PHÁT HIỆN SỚM UNG THƯ TUYẾN GIÁP BẰNG SIÊU ÂM
KẾT HP VỚI CHỌC HÚT TẾ BÀO BẰNG KIM NHỎ.
LÊ HỒNG CÚC*
TÓM TẮT:
Theo TỔ CHỨC Y TẾ THẾ GIỚI ung thư tuyến giáp chiếm 1% các loại ung thư ,trong
khi theo ghi nhận của TRUNG TÂM UNG BƯỚU năm 1995 tỉ lệ này là 2,1% đối với các
bướu sờ thấy được trên lâm sàng. Tuy nhiên tỉ lệ này còn cao hơn nhiều ở những vùng có
bướu cổ đòa phương.
Ung thư tuyến giáp dạng nhú là loại ung thư chiếm tỉ lệ cao trong những loại mô học của
ung thư giáp (75-90%), đây là loại ung thư có tiên lương tốt nhờ đặc tính diển tiến chậm,
di căn xa ít, thường hay cho hạch vùng.
Từ tháng 7/2000 đến tháng 10/2001 trong số những bệnh nhân đi siêu âm kiểm tra sức
khỏe chúng tôi đã tình cờ phát hiện 305 nhân gíap nhỏ với đường kính trục lớn nhất nhỏ
hơn 1,5 cm và dưới sự hướng dẩn của siêu âm chúng tôi dùng kim 25 Gauge tiến hành
làm chọc hút tế bào bằng kim nhỏ để làm tế bào học. Nhờ kỹ thuật này chúng tôi đã phát
hiện 66 nhân ung thư của tuyến giáp chiếm tỉ lệ 21,8% gồm 57 nhân ung thư tuyến giáp
dạng nhú và 09 nhân ung thư tuyến giáp dạng nang.
Điều này cho thấy việc sử dụng siêu âm với đầu dò có tần số và độ ly giải cao kết hợp
với chọc hút tế bào bằng kim nhỏ để làm tế bào học các nhân tuyến giáp là phương tiện
tốt nhất trong phát hiện sớm ung thư tuyến giáp. Từ kết quả thu được chúng tôi đề xuất sơ
đồ xử trí đối với nhân tuyến giáp được phát hiện tình cờ bằng SA.
I. MỤC ĐÍCH:
Ung thư giáp chiếm 1% trong tổng số các loại ung thư theo y văn thế giới, và chiếm
2,1% theo ghi nhận ung thư 1995 của Trung Tâm Ung Bướu (9). Đây là ung thư diễn
tiến chậm, có tỉ lệ tử vong thấp so với nhiều loại ung thư khác, giá trò tiên lượng cao
nếu sang thương nhỏ hơn 1,5 cm và mô học loại nhú (6). Điều trò kinh điển của Hiệp
Hội quốc tế chống ung thư (UICC) được áp dụng tại Trung Tâm Ung Bướu là cắt trọn
thùy giáp bên tổn thương và gần trọn ở đối bên, nạo hạch cổ cùng bên tổn thương có
kèm theo cắt cơ ức-đòn chủm và tónh mạch hầu trong hay không tùy theo độ xâm
hút tế bào bằng kim nhỏ dưới hướng dẫn của siêu âm để có chẩn đoán sớm và chính
xác hầu góp phần trong việc điều trò sớm ung thư. Đây thật sự là phương pháp rẻ tiền,
đơn giản, dễ thực hiện, rất ít tai biến, không độc hại và độ chính xác cao giúp phát
hiện và điều trò sớm ung thư tuyến giáp, nhất là đối với vùng dòch tể học của bệnh
bướu cổ đòa phương. Nhờ biện pháp sàng lọc bằng tế bào học đã góp phần gia tăng
đáng kể tỉ lệ các nhân ung thư cần được mổ, hạn chế các trường hợp phẫu thuật
không cần thiết cũng như điều trò không đúng mức.
II. VÀI NÉT VỀ BỆNH LÝ NHÂN GIÁP:
A. GIẢI PHẪU BỆNH:
1. Các tổn thương lành tính:
• Phình giáp hạt ( Nodular goiter) hay còn gọi là tăng sản lành tính (Nodular
hyperplasia) tuyến giáp: liên quan đến tình trạng thiếu iode trong thức ăn, rối loạn
chuyển hoá Iode ….
• Bướu lành tuyến giáp: gồm nhiều loại mô học, thường gặp nhất là bướu tuyến
nang (Follicular adenoma).
2
• Các loại bướu lành khác xuất phát từ mô liên kết hiếm gặp: bướu quái, bướu mạch
máu, bướu cơ trơn.
• Viêm giáp: là bệnh lý lan toã nhưng đôi khi các viêm bán cấp hay mạn tính tạo ra
hạt trên siêu âm.
2. Các tổn thương ác tính:
• Carcinôm: thường gặp nhất là dạng nhú (75 – 90%) tiên lượng tốt, dạng nang (5 –
15%), dạng tủy (5%), và dạng không biệt hóa (5%) tiên lượng rất xấu.
• Sarcôm: limphôm thường hay gặp hơn các loại khác như sarcôm sợi, sarcôm mạch
máu.
B. TIÊU CHUẨN SIÊU ÂM:
Không có một tiêu chuẩn SA riêng lẻ nào để có thể xác đònh sự lành hay ác tính của các
nhân giáp nhất là khi sang thưong còn nhỏ nên cần phải phối hợp các tiêu chuẩn sau:
1. Cấu trúc echo:
Độ hồi âm
c
- +
3
C. TIÊU CHUẨN TẾ BÀO HỌC:
Theo tiêu chuẩn của Johnson và Goellner: trên các tiêu bản khảo sát có ít nhất 6 cụm
tế bào, mỗi cụm có ít nhất 10 tế bào nang giáp mới được xem là đủ tiêu chuẩn để
chẩn đoán.
Dựa theo tiêu chuẩn trên chia thành 4 nhóm chính:
Tế bào lành tính.
Tổn thương dạng nang: gồm phình giáp tuyến, bướu lành tuyến giáp dạng nang,
carcinôm tuyến giáp dạng nang, carcinôm dạng nhú biến thể dạng nang. Tiêu
chuẩn để chẩn đoán ung thư dựa vào sự xâm lấn mô giáp xung quanh, vỏ bao
bướu, mạch máu nên không thể phân loại được trên tiêu bản tế bào học.
Tổn thương nghi ngờ ác tính.
Ung thư.
III. ĐỐI TƯNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
A. ĐỐI TƯNG:
Khảo sát tiền cứu 305 bệnh nhân đến khám siêu âm nhằm mục đích kiểm tra sức
khoẻ, có nhân giáp thấy được trên siêu âm nhưng thường không có dấu hiệu bất
thường trên lâm sàng.
Các nhân dạng đặc, đơn độc hay đa hạt nhỏ đường kính trục lớn nhất nhỏ hơn 1.5 cm
và được làm chọc hút tế bào bằng kim nhỏ dưới hướng dẫn của siêu âm.
Có đối chiếu với kết quả GPBL sau mổ đối với các nhân có chẩn đoán tế bào học
dương tính hay tổn thương dạng nang.
B. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Nghiên cứu các đối tượng trên thời gian từ tháng 7/2000 đến 10/2001
Máy siêu âm GE RTfino, ALOKA SSD1100, TOSHIBA SSA-340A, đầu dò thẳng 7.5
đến 8Mhz.
Chọc hút tế bào bằng kim nhỏ 25Gauge dưới hướng dẫn của siêu âm: không tạo áp
lực âm khi các nhân chảy máu nhiều, tạo áp lực âm với thể tích 2cc đối với các nhân
Echo dầy
hay đồng
echo
Echo hơi
kém
Echo rất
kém
41
153
37
3
11
6
49
2
2
1
PG
TT dạng
nang
UT dạng
nhú
Viêm
giáp
U tb
Hurthle
2
2 . Giới hạn:
0
50
TT
dạng
nang
UT
Dạng
nhú
25(10,8%)
3(18,75%)
4(7,3%)
13(23,6%)
Vôi hóa nhỏ
trong nhân
Vôi hóa to trong nhân
hay ở ngoại biên
4. Hoá nang trong nhân: 136 (58,8%) trường hợp phình giáp có kèm theo hoá nang hoặc
trong nhân hoặc quanh nhân.
0
20
40
60
80
Echo dầy Echo kém
Có vài chổ hóa
nang trong
nhân
Có hoá nang
quanh nhân
71/153
(46,4%)
17/41
tượng hoại tử. Tuy nhiên một số trường hợp nang giáp lại bò siêu âm chẩn đoán lầm
với các nhân đặc echo kém khi các nang keo này kèm theo xuất huyết cũ thì cấu trúc
echo sẽ thay đổi và hiện tượng tăng âm phía sau đôi khi không còn. Sự lầm lẫn này sẽ
được sửa sai ngay khi mũi kim đi vào sang thương và chất hút ra được là chất dòch keo
màu nâu đen. Những nang này không nằm trong loạt nghiên cứu của chúng tôi.
Phình giáp chiếm gần ¾ số nhân được làm chọc hút tế bào, trong đó phần lớn đều có
cấu trúc echo kém chiếm 66,2% (153/231) số còn lại có cấu trúc echo dầy 17,7%
(41/231) hay echo rất kém 16% (37/231). Các tác giả cũng đồng ý với nhận xét là
(10,11) : các nhân ác tính rất ít khi cho hình ảnh echo dầy mà bệnh lý thường gặp là
phình giáp hay các tổn thương dạng nang. Những nhân echo dầy trong loạt khảo sát
này chỉ được uống thuốc và theo dõi đònh kỳ, không phẩu thuật.
Ung thư tuyến giáp dạng nhú chiếm đa số trong các các ung thư và phần lớn đều có
độ hồi âm rất kém chiếm 47/55 trường hợp (85,5%). Trong 16 tổn thương dạng nang
có một trường hợp được theo dõi đònh kỳ vì bệnh nhân không dồng ý phẩu thuật tương
ứng với nhân có độ hồi âm echo dầy. 15 trường hợp còn lại đã phẫu thuật kết quả
GPBL gồm 9 ung thư tuyến giáp dạng nang, 2 ung thư tuyến giáp dạng nhú biến thể
nang là các nhân có độ hồi âm rất kém và 4 phình giáp gồm 1 nhân echo dầy và 3
echo hơi kém. Như vậy phần lớn các nhân ác tính đều có độ hồi âm rất kém (11).
Tiêu chuẩn giới hạn của nhân so với chủ mô theo chúng tôi là tiêu chuẩûn ít có giá trò.
Phần lớn phình giáp (62,8%) và các tổn thương dạng nang (62,5%) có giới hạn rõ
trong khi các ung thư dạng nhú có giới hạn không rõ (94,3%). Tuy nhiên các nhân
lành tính có giới hạn không rõ chiếm tỉ lệ cũng khá cao gồm có 37,2% trường hợp
phình giáp, và các nhân viêm giáp. Wilson. cũng có nhận xét tương tự: các nhân giới
hạn rõ, viền echo quanh nhân đều là các nhân giáp lành tính, nhưng các nhân lành
tính có giới hạn không rõ cũng thường gặp (10).
28/231 (12%) nhân phình giáp có vôi hóa to trong nhân hay vôi hóa ngoại biên bao
một phần hay toàn bộ nhân (vôi hóa dạng vỏ sò). Vôi hóa trong nhân lành tính thường
có đậm độ cao và bóng lưng rõ.13/55 (23,6%) ung thư giáp dạng nhú có 1 hay vài
đốm vôi hóa nhỏ trong nhân tương đương với Psammoma bodies. Những đốm vôi hóa
này thường nhỏ, nằm trong lòng nhân, bóng lưng thường không rõ. Dấu hiệu vôi hóa
8
K giáp dạng nhú: nhân echo
rất kém giới hạn không rõ,
đồng nhất, kt: 9,4 x 7,3mm,
xâm nhiễm vào cân mạc.
K giáp: nhân echo rất kém giới hạn không
rõ đồng nhất, kt 7,8 mm.
K giáp dạng nhú: nhân echo kém, giới hạn
không rõ, có vôi hóa nhỏ trong nhân bóng
lưng không rõ, kt 7 x 6,8 mm.
K giáp dạng nhú trên nền phình giáp đa
hạt: nhân echo kém giới hạn không rõ, có
vôi hóa trong nhân không thấy bóng lưng,
kt 8,4mm.
Phình giáp: nhân đồng echo với chủ mô
giáp, giới hạn khá rõ, có chổ hoá nang nhỏ
bên trong, kt: 9,5 x 7,2 mm.
Phình giáp hạt: Nhân echo kém giới hạn
không rõ, khá đồng nhất, kt: 12 x 5 mm
9
Phình giáp hạt: Nhân echo kém có vôi hóa
dạng vỏû sò, kt 7,2 x 5,6 mm.
Tổn thương dạng nang, phình giáp: nhân
echo hơi kém giới hạn khá rõ, đồng nhất,
tăng âm nhẹ phía sau, kt 10 x 6,8mm.
Như vậy do khảo sát tình cờ siêu âm tuyến giáp của nhưng bệnh nhân khám sức khoẻ
đònh kỳ chúng tôi đã phát hiện được 66 ung thư giáp trên tổng số 305 nhân giáp đưa
PHÌNH
GIÁP
ÁC
TÍNH Sơ đồ xử lý một nhân giáp được phát hiện tình cờ bằng SA.
VI. KẾT LUẬN:
Bên cạnh việc thực hiện các phác đồ điều trò ung thư, vấn đề tầm soát và phát hiện
sớm ung thư cũng là mối quan tâm hàng đầu của các nhà ung thư học.
Qua kiểm tra sức khoẻ, tình cờ SA đã phát hiện 305 trường hợp có nhân giáp, kết hợp
với CHBKN dưới hướng dẩn của SA đã phát hiện 66 ung thư giáp chiếm tỉ lệ 21,64%.
SA bằng đầu dò có độ ly giải và tần số cao rõ ràng đã góp phần quan trọng trong việc
tầm soát ung thư giáp, nó đã cung cấp một số tiêu chuẩn hầu hướng tới sự lành - ác
của nhân. Quan niệm SA chỉ dùng để phân biệt đặc và nang ở các thập niên 70 - 80
của thế kỷ 20 đã và đang đi dần vào quá khứ.
Nên tiến hành CHBKN đối với các nhân có cấu trúc từ echo kém đến rất kém, nhất là
các nhân có vôi hóa nhỏ bên trong.
Là phương pháp đơn giãn, rẽ tiền, không độc hại, không tai biến, độ chính xác cao.
Chúng tôi thiết nghó việc áp dụng để phát hiện sớm ung thư là điều nên thực hiện.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
(1) BRUNETON J.N., PADOVANI B. _ Imagerie en endocrinologie 1993
(2) BRUNETON J.N., TRAMALLONI J. _ chographie de la thyroide chez l' adulte.
Cours de perfectionnement post-universitaire 10/1999.
(3) BRUNETON J.N., TRAMALLONI J. _ chographie et nodules thyroidiens. 5 èmes
Journées Annuelles de Bicêtre et de l' Institut Gustave Roussy, 3/1998.
(4) LÊ VĂN XUÂN _ Vai trò chọc hút bằng kim nho3trong chẩn đoán trước mo643trong
1126 trường hợp hạt giáp. Y học TP Hồ Chí Minh, số 4 năm 2000.
(5) NGUYỄN SÀO TRUNG, NGUYỄN CHẤN HÙNG _ Bệnh học ung bướu cơ bản
1992.