Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lúa bắc thơm số 7 vụ mùa 2013 tại huyện kim bảng, tỉnh hà nam - Pdf 28


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM


LÊ THỊ THANH HẰNG

ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ LƯỢNG ĐẠM BÓN
ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT
CỦA GIỐNG LÚA BẮC THƠM SỐ 7 VỤ MÙA 2013
TẠI HUYỆN KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN ÍCH TÂN
Hà Nội – 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page i

LỜI CAM ĐOAN

- Tác giả xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận
văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
- Tác giả xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được
cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.

Hà Nam, ngày tháng năm 2014
Tác giả
Lê Thị Thanh Hằng
ý kiến đóng góp của các thầy cô, đồng nghiệp và bạn đọc.
Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nam, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Lê Thị Thanh Hằng

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii

MỤC LỤC Lời cam đoan i

Lời cám ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt vi

Danh mục bảng vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1


lượng đạm. 244

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv

1.5 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Kim Bảng, tỉnh Hà
Nam có liên quan đến sản xuất nông nghiệp nói chung và sản
xuất lúa nói riêng. 26

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

2.1 Vật liêu, thời gian, địa điểm nghiên cứu. 30

2.1.1 Vật liệu nghiên cứu 30

2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 30

2.2 Nội dung nghiên cứu 32

2.3 Phương pháp nghiên cứu 32

2.3.1 Bố trí thí nghiệm 32

2.3.2 Các biện pháp kỹ thuật 33

2.3.3 Các chỉ tiêu theo dõi 34

2.3.4 Phương pháp sử lý số liệu. 38

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39

chịu sâu bệnh của giống lúa Bắc thơm số 7. 62

3.4 Các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất và hệ số kinh tế của
giống lúa Bắc thơm số 7. 64

3.4.1 Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến các yếu tố cấu
thành năng suất và năng suất của giống lúa Bắc thơm số 7. 64

3.4.2 Năng suất sinh vật học và hệ số kinh tế của giống lúa Bắc thơm số 7 73

3.5 Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến hiệu suất bón đạm
và hiệu quả kinh tế của giống lúa Bắc thơm số 7. 76

3.5.1 Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến hiệu suất bón đạm
của giống lúa Bắc thơm số 7 76

3.5.2 Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến hiệu quả kinh tế
của giống lúa Bắc thơm số 7 77

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80

1 Kết luận 80

2 Đề nghị 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

PHỤ LỤC 86
Hệ số đẻ nhánh hữu hiệu
Hệ số kinh tế
Khối lượng tích lũy chất khô
Năng suất lý thuyết
Năng suất sinh vật học
Năng suất thực thu
Số lá cuối cùng
Số nhánh hữu hiệu
Số thứ tự
Trung bình nhiều năm
Thời gian sinh trưởng
Tỷ lệ hạt chắc
Tuần sau cấy
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii

DANH MỤC BẢNG

STT Tên hình Trang

1.1 Sản xuất lúa gạo của thế giới từ năm 2005 – 2012 5

1.2 Tình hình sản xuất lúa gạo của các nước sản xuất chính trên thế
giới năm 2012 5

1.3 10 quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới năm 2011 và dự báo
năm 2012 7


3.3.c Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến động thái tăng
trưởng số nhánh 46

3.4.a Ảnh hưởng của mật độ đến động thái tăng trưởng số lá 48

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii

3.4.b Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến động thái tăng trưởng số lá 49

3.4.c Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến động thái tăng
trưởng số lá 50

3.5.a Ảnh hưởng của mật độ cấy đến chỉ số diện tích lá 52

3.5.b Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến chỉ số diện tích lá 53

3.5.c Ảnh hưởng của mật độ cấy và lượng đạm bón đến chỉ số diện
tích lá 54

3.6.a Ảnh hưởng của mật độ đến khối lượng tích lũy chất khô và tốc
độ tích lũy chất khô 57

3.6.b Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến khối lượng tích lũy chất khô
và tốc độ tích lũy chất khô 58

3.6.c Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến khối lượng tích lũy
chất khô và tốc độ tích lũy chất khô 59


Cây lúa (Oryza sativa L.) là một trong những cây lương thực chính của nước
ta và nhiều nước trên thế giới đặc biệt là các nước Châu Á, nó có vai trò rất quan
trọng trong sản xuất nông nghiệp. Khoảng 40 % dân số trên thế giới sống bằng lúa
gạo, sử dụng lúa gạo làm nguồn lương thực chính, 25% sử dụng lúa gạo trên 1/2
khẩu phần thức ăn hằng ngày. Với việc có ảnh hưởng tới ít nhất 65% dân số thế giới
tập trung tại các nước châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Lúa gạo có vai trò quan
trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực và ổn định xã hội.
So với nghề trồng lúa ở các nước châu Á, nghề trồng lúa ở Việt Nam có lịch
sử lâu đời nhất. Theo các tài liệu khảo cổ ở Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam Cây
lúa đã có mặt từ 3000 - 2000 năm trước công nguyên. Cùng với sự phát triển của
khoa học kỹ thuật cũng như những chính sách đổi mới trong quản lý nông nghiệp,
nghề trồng lúa nước ở nước ta cũng có nhiều thay đổi tích cực. Từ một nước thiếu
lương thực trầm trọng trong những năm chiến tranh, đến nay nền nông nghiệp của
nước ta đã không chỉ sản xuất ra đủ một lượng lớn lương thực đáp ứng nhu cầu
trong nước mà còn xuất khẩu sang nhiều thị trường lớn trên thế giới đưa Việt Nam
trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới chỉ sau Thái Lan.
Tuy nhiên, do dân số tăng nhanh, quá trình đô thị hoá phát triển mạnh, thêm
vào đó là sự biến đổi khí hậu, diện tích đất bị sa mạc hóa, đất nhiễm mặn tăng… đã
làm diện tích đất trồng lúa ngày càng thu hẹp nên vấn đề lương thực vẫn là yêu cầu
cấp bách phải quan tâm trong những năm trước mắt và lâu dài. Để đảm bảo nhu cầu
lương thực trong nước và xuất khẩu cần nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật như:
giống, mật độ, bón phân, thuốc bảo vệ thực vật… nhằm tăng năng suất, hiệu quả
trồng lúa trên đơn vị diện tích.
Kim Bảng là huyện sản xuất nông nghiệp còn đóng vai trò quan trọng trong
phát triển kinh tế-xã hội của huyện. Trong sản xuất nông nghiệp cây lúa là cây trồng
chính có ảnh hưởng đến đời sống của hầu hết người dân trong huyện. Hiện nay diện
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2

tích lúa chất lượng toàn huyện đang có xu hướng tăng đặc biệt là giống Bắc thơm 7


- Phân tích, đánh giá ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến các yếu tố
cấu thành năng suất, năng suất và hệ số kinh tế của giống lúa Bắc thơm số 7 vụ mùa
2013 tại huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.
- Đánh giá hiệu suất bón đạm, hiệu quả kinh tế của giống lúa Bắc thơm số 7
vụ mùa 2013 tại huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo góp phần
định hướng cho việc nghiên cứu biện pháp kỹ thuật thâm canh cũng như đề xuất xây
dựng quy trình kỹ thuật thâm canh cho giống lúa Bắc thơm số 7.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ góp phần tích cực trong việc chỉ đạo, hướng dẫn
sản xuất nhằm tăng năng suất, hiệu quả kinh tế cũng như mở rộng sản xuất giống
lúa Bắc thơm số 7 tại huyện Kim Bảng – tỉnh Hà Nam.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới và Việt Nam
1.1.1. Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới
Cây lúa có nguồn gốc nhiệt đới, dễ trồng, và có khả năng thích nghi rộng với
các vùng khí hậu. Trên thế giới vùng trồng lúa có thể kéo dài từ 53
o
vĩ Bắc đến 10
o
vĩ Nam, song phân bố chủ yếu ở châu Á từ 30
o

Năm
Diện tích
(triệu ha)
Năng suất
(tấn/ha)
Sản lượng
(triệu tấn)
2005
154,987 4,09 634,44
2006
155,850 4,12 641,21
2007
155,039 4,24 656,98
2008
159,999 4,30 688,41
2009
158,294 4,33 684,81
2010
161,666 4,34 701,05
2011
163,147 4,43 722,56
2012
163,463 4,39 718,35
Nguồn: FAOSTAT.FAO - 2013
Qua bảng số liệu trên cho thấy, từ năm 2005 đến năm 2012 diện tích, năng
suất và sản lượng lúa thế giới tăng chậm, đặc biệt từ năm 2008 đến nay, năng suất
lúa hầu như ít biến đổi chỉ dao động từ 4,30 tấn/ha năm 2008 đến 4,39 tấn/ha năm
2012. Hiện nay diện tích gieo trồng lúa trên thế giới đạt khoảng hơn 163 triệu ha và
sản lượng đạt hơn 718 triệu tấn.
Các nước sản xuất lúa gạo chính trên thế giới hiện nay phải kể đến là Ấn Độ,

Pakistan
2,700 3,482 9,400
Nguồn: FAOSTAT.FAO - 2013
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6

Qua bảng số liệu cho thấy, chỉ riêng sản lượng lúa của Ấn Độ và Trung Quốc
đã chiếm gần 50 % sản lượng lúa toàn cầu. Tuy Ấn Độ là nước có diện tích trồng
lúa lớn nhất trên thế giới Trung Quốc lại là quốc gia có sản lượng lớn nhất thế giới
và cũng là nước có năng suất trung bình lớn nhất trong 10 quốc gia sản xuất chính.
Bên cạnh đó Inđônêxia, Việt Nam cũng là một trong những nước có năng suất trung
bình và sản lượng lúa đạt cao trên thế giới.
Là một trong những quốc gia chính về sản xuất lúa gạo, Thái Lan, Việt Nam,
Ấn Độ cũng là những quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới. Đặc biệt, năm 2012
sản lượng gạo xuất khẩu của Ấn Độ đạt 9,5 triệu tấn, vượt Thái Lan trở thành nước
xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới (Phúc Duy, 2013).
Tuy nhiên theo dự báo của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD),
Thái Lan sẽ sớm giành lại và duy trì được danh hiệu nước xuất khẩu gạo lớn nhất
thế giới trong vòng ít nhất 10 năm tới.
Trong báo cáo mới nhất của mình, OECD nhận định lượng gạo xuất khẩu của
Thái Lan sẽ bật tăng trở lại lên mức 8,8 triệu tấn trong năm 2013 và sau đó duy trì
khoảng 12 triệu tấn cho đến năm 2022.
Cũng theo OECD, Việt Nam - nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới trong
năm 2012 - sẽ vẫn duy trì ngôi vị này trong giai đoạn 2013 - 2022. Lượng gạo xuất
khẩu của Việt Nam sẽ vượt qua ngưỡng 8 triệu tấn vào năm 2015 và tăng lên 9,7
triệu tấn vào năm 2022.
Đối với Ấn Độ, lượng gạo xuất khẩu của nước này có thể sẽ giảm còn khoảng
6,3 triệu tấn trong năm 2013 và tăng trở lại lên 7,2 triệu tấn trong năm 2015 và sau
đó, giảm xuống khoảng 5,3 triệu tấn vào năm 2022 (Linh Đào, 2013).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp


Bảng 1.4. 10 nước nhập khẩu gạo lớn nhất thế giới năm 2011
và dự báo năm 2012
Đơn vị: Triệu tấn
STT Quốc gia Nhập khẩu (2011) Dự báo (2012)
1 Indonesia 3,09 1,25
2 Nigeria 2,55 2,45
3 Iran 1,87 1,90
4 Bangladesh 1,48 0,40
5 EU-27 1,47 1,40
6 Philippin 1,20 1,50
7 Malaysia 1,07 1,08
8 Ảrập Xêút 1,05 1,15
9 Irắc 1,03 1,20
10 Bờ biển Ngà 0,93 0,95
Nguồn: Bộ Nông nghiệp Mỹ, 2012 (Trích bởi Trần Huỳnh Thúy Phượng, 2013).
1.1.2. Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam
Việt Nam nằm ở vùng Đông Nam Á, khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm và
đặc biệt là lượng bức xạ mặt trời cao nên rất thích hợp với sự phát triển của cây lúa.
Với địa bàn trải dài trên 15 vĩ độ Bắc bán cầu, từ Bắc vào Nam đã hình thành những
đồng bằng châu thổ trồng lúa phì nhiêu, màu mỡ (đồng bằng châu thổ Sông Hồng
và đồng bằng châu thổ sông Cửu Long…). Vì thế, Việt Nam được coi là cái nôi
hình thành lúa nước.
Nông nghiệp trồng lúa không chỉ đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, mà còn là
cơ sở kinh tế sống còn của đất nước với 72% lực lượng lao động .
Bên cạnh đó, ưu thế lớn của nghề trồng lúa còn thể hiện rõ ở diện tích canh
tác trong tổng diện tích đất nông nghiệp cũng như tổng diện tích trồng cây lương
thực. Ngành trồng trọt chiếm 4/5 diện tích đất canh tác trong khi đó lúa giữ vị trí
độc tôn, gần 85% diện tích lương thực (Khuyết danh, 2013).
Như vậy bên cạnh sự thu hút về nguồn lực con người thì sự thu hút nguồn lực

lượng năm sau cao hơn năm trước (Nguyễn Thị Nghiên Thuận, 2012).
Hiện nay, với những tiến bộ kỹ thuật vượt bậc trong nông nghiệp, người dân
đã được tiếp cận với những phương thức sản xuất tiên tiến, biết áp dụng khoa học
kỹ thuật vào sản xuất, dùng các giống lúa mới, các giống lúa ưu thế lai, các giống
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10

lúa cao sản, các giống lúa thích nghi với điều kiện đặc biệt của từng vùng, các giống
lúa chất lượng đạt tiêu chuẩn xuất khẩu… kết hợp đầu tư thâm canh cao, hợp lý.
Nhờ vậy, ngành trồng lúa nước ta đã có những bước nhảy vọt về năng suất, sản lượng
và giá trị kinh tế.
Tổng kết về các giai đoạn tăng năng suất thêm 1 tấn, theo Nguyễn Văn Luật và
cs (2013), ông cha ta đã phải trải qua trên 80 năm trong giai đoạn từ năm 1868 đến
năm 1955. Thời gian trên còn khoảng 30 năm trong giai đoạn từ năm 1965 đến năm
1985. Và còn khoảng 15 năm trong giai đoạn năm 1985 đến năm 1999. Đến nay,
năng suất lúa bình quân đạt 5-6 tấn/ha và sản lượng đạt khoảng trên 40 triệu tấn.
Nước ta đã vươn lên trở thành quốc gia xuất khẩu gạo và khẳng định vị thế của mình
trên trường quốc tế với tư cách quốc gia xuất khẩu gạo đứng hàng thứ 2 thế giới trong
nhiều năm qua.
Bảng 1.5. Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam từ năm 2005 - 2012
Năm
Diện tích
(nghìn ha)
Năng suất
(tấn/ha)
Sản lượng
(triệu tấn)
2005
7.329,2 4,89 35,83
2006

của chúng ta có thể bị ảnh hưởng do diện tích trồng lúa giảm (Hồ Hùng, 2013).
1.2. Vai trò của phân đạm và những kết quả nghiên cứu về lượng đạm bón cho lúa
Phân bón có vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng, phát triển của cây
lúa, nó cần suốt trong quá trình phát triển, từ giai đoạn mạ cho đến lúc thu hoạch.
Cùng với các yếu tố năng lượng khác, phân bón cung cấp cho cây là nguồn nguyên
liệu để tái tạo ra các chất dinh dưỡng như tinh bột, chất đường, chất béo, protein
Theo Yoshida (1981) và Trần Thúc Sơn (1996), các giống lúa có thời gian
sinh trưởng khác nhau thì yêu cầu phân bón cũng khác nhau. Trong các yếu tố dinh
dưỡng thì đạm là yếu tố quan trọng nhất với cây lúa, đạm có phản ứng rõ hơn lân và
kali. Hơn 2/3 lượng phân đạm ở Việt Nam được sử dụng cho lúa.
Đối với thực vật nói chung và cây lúa nói riêng thì đạm có vai trò sinh lý đặc
biệt quan trọng vì nó là thành phần của các protein - chất cơ bản biểu hiện của sự
sống. Đạm cũng là thành phần của nhiều chất hữu cơ quan trọng tham gia mọi quá
trình trao đổi chất của cây trồng như các enzim, coenzim (NAD, NADP, FAD,
CoA), là thành phần của các hợp chất cao năng như ATP, GTP, UTP… cung cấp
năng lượng cho các hoạt động sống của cây. Đạm tham xây dựng vòng Mg-
porphirin – nhân của diệp lục tố, là chất đóng vai trò quan trọng cho quá trình quang
hợp. Ngoài ra đạm còn là thành phần chủ yếu của một số phytohoocmon tác nhân
điều tiết quá trình sinh trưởng phát triển của cây. Do vậy đạm là yếu tố cơ bản của
quá trình đồng hoá cacbon, kích thích sự phát triển của bộ rễ và việc hút các yếu tố
dinh dưỡng khác (Vũ Hữu Yêm, 1995).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12

Theo Yoshida (1981), đối với lúa, nếu như không bón đạm thì ở đâu cũng
thiếu đạm. Theo Nguyễn Văn Bộ (2003), mỗi năm nước ta sử dụng 1.202.140 tấn
đạm, 456.000 tấn lân và 402.000 tấn kali, trong đó sản xuất lúa chiếm 62%.
Theo Nguyễn Như Hà (2006), đạm có vai trò quan trọng trong phát triển bộ
rễ, thân, lá, chiều cao và đẻ nhánh của cây lúa. Tuy nhiên theo Sarker (2002), lượng
đạm càng cao thì lúa đẻ nhánh càng nhiều nhưng lụi đi cũng nhiều. Việc cung cấp

Tuy nhiên theo quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Lan và cs (2009) tại Thái
Bình và Hưng Yên trên giống lúa N46, với các yếu tố cấu thành năng suất, khi tăng
lượng đạm bón 0-120 kg N/ha thí số bông/m
2
tăng nhưng tổng số hạt trên bông lại
khác nhau không có ý nghĩa ở các mức đạm, còn tỷ lệ hạt chắc trên bông có chiều
hướng tăng khi tăng lượng đạm bón đến 90 kg N/ha, nhưng nếu bón 120 kg N/ha thì
tỷ lệ hạt chắc bắt đầu giảm thấp hơn thậm trí còn kém cả công thức đối chứng.
Như vậy, đạm ảnh hưởng đến tất cả các đặc tính của cây góp phần tăng năng
suất và chất lượng của các giống lúa. Thiếu đạm, sinh trưởng phát triển của cây bị
ức chế, rễ kém phát triển, lá có màu lục nhạt do quá trình tổng hợp diệp lục bị kìm
hãm. Thiếu đạm lâu ngày diệp lục bị phân huỷ, lá bị úa vàng sau đó cây bị chết. Đủ
đạm cây phát triển tốt, quang hợp mạnh, năng suất cao. Để cung cấp hợp lý nhu cầu
phân bón nói chung cũng như đạm nói riêng cần căn cứ vào vào lượng dinh dưỡng
cây hút để tạo ra 1 tấn thóc cũng như điều kiện khí hậu đất đai nơi trồng trọt
Theo Bùi Huy Đáp (1980), lượng đạm cần thiết để tạo ra 1 tấn thóc từ 17-25
kg N trung bình cần 20,5 kg. Thông thường các giống có tiềm năng năng suất cao
bao giờ cũng cần một lượng đạm cao.
Ở các nước nhiệt đới, theo Yoshida (1985), lượng các chất dinh dưỡng
(N,P,K) cần để tạo ra 1 tấn thóc trung bình là: 20,5 kg N; 5,1 kg P
2
O
5
; 44 kg K
2
O.
Trên nền phối hợp 90 P
2
O
5


Còn theo Nguyễn Văn Bộ và cs (2003), trung bình 1 tấn thóc kèm cả rơm rạ
cây lấy đi lượng dinh dưỡng từ đất là: 22,2 kg N; 7,1 kg P
2
0
5
; 31,6 kg K
2
0 và nhiều
yếu tố trung, vi lượng khác.
Theo Trần Thúc Sơn và Đặng Văn Hiến (1995), trên đất phù sa sông Hồng,
điều kiện tưới tiêu thuận lợi, nếu không bón phân năng suất lúa chỉ có thể đạt 3,5
tấn/ha song. Để đạt được năng suất lúa 5 tấn/ha cần bón 90 - 120 kg N/ha.
Tuy nhiên không phải cứ bón nhiều đạm thì tỷ lệ đạm của cây lúa sử dụng
nhiều. Theo kết quả nghiên cứu sử dụng phân đạm trên đất phù sa sông Hồng của
Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam từ năm 1992 đến 1994: Phản ứng của phân
đạm đối với lúa phụ thuộc vào thời vụ, loại đất và giống lúa.
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của đất, mùa vụ và liều lượng phân đạm bón
đến tỷ lệ cây lúa hút của Viện Nông hoá - Thổ nhưỡng chỉ ra rằng: Ở mức phân đạm
80 kg N/ha, tỷ lệ sử dụng đạm là 46,6%, so với mức đạm này có phối hợp với phân
chuồng tỷ lệ hút được là 47,4%. Nếu tiếp tục tăng liều lượng đạm đến 160N và
240N, có bón phân chuồng thì tỷ lệ đạm mà cây lúa sử dụng cũng giảm xuống. Trên
đất bạc màu so với đất phù sa sông Hồng thì hiệu suất sử dụng đạm của cây lúa thấp
hơn. Khi bón liều lượng đạm từ 40N - 120N thì hiệu suất sử dụng đạm giảm xuống,
tuy lượng đạm tuyệt đối do lúa sử dụng có tăng lên.
Còn theo kết quả nghiên cứu trung bình nhiều năm, từ năm 1985-1994 của
Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long, trên đất phù sa được bồi hàng năm có bón 60
kg P
2
O

N/ha; 160 kg N/ha) năng suất lúa không tăng lên mà còn giảm ở cả 3 mật độ 40, 45
và 50 khóm/m
2
.
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Lan và cộng sự (2007) lại cho thấy, năng
suất thực thu khi bón vãi đạm cho lúa thuần N18 tại Phúc Thọ, Hà Tây vụ mùa 2005
đạt cao nhất 5,58 tấn/ha ở lượng bón 150 kg N/ha.
Tuy nhiên lượng đạm viên nén bón cho lúa tẻ thuần chất lượng cao N46 tại
Thái Bình và Hưng Yên lại cho năng suất cao nhất ở mức 90 kg N/ha (Nguyễn Thị
Lan và Đỗ Thị Hường, 2009).
Đối với giống lúa lai, theo Nguyễn Ích Tân và Nguyễn Thị Toàn (2012), khi
nghiên cứu ảnh hưởng của tuổi mạ và lượng đạm bón đến sinh trưởng, phát triển và
năng suất của giống VL75 tại Gia Lâm Hà Nội, nhóm tác giả nhận thấy năng suất
thực thu của lúa đạt cao nhất với mức đạm bón 120 kg N/ha ở cả 2 tuổi mạ, nếu
tăng lượng đạm bón lên 150 kg N/ha thì năng suất không tăng mà còn giảm ở cả 2
tuối mạ. Tuy nhiên với tuổi mạ T1 (mạ 3-3,5 lá), mức bón 90 và 120 Kg N/ha cho
năng suất khác nhau không có ý nghĩa.
Đối với lúa cạn, khi nghiên cứu về bón phân đạm, Nguyễn Thị Lẫm (1994)
đã kết luận: Liều lượng đạm bón thích hợp cho các giống có nguồn gốc địa phương
là 60 kg N/ha. Đối với những giống thâm canh cao như (CK136) thì lượng đạm
thích hợp từ 90 - 120kg N/ha.

Trích đoạn Các chỉ tiêu theo dõ N (kg/ha) M (khóm/m 2 ) MD$ N$ NOS DN-TT TT-CS
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status