ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN BÀI THU HOẠCH
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ TƯ DUY SÁNG TẠO
ĐỀ TÀI:
Ý NGHĨA CỦA TRIZ TRONG CNTT VÀ ÁP DỤNG PHƯƠNG
PHÁP LUẬN SÁNG TẠO VÀO TIN HỌC VÀ QUẢN LÝ DỰ
ÁN, QUẢN LÝ PHẦN MỀM
Giảng viên hướng dẫn : GS.TSKH. HOÀNG KIẾM
Sinh viên thực hiện: UÔNG THỊ THOA
MSSV: CH1201137
Lớp: Cao học - Khóa 7
Tháng 4- 201Lời Cảm ơn
Sau hơn 2 tháng tìm hiểu và thực hiện, báo cáo cuối kì “Bài luận về phương pháp luận
sáng tạo – Phương pháp Luận Sáng Tạo Triz” đã cơ bản hoàn thành. Để đạt được kết quả này,
tôi đã nỗ lực hết sức đồng thời cũng nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ, ủng hộ của các
quí Thầy Cô và các bạn.
Trước hết, chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Thầy GS.TSKH. Hoàng Kiếm đã
tận tình giúp đỡ, hướng dẫn em hoàn thành bài báo cáo cuối kì này. Đồng thời cũng gửi lời
cảm ơn đến phòng kỹ thuật của Khoa đã hỗ trợ để em có điều kiện thảo luận nhóm và tạo môi
trường làm việc hiệu quả.
Mặc dù đã rất nỗ lực, cố gắng nhưng kiến thức còn hạn chế nên chắc chắn báo cáo cuối
kì này vẫn còn nhiều thiếu sót, và thực sự chưa phải là một báo cáo hoàn thiện. Tôi rất mong
nhận được sự góp ý đánh giá của quí Thầy Cô, của các bạn để tôi có thể phát triển báo cáo này
thêm hoàn chỉnh hơn.
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!
………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………
Uông Thị Thoa – CH1201137
MỤC LỤC
A.Giới Thiệu về Triz 5
B.Một số ứng dụng của Triz 8
C.Nguyên tắc sáng tạo cơ bản và ứng dụng 16
Uông Thị Thoa – CH1201137
A. Giới Thiệu về Triz
I. Khái niệm về Triz
TRIZ là từ viết tắ tiếng Nga của cụm từ Lý Thuyết Giải các Bài Tóan Sáng Chế. Cách tiếp cận
theo lối thuật tóan đã được minh chứng này để giải quyết những vấn đề kỹ thuật bắt đầu từ năm
1946 khi kỹ sư và cũng là nhà khoa học Nga Genrich Altshuller nghiên cứu hàng ngàn bằng sáng
chế và lưu ý những mẫu hình nhất định. Từ những mẫu hình này ông đã phát hiện ra rằng sự tiến
hóa của các hệ thống kỹ thuật không phải là quá trình ngẫu nhiên,mà bị chi phối bởi những quy
luật khách quan nhất định. Những quy luật này có thể được sử dụng để phát triển hệ thống một
cách có ý thức theo con đường tiến hóa kỹ thuật của nó- bằng cách xác định và thực thi quá trình
đổi mới.
Kết quả của Lý thuyết của Altshuller -rằng việc sáng chế và sáng tạo có thể học được- đã thay
đổi một cách cơ bản mô hình tâm lý sáng tạo.
TRIZ phát triển ở Liên Xô củ, phát triển ngầm sau khi Altshuller bị đi tù vì công việc “phạm
thượng” của mình. Đến khi Liên Xô sụp đổ thì TRIZ nổi lên lại và chuyển sang phương Tây.
Ngày nay nhiều công ty trong số 500 cty có tên trong tạp chí Fortune sử dụng TRIZ thành công.
Xin kể ra đây vài cái tên nổi tiếng.
· Khắc phục tính ỳ tâm lý
· Phân tích chức năng để hiểu vấn đề
· Các giải pháp chuẩn của TRIZ
· Quản lý tri thức
· Tăng cường sáng chế
Các công cụ này đơn giản và mạnh mẽ được rút ra từ việc nghiên cứu TRIZ vốn phân loại
các cách giải quyết vấn đề của Ma Trận Các Mâu Thuẩn, 40 Nguyên Tắc Sáng Tạo, Quy Luật
Tiến Hoá Của Hệ Thống, Các Giải Pháp Chuẩn, và 2500 Hiệu Ứng cùng kho tư liệu TRIZ
1. Mâu thuẩn
Hầu hết các thiết kế đều chứa mâu thuẩn mà đã được giải quyết (theo kiểu TRIZ) hoặc tương
nhượng (theo lối thông thường). TRIZ chỉ ra cho ta cách làm lộ ra mâu thuẩn hay xung đột
trong một thiết kế, và rồi áp dụng 40 Nguyên Tắc Sáng Tạo. Đây là những thủ thuật sáng tạo
rất mạnh.
Triết lý của TRIZ là không chấp nhận sự tương nhượng, loại bỏ các giải pháp kiểu châm
chướt để giải quyết mâu thuẩn.
2. Qui luật pháp triển hệ thống
TRIZ cho thấy rằng tất cả các ngành công nghệ và các sản phẩm đều đi theo một mô hình
đường cong chữ S (S-Curve).
TRIZ chỉ ra cách vẽ một đường cong chữ S cho một sản phẩm, xác định đâu là vị trí của nó
trên đường cong đó và dự báo những hệ quả của đường cong này. Vì vậy TRIZ cung cấp một
phương pháp dự báo công nghệ với độ chính xác cao – Thí dụ, với một công năng bất kỳ, nó
có thể dự báo chi tiết toàn bộ dãy các thế hệ thiết kế tiếp theo để thoả mãn công năng đó.
3. Tính lý tưởng.
TRIZ giúp ta tiếp cận vấn đề bằng cách nghĩ về giải pháp chứ không phải nghĩ về vấn đề.
Điều này thực hiện được nhờ ta tự hỏi Giải Pháp Lý Tưởng của Ta là gì hay được gọi là Kết
Quả Lý Tưởng Sau Cùng. Tính lý tưởng sẽ đạt được bằng cách gia tăng các lợi ích của hệ
thống đồng thời giảm cả các điểm bất lợi và giá thành. Một phần của việc đạt được tính lý
tưởng do sử dụng những nguồn lực có sẳn đối với người giải, sử dụng những nguồn lực
không đắt tiền, và chuyển những cái có hại thành có lợi. Điều này nghe có vẽ kỳ cục và
không thực tế nhưng lại mang đến những giải pháp có thật, giá thành rẻ và rất mạnh.
nhận ra những giải pháp thiết kế truyền thống quanh ta.
3. Cốt lõi của Triz trong 50 từ tiếng anh
Nhận thức rằng các hệ thống kỹ thuật tiến hoá theo hướng tăng tính lý tưởng bằng cách khắc
phục những mâu thuẩn trong khi hầu hết sử dụng tối thiểu các nguồn lực.
Uông Thị Thoa – CH1201137
Vì vậy, đối với việc giải quyết vấn đề một cách sáng tạo, TRIZ tạo ra một cách thức tư duy biện
chứng:
để hiểu vấn đề như một hệ thốngđể hình dung ra giải pháp lý tưởng trước, và để giải quyết mâu
thuẩn.
B. Một số ứng dụng của Triz
I. Mô hình biến đổi thông tin thành tri thức.
Tri thức ( knowledge) là thông tin có ý nghĩa hoặc/ và có ích lợi đối với người có thông tin đó.
Do vậy, tri thức còn mang tính chủ quan, phụ thuộc vào người có thông tin: người dó có khả
năng tìm ra ý nghĩa hoặc/ và ích lợi của thông tin mình có hay không? Khả năng đó cao đến mức
độ nào? Thông tin cho trước là tri thức của người này có thể chỉ là thông tin đối với người khác
và ngược lại. Ngay trong một con người có thể xảy ra việc quá tải (bội thực) thông tin và suy
dinh dưỡng, thậm chí, đói tri thức. Cho đến nay, quá trình biến dồi thông tin thành tri thức, chủ
yếu, diễn ra bên trong bộ óc của con người, chứ không phải trong các thiết bị công nghệ thông
tin. Mặt khác, vì tri thức là thông tin nên tri thức sau khi có được nhờ hoạt động của bộ não biến
đổi thông tin ban đầu, nay lại có thể được sử dụng (mã hóa, truyền, lưu trữ, truy cập…) với tất cả
sức mạnh của công nghệ thông tin.
• Tất cả các bài toán, cuối cùng, đều có thể biến thành lời phát biểu bài toán (hiểu theo nghĩa
rộng) chứa các thông tin về bài toán. Quá trình suy nghĩ giải quyết vấn đề và ra quyết định, nhìn
theo góc độ này, chính là quá trình biến đổi thông tin: từ các thông tin của bài toán thành thông
tin của lời giải hay quyết định. Đây là trường hợp đặc biệt quan trọng của quá trình biến đổi
thông tin thành tri thức hoặc biến tri thức đã có thành tri thức mới, vì lời giải hay quyết định
chính là thông tin đem lại ích lợi cho người giải bài toán: giúp đạt được mục đích đề ra.
• Thời đại bùng nổ thông tin và các thành tựu của công nghệ thông tin tạo nên sự không tương
hợp trên con đường phát triển trong mối quan hệ với quá trình biến đổi thông tin thành tri thức
diễn ra trong bộ óc của con người.
- Có nhiều cách hành động khác nhau, thậm chí hoàn toàn ngược nhau lại đều có thể thỏa
mãn nhu cầu cho trước. Ngược lại, một hành động duy nhất có thể cùng một lúc dẫn dện
thỏa mãn các nhu cầu khác nhau. Chưa kể môi trường, nơi hành động xảy ra và phản ứng
của môi trường với hành động cho trước cũng thường rất da dạng.
- Tính đa nguyên nhân, đa kết quả, những đặc thù của môi trường và sự không ý thức của
người hành động về những diều đó làm cho, trong nhiều trường hợp, hành động nhằm
thỏa mãn nhu cầu cấp bách cho trước cũng theo phương pháp thử và sai (xem Hình 10).
- Xúc cảm âm được hình thành khi kết quả hành động không làm thỏa mãn nhu cầu cá
nhân. Xúc cảm âm có tác dụng ngăn cá nhân tiếp tục hành động về phía đó. Ngược lại,
hành động giúp thỏa mãn nhu cầu dẫn dện sự hình thành xúc cảm dương, có tác dụng
Uông Thị Thoa – CH1201137
thúc đẩy những hành động tương tự. Xúc cảm âm không có nghĩa là xấu, xúc cảm dương
không có nghĩa là tốt. Việc đánh giá tốt, xấu phụ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể.
- Nếu các xúc cảm nói trên được duy trì trong thời gian dài chúng tạo nên mong muốn tự
nguyện, thậm chí thành các thói quen hành động tương ứng.
- Hình 11 diễn tả những điều vừa trình bày và còn cho thấy những điều khác.
2. Hành động.
- Nói chung hành động của cá nhân có nguồn gốc sâu xa là nhu cầu cá nhân, nhưng hành
động cụ thể của cá nhân cụ thể, trong môi trường cụ thể có thể bị chi phối trực tiếp hơn,
mạnh hơn bởi một hoặc vài yếu tố nhất định.
- Tư duy chỉ thực sự vào cuộc khi cá nhân có vấn đề và muốn suy nghĩ giải quyết vấn đề.
- Tư duy không phải là nguồn gốc của hành dộng mà chỉ là một mắt xích trung gian trong
chuỗi nhu cầu – hành động. Do vậy, tư duy chịu tác động rất lớn của các nhu cầu, xúc
cảm, thói quen.
- Nói cách khác, tư duy của mỗi người không khách quan, trong rất nhiều trường hợp, lời
giải hoặc quyết định của chúng ta đưa ra để hành động, bị diều khiển bởi các nhu cầu,
xúc cảm, thói quen chủ quan. Trong số các phép thử của phương pháp thử và sai, nhiều
phép thử – sai có xuất xứ từ nguyên nhân vừa kể.
- Mặc dù vậy, tư duy có một khả năng rất to lớn mà trên thực tế nhiều người còn ít khai
thác. Đó là khả năng của tư duy điều khiển ngược trở lại các nhu cầu xúc cảm, thói quen
thống dã có và xây dựng những hệ thống với tính hệ thống mới.
- “Hệ thống là khái niệm mang tính khái quát hoá cao, không phụ thuộc vào lĩnh vực
chuyên môn cụ thể nào. Điều này rất ích lợi trong việc xây dựng ngôn ngữ suy nghĩ
chung cho các nhà chuyên môn khác nhau, phá vỡ các hàng rào ngăn cách các lĩnh vực,
chuyên môn…
- Trạng thái hệ thống được hiểu là tập hợp các thông số, dấu hiệu mô tả hệ thống. Chỉ cần
một trong những thông số, dấu hiệu đó thay đổi, người ta sẽ coi hệ ở trạng thái hệ thống
khác. Trong quá trình sáng tạo và đổi mới, chúng ta phải đưa các hệ liên quan chuyển từ
trạng thái bài toán sang trạng thái lời giải.
Uông Thị Thoa – CH1201137
- Trên thực tế, hầu như tất cả các hệ là các hệ mở, có nghĩa là, chúng không cô lập mà liên
kết với các hệ khác, với môi trường. ở đây có khuynh hướng: tính liên kết tăng theo thời
gian.
- Một thay đổi nào đó xảy ra tại một yếu tố hoặc một mối liên kết sẽ lan toả đi khắp hệ và
xa hơn. Quá trình này được gọi là hiệu ứng lan toả hệ thống. Nó có thể ảnh hưởng tốt
hoặc xấu lên tính hệ thống. Người giải cần phải đặc biệt chú ý đến hiệu ứng này trong
quá trình giải quyết vấn đề và ra quyết định (vì lời giải hoặc quyết định tạo ra sự thay
đổi) để sử dụng mặt tốt và khắc phục mặt xấu hoặc phải đi tìm giải pháp, quyết định khác
cho phù hợp với các yêu cầu cụ thể.
- Sự phát triển của tính hệ thống phụ thuộc vào từng yếu tố, từng mối liên kết chứ không
chỉ phụ thuộc vào một bộ phận tinh hoa nào đó của hệ thống. Do vậy, cần thiết kế, xây
dựng và tạo điều kiện sao cho từng yếu tố, từng mối liên kết có thể đóng góp tốt nhất vào
tính hệ thống. Nếu không chú ý đến điều này, tính hệ thống có thể sút giảm một cách
đáng kể chỉ vì một yếu tố hoặc một mối liên kết.
- Để phát triển tính hệ thống, người ta có thể thay đổi (hiểu theo nghĩa rất rộng) riêng các
yếu tố, riêng các mối liên kết hoặc cùng một lúc cả hai.
- Khái niệm hệ thống mang tính tương đối: một yếu tố thuộc hệ thống cho trước, trong
cách xem xét khác lại thoả mãn định nghĩa hệ thống. Để phân biệt, người ta gọi nó là hệ
dưới.
Hệ cho trước, trong cách xem xét khác, trở thành yếu tố của hệ lớn hơn, bao nó. Để phân
cần thiết giải bài toán, thậm chí ý tưởng giải bài toán mà chúng có thể nảy sinh ở bất kỳ
hệ nào trong không gian hệ thống, không nhất thiết chỉ có trong hệ của bài toán.
- Không nên coi thường bài toán nhỏ, ngược lại, cần chú ý giải bài toán ngay khi nó còn
nhỏ vì bài toán cũng là hệ thống và có khuynh hướng trở nên càng ngày càng phức tạp
hơn.
Uông Thị Thoa – CH1201137
- Lời giải của bài toán cho trước được coi là tốt, chỉ khi nào lời giải đó không chỉ tốt đối
với hệ của bài toán mà, về mặt nguyên tắc, tốt với tất cả các hệ có trong không gian hệ
thống và với môi trường. ít nhất, lời giải đó phải tốt với 9N hệ ( đối với hệ N chức năng)
hoặc 9 hệ (đối với hệ một chức năng) và với môi trường.
Nếu không chú ý đến yêu cầu này thì sớm hay muộn, trong tương lai sẽ nảy sinh
những bài toán là hậu quả của lời giải cho trước của bài toán và người giải phải chịu trách nhiệm.
Nói cách khác, chính người ra quyết định phải lãnh các hậu quả xấu.
- Tồn tại các quy luật khách quan phát triển hệ thống, đóng vai trò cơ chế định hướng trong
tư duy sáng tạo. Nắm vững và sử dụng tốt các quy luật này, người ta có thể chủ động đưa
hệ phát triển một cách có định hướng, về lâu dài, tiến tới điều khiển được sự phát triển.
Các quy luật này sẽ được trình bày trong Chương 6.
- Tư duy hệ thống không chỉ có ích lợi đối với quá trình suy nghĩ giải quyết vấn đề và ra
quyết định mà còn ảnh hưởng tốt lên mọi mặt khác của đời sống con người như cư xử.
giao tiếp, hành động, đạo đức, văn hoá.
- Áp dụng “tư duy hệ thống ” trong đời sống, công việc hàng ngày nói chung và đối với
môn học PPLST nói riêng là điều cần thiết vì nó đem lại những lợi ích thiết thực.
IV. Qui luật về tính tự lập (tính đầy đủ các thành phần) của hệ thống
Lời phát biểu của qui luật 1 – qui luật về tính tự lập của hệ thống (qui luật về tính đầy đủ các
thành phần của hệ thống) (*):
“Một hệ thống hoạt động tự lập phải bao gồm động cơ, bộ phận truyền động, bộ phận làm việc
(công cụ) và bộ phận điều khiển. Trong đó, mỗi bộ phận phải có khả năng làm việc tối thiểu và
ít nhất phải có một bộ phận điều khiển được. Hệ có khuynh hướng phát triển trở thành hệ tự lập
và tăng tính tự lập.”
1. Bộ phận làm việc – Tính hệ thống.
ngoài khách quan. Nói cách khác, sự thay đổi từ ngoài vào trong là cách thức phát triển chủ
yếu, phổ biến.
Một điểm cần đặc biệt chú ý là trong 4 bộ phận hệ thống thì vai trò của bộ phận làm việc rất
quan trọng, đóng vai trò quyết định, là nền tảng cơ sở cho sự phát triển của các bộ phận khác.
Hiểu rõ như thế sẽ tránh mắc phải một sai lầm thường bắt gặp đây đó trong cuộc sống là cường
điệu hóa, tuyệt đối hóa vai trò tính năng của bộ phận điều khiển. Hay trong một vài trường
hợp riêng biệt, có thể nôm na gọi là tính trạng ‘trọng thầy khinh thợ’.
Ngoài ra, chính nhờ bộ phận làm việc tạo ra tính hệ thống rồi từ đó hệ thống mới hoàn thiện
dần để trở nên tự lập. Trong cuộc sống chính là nhờ lao động, bằng lao động tạo ra sản phẩm,
của cái vật chất khi đó con người mới có được tự do. Vì điều đó, không phải ngẫu nhiên mà từ
xưa đã có có những tư tưởng ‘lấy dân làm gốc’, cụ thể hơn, tư tưởng chủ đạo của Mạnh Tử về
chính trị học là ‘Dân vi quí, xã tắc thứ chi, quân vi khinh’. Một ví dụ khác về người phụ nữ
ngày càng tự do hơn, bình đẳng hơn so với nam giới không phải bởi ‘lòng thương’ của các ‘quí
ông’, không phải bởi ‘lý tưởng’ đẹp đẽ của các tổ chức bảo vệ phụ nữ … mà để đạt được điều ấy
người phụ nữ nhờ vào chính sức lao động, chính vào sự tự do về tài chính của mình.
C. Nguyên tắc sáng tạo cơ bản và ứng dụng
I. Các nguyên tắc sang tạo cơ bản.
1. Nguyên tắc phân nhỏ (Segmentation)
- Chia đối tượng thành các phần độc lập.
- Làm đối tượng trở nên tháo lắp được.
- Tăng mức độ phân nhỏ đối tượng.
2. Nguyên tắc “tách khỏi” (Taking out)
- Tách phần gây “phiền phức” ( tính chất “phiền phức” ) hay ngược lại tách phần
duy nhất “cần thiết” ( tính chất “cần thiết” ) ra khỏi đối tượng.
3. Nguyên tắc phẩm chất cục bộ (Local quality)
- Chuyển đối tượng ( hay môi trường bên ngoài, tác động bên ngoài) có cấu trúc
đồng nhất thành không đồng nhất.
- Các phần khác nhau của đối tượng phải có các chức năng khác nhau.
Uông Thị Thoa – CH1201137
- Mỗi phần của đối tượng phải ở trong những điều kiện thích hợp nhất đối với
tiện báo động, ứng cứu, an toàn.
12. Nguyên tắc đẳng thế (Equipotentiality)
- Thay đổi điều kiện làm việc để không phải nâng lên hay hạ xuống các đối tượng.
13. Nguyên tắc đảo ngược (The Other Way Round)
- Thay vì hành động như yêu cầu bài toán, hành động ngược lại ( ví dụ, không làm
nóng mà làm lạnh đối tượng)
Uông Thị Thoa – CH1201137
- Làm phần chuyển động của đối tượng ( hay môi trường bên ngoài ) thành đứng
yên và ngược lại, phần đứng yên thành chuyển động.
14. Nguyên tắc cầu ( tròn ) hoá (Spheroidality – Curvature)
- Chuyển những phần thẳng của đối tượng thành cong, mặt phẳng thành mặt cầu,
kết cấu hình hộp thành kết cấu hình cầu.
- Sử dụng các con lăn, viên bi, vòng xoắn.
- Chuyển sang chuyển động quay, sử dụng lực ly tâm.
15. Nguyên tắc linh động (Dynamics)
- Cần thay đổi các đặt trưng của đối tượng hay môi trường bên ngoài sao cho
chúng tối ưu trong từng giai đoạn làm việc.
- Phân chia đối tượng thành từng phần, có khả năng dịch chuyển với nhau.
16. Nguyên tắc giải “thiếu” hoặc “thừa” (Partial or Excessive Actions)
- Nếu như khó nhận được 100% hiệu quả cần thiết, nên nhận ít hơn hoặc nhiều hơn
“một chút”. Lúc đó bài toán có thể trở nên đơn giản hơn và dễ giải hơn.
17. Nguyên tắc chuyển sang chiều khác (Another Dimension)
- Những khó khăn do chuyển động ( hay sắp xếp) đối tượng theo đường (một
chiều) sẽ được khắc phục nếu cho đối tượng khả năng di chuyển trên mặt phẳng
( hai chiều). Tương tự, những bài toán liên quan đến chuyển động ( hay sắp xếp)
các đối tượng trên mặt phẳng sẽ được đơn giản hoá khi chuyển sang không gian
(ba chiều).
- Chuyển các đối tượng có kết cấu một tầng thành nhiều tầng.
- Đặt đối tượng nằm nghiêng.
- Sử dụng mặt sau của diện tích cho trước.
- Sử dụng đối tượng trung gian, chuyển tiếp.
25. Nguyên tắc tự phục vụ (Self-service)
- Đối tượng phải tự phục vụ bằng cách thực hiện các thao tác phụ trợ, sửa chữa.
- Sử dụng phế liệu, chát thải, năng lượng dư.
26. Nguyên tắc sao chép (Copying)
- Thay vì sử dụng những cái không được phép, phức tạp, đắt tiền, không tiện lợi
hoặc dễ vỡ, sử dụng bản sao.
- Thay thế đối tượng hoặc hệ các đối tượng bằng bản sao quang học (ảnh, hình vẽ)
với các tỷ lệ cần thiết.
- Nếu không thể sử dụng bản sao quang học ở vùng biẻu kiến ( vùng ánh sáng nhìn
thấy được bằng mắt thường ), chuyển sang sử dụng các bản sao hồng ngoại hoặc
tử ngoại.
27. Nguyên tắc “rẻ” thay cho “đắt” (Cheap Short-Living Objects)
- Thay thế đối tượng đắt tiền bằng bộ các đối tượng rẻ có chất lượng kém hơn ( thí
dụ như về tuổi thọ).
-
28. Thay thế sơ đồ cơ học (Mechanics Substitution)
- Thay thế sơ đồ cơ học bằng điện, quang, nhiệt, âm hoặc mùi vị.
- Sử dụng điện trường, từ trường và điện từ trường trong tương tác với đối tượng .
- Chuyển các trường đứng yên sang chuyển động, các trường cố định sang thay
đổi theo thời gian, các trường đồng nhất sang có cấu trúc nhất định .
- Sử dụng các trường kết hợp với các hạt sắt từ.
29. Sử dụng các kết cấu khí và lỏng (Pneumatics and Hydraulics)
- Thay cho các phần của đối tượng ở thể rắn, sử dụng các chất khí và lỏng : nạp khí,
nạp chất lỏng, đệm không khí, thủy tĩnh, thủy phản lực.
Uông Thị Thoa – CH1201137
30. Sử dụng vỏ dẻo và màng mỏng (Flexible Shells and Thin Films)
- Sử dụng các vỏ dẻo và màng mỏng thay cho các kết cấu khối.
- Cách ly đối tượng với môi trường bên ngoài bằng các vỏ dẻo và màng mỏng.
31. Sử dụng các vật liệu nhiều lỗ (Porous Materials)
38. Sử dụng các chất oxy hoá mạnh (Strong Oxidants)
- Thay không khí thường bằng không khí giàu oxy.
- Thay không khí giàu oxy bằng chính oxy.
Uông Thị Thoa – CH1201137
- Dùng các bức xạ ion hoá tác động lên không khí hoặc oxy.
- Thay oxy giàu ozon ( hoặc oxy bị ion hoá) bằng chính ozon.
39. Thay đổi độ trơ (Inert Atmosphere)
- Thay môi trường thông thường bằng môi trường trung hoà.
- Đưa thêm vào đối tượng các phần , các chất , phụ gia trung hoà.
- Thực hiện quá trình trong chân không.
40. Sử dụng các vật liệu hợp thành (Composite Structures)
- Chuyển từ các vật liệu đồng nhất sang sử dụng những vật liệu hợp thành
( composite). Hay nói chung, sử dụng các vật liệu mới.
II. Ứng dụng của một số nguyên tắc cơ bản vào tin học và quản lý dự án.
1. Quản lý dự án.
Nguyên tắc Phân Nhỏ:
- Chia đối tượng thành các đối tượng độc lập
- Làm đối tượng trở nên tháo lắp được
- Tăng mức độ phân nhỏ của đối tượng
Ứng dụng trong phần mềm :
- Chia nhỏ các công việc trong nhóm
- Thực hiện từng công việc nhỏ để được công việc hoàn chỉnh
- Phân chia chương trình thành các thành phần chức năng riêng
Nguyên Tắc Tách Khỏi
- Tách phần gây phiền phức(hay tính phiền phức) hay phần duy nhất “Cần Thiết”(hay tính
cần thiết) ra khỏi đối tượng.
- Ứng dụng :
- Khi xây dựng chương trình việc tách phần này ra khỏi các phần khác là việc làm thương
xuyên:
Uông Thị Thoa – CH1201137
- Một class (đối tượng) nó sẽ tự bao gồm trong nó những khả năng của nó.
VD :
class phanso
{
private:
int tu;
int mau;
public :
void add(phanso p) ;
void divide(phanso p) ;
void subtract(phanso p) ;
void multiply(phanso p) ;
}
- Một ứng dụng cao hơn là 1 control tự nó sẽ có các hàm,các sự kiện,các nhiệm vụ tương
ứng với hình dáng,kích thướt của nó
Nguyên tắc chứa trong
Uông Thị Thoa – CH1201137
- Một đối tượng được đặt bên trong một đối tượng khác và bản thân nó lại chứa đối
tượng thứ …
- Một đối tượng chuyển động xuyên suốt bên trong đối tượng khác
Ứng dụng :
- Được ứng dụng rất nhiều trong .xaml , các control lồng vào
nhau(ControlTemplate),chuyển động bên trong đối tượng khác,nhằm tao ra những contl
khác linh động hơn phù hợp với từng truờng hợp.
Nguyên tắc phân trọng lượng
- Bù trừ trọng lượng của đối tượng bằng cách gắn nó với các đối tượng khác,có lực nâng.
- Bù trừ trọng lượng của đối tượng bằng tương tác với môi trường như sử dụng các lực
thủy động,khí động…
Ứng Dụng :
- Thay đổi đối tượng ứng với mổi công việc trong nhóm để được hiệu quả cáo nhất có thể
- Thường xuyên đưa các sản phẩm ở từng giai đoạn cho khách hàng kiểm tra Tham khảo ý
kiến thường xuyên Đề phòng sự thay đổi chức năng “một cách vội vã” của khách hàng
đối với sản phẩm phần mềm.
Nguyên tắc đẳng thế:
- Thay đổi điều kiện làm việc để không phải nâng lên hạ xuống các đối tượng.
- Ứng Dụng :
- Cân bằng giữa 3 yếu tố rang buộc của một dự án :phạm vi , thời gian , kinh phí để hoàn
thành dự án đúng yêu cầu Sự thay đổi của một trong 3 yếu tố trên sẽ tác động đến các
yếu tố còn lại làm ảnh hưởng đến sự thành bại của một dự án
- Thay đổi môi trường làm việc tạo không gian thoải mái hòa đồng Giảm bỏ khoảng cách
giữa PM và các thành viên trong đội ngũ Tạo mối quan hệ gắn kết Tất cả cùng vì sự
thành công của dự án
Nguyên tắc đảo ngược:
- Thay vì hành động như bài toán,hành động ngược lại(Ví dụ không làm nóng mà làm lạnh
đối tượng)
- Làm phần chuyể động của đối tượng(hay môi trường bên ngoài) thành đứng yên hay
ngược lại phần đứng yên thành chuyển động
Ứng Dụng :
- Chủ động tìm đến khách hàng tiếp thu ý kiến yêu cầu của sản phẩm Mạnh dạn góp ý và
đưa ra những mẫu sản phẩm cho khách hàng tham khảo thay vì phải chờ khách hàng đưa
ra yêu cầu.
- Nâng cao tính khả dụng và hỗ trợ của khách hàng Lôi kéo khách hàng cùng tham gia vào
xây dựng sản phẩm
Nguyên tắc cầu hóa:
- Chuyển những phần thẳng của đối tượng thành cong,mặt phẳng thành cầu,kết cấu hình hộp
thành kết cấu hình cầu.
- Sử dụng con lăn viên bi,vòng xoắn
- Chuyển sang chuyển động quay,lưc ly tâm
Ứng Dụng :
- Tổ chức phân chia nhiệm vụ theo dạng móc nối vòng , mang tính chất mắc xích Mỗi
cho dự án thêm phần giá trị
Nguyên tắc chuyển sang chiều khác:
Uông Thị Thoa – CH1201137