỉ muốn miêu tả trạng thái, tính chất của đối tượng được nói
đến, hoàn toàn không bao hàm một lời khen tặng hay chê bai nào cả. Điều này
diễn ra tương tự trong trường hợp “Cô ấy rất thấp.”. Nhưng với câu nói “Cô
ấy cao lênh khênh.” hay “Cô ấy thấp chủn.” thì rõ ràng đã xuất hiện một sự
đánh giá tiêu cực.
Trong tiếng Anh, chúng ta có thể nhận ra hai hệ thống từ vựng dùng để
chỉ những đối tượng giống nhau, một hệ thống được gọi là từ kiêng kỵ (taboo
word) và một được gọi là uyển ngữ (euphemism). Nếu một số từ trong hệ
thống từ kiêng kỵ mang nghĩa xấu thì những uyển ngữ tương đương của
chúng lại mang nghĩa trung hoà và đây chính là một cách nói giảm nhẹ STNN
xấu ở từ kiêng kỵ. Chẳng hạn, nếu deaf (điếc) mang nghĩa xấu thì uyển ngữ
tương đương của nó là hard of hearing (nghe khó khăn) lại mang nghĩa TH.
Tương tự, nếu crippled (người què) là từ kiêng kỵ với STNN xấu thì uyển
ngữ tương đương handicapped (người khuyết tật) lại trung hoà về STNN.
Như vậy, việc từ nói về đối tượng nào trong hiện thực khách quan thì
không quan trọng mà quan trọng là nói bằng cách nào, thái độ của người nói
ra sao. STNN của từ sản sinh từ đó.
Một câu hỏi đặt ra là chúng ta có thể dùng chệch chuẩn các STNN
không, nghĩa là đặt một từ xấu nghĩa vào ngữ cảnh cần phải dùng từ tốt nghĩa
và ngược lại. Nếu có thể thì điều gì sẽ xảy ra?
Người vợ diện một chiếc áo màu sắc loè loẹt. Người chồng liếc nhìn
chiếc áo, buông một câu thõng thượt: “Đẹp!”. Anh ta không hề thích chiếc áo
này và không hề thấy nó đẹp nhưng đã dùng một từ có STNN tích cực (đẹp)
3. Trái với gầy
Tương tự, các nghĩa còn lại cũng được phân tích thành các nét nghĩa như
nghĩa 1.
Phương pháp phân tích thành tố được áp dụng tương đối phổ biến trong
17
nghiên cứu ngôn ngữ nói chung và trong nghiên cứu tiếng Việt nói riêng.
Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả đối với những nghiên cứu cần đến sự
phân tích các thành tố ngữ nghĩa, chẳng hạn như việc xử lý các nhóm từ đa
nghĩa, các nhóm từ đồng nghĩa cũng như xác lập ranh giới giữa các nhóm từ
vựng ngữ nghĩa. Nghiên cứu các nhóm danh từ chỉ người trong quan hệ họ
hàng thân thuộc, nhóm danh từ chỉ cấp bậc, chỉ chức vụ… bằng phương pháp
phân tích thành tố là ví dụ điển hình cho việc sử dụng phương pháp nghiên
cứu một cách có hiệu quả.
Tuy nhiên, phương pháp phân tích thành tố không phải là lựa chọn tối ưu
cho mọi đối tượng nghiên cứu. Có những loại đơn vị từ vựng không thể đem
ra phân tích thành các thành tố ngữ nghĩa, chẳng hạn các loại đơn vị chức
năng như: giới từ, liên từ, phụ từ… hay những loại đơn vị từ vựng với những
nét nghĩa phức tạp, có nhiều biểu hiện trong từng loạt ngữ cảnh khác nhau
cũng khó có thể áp dụng phương pháp này một cách có hiệu quả.
1.2.2. Phương pháp sử dụng ngữ cảnh
1.2.2.1. Ngữ cảnh là gì?
Theo nghĩa rộng, ngữ cảnh chỉ “những nhân tố quan yếu thuộc cấu trúc
ngôn ngữ hay phi ngôn ngữ xung quanh trong mối liên hệ với sự biểu đạt
được xem xét.”
5
Như vậy, ngữ cảnh có thể là một tình huống, một phát ngôn,
một câu, một ngữ đoạn và cũng có thể là một từ.
Trong mỗi ngữ cảnh, từ thể hiện khả năng kết hợp từ vựng và khả năng
Chúng ta phải tập hợp được một số lượng đủ lớn những ngữ cảnh có chứa từ
cần phân tích trong các loại văn bản thành văn thuộc các loại hình phong cách
chức năng khác nhau để đảm bảo cho một kết quả chính xác.
Chẳng hạn, các ngữ cảnh của từ béo
2
mà luận văn thu thập được gồm:
(1) Con gà béo
(2) Cô gái béo
19
(3) Nó béo bệu.
(4) Không nên ăn nhiều chất béo!
(5) Miếng mồi có vẻ béo bở đấy!
(6) Đất béo
(7) Chỉ béo bọn con buôn.
(8) Gà rán béo ngậy.
(9) Trông nó béo phè.
(10) Ông ấy béo phệ.
(11) Nó bị béo phì.
1.2.2.2.2. Phân loại ngữ cảnh
Chúng ta hình dung rằng các nghĩa của một từ đa nghĩa sẽ cấu tạo thành
một mạng cấu trúc có quan hệ chặt chẽ với nhau. Mỗi nhóm ngữ cảnh sẽ
tương ứng với một nghĩa trong mạng cấu trúc này. Vì thế, khi đã thu thập được đủ số lượng ngữ cảnh có thể phản ánh trọn
vẹn các nghĩa của từ, chúng ta sẽ tiến hành phân loại chúng thành những
nhóm ngữ cảnh đồng loại tương ứng với các nghĩa của từ.
Luận văn đã chia 11 ngữ cảnh của từ béo
(tương đồng, tương cận hoặc tương phản) để phát hiện ra nét nghĩa cơ bản
nhất trong cấu trúc nghĩa của từ.
Chẳng hạn, đối với trường hợp béo
2
đã đề cập ở trên, tất cả 5 nghĩa mà
luận văn thu thập được (tương đương với 5 nhóm ngữ cảnh) đều là các nghĩa
thường trực của từ. Luận văn nhận thấy nghĩa 1 (nghĩa miêu tả tính chất “có
nhiều mỡ” của cơ thể động vật) xuất hiện trong đa số các ngữ cảnh (6 ngữ
cảnh) đồng thời các nghĩa khác đều xuất phát từ nghĩa này - đều chỉ ý nhiều
mỡ (Gà rán béo ngậy. Không nên ăn nhiều chất béo!), màu mỡ (đất béo), có
tác dụng nuôi béo đối tượng nào đó (Chỉ béo bọn con buôn.)… Khi đặt từ
béo
2
trong nhóm từ tương quan (gầy
2
, mập, ốm
2
), chúng ta thấy rằng tính chất
có nhiều mỡ hay ít mỡ của cơ thể động vật chính là nghĩa cơ bản của cả nhóm
từ này. Như vậy, nghĩa 1 xuất hiện trong 6 nhóm ngữ cảnh trên chính là nghĩa
cơ bản của từ béo
2
.
Thực ra, nếu phân loại ngữ cảnh chuẩn xác thì về cơ bản, số nhóm ngữ