VAI TRÒ CỦA SIÊU ÂM TRONG
PHÁT HIỆN SỚM UNG THƯ GIÁP.
LÊ HỒNG CÚC*
TÓM TẮT:
Ung thư giáp chiếm 1% các loại ung thư trong khi theo ghi nhận của TRUNG TÂM UNG
BƯỚU năm 1995 là 2,1%. Tỉ lệ này cao hơn ở những vùng có bướu cổ đòa phương.
Từ tháng 7 đến tháng 9/2000 dưới hướng dẩn của siêu âm (SA) chúng tôi đã thực hiện 43
ca chọc hút bằng kim nhỏ (CHBKN) trên các nhân tiền lâm sàng, trong đó có 12 ung thư
giáp chiếm tỉ lệ 27,9%.
Sử dụng siêu âm với đầu dò có độ ly giải cao và CHBKN để làm tế bào học là phương
tiện tốt nhất trong tầm soát ung thư giáp. Từ kết quả thu được chúng tôi đề xuất sơ đồ xử
trí đối với nhân giáp tiền lâm sàng.
SUMMARY:
THE ROLE OF ULTRASOUND IN THE
EARLY DETECTION OF THYROID CANCER.
Cancer of thyroid is about 1% of all kinds of cancer while, according to the research of
HCMC Cancer Center in 1995 it it 2,1%. This rate is higher in regions where goiter is
endemic disease.
From July to September 2000, due to the untrasound - guided, 43 preclinical thyroid
nodules have been performed with fine needle aspiration and 12 cases are the cancer, the
rate is 27,9%.
Using ultrasound with high resolution probe and fine needle aspiration with ultrasound -
guided is the best facility in the thyroid cancer screening. From that result, the algorith for
preclinical nodules treatment can be plained.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Ung thư giáp chiếm 1% trong tổng số các loại ung thư theo y văn thế giới, và chiếm
2,1% theo ghi nhận ung thư 1995 của TTUB (8). Đây là ung thư diễn tiến chậm, có tỉ
lệ tử vong thấp so với nhiều loại ung thư khác, do đó cơ may điều trò khỏi bệnh hoàn
toàn cho người bệnh rất cao nếu được phát hiện sớm.
Tổn thương dạng nhân đặc của tuyến giáp chiếm tỉ lệ cao, từ 4-7%, trong đó tỉ lệ ung
máu, bướu cơ trơn.
_ Viêm giáp: là bệnh lý lan toã nhưng đôi khi các viêm bán cấp hay mạn tính tạo ra hạt
trên siêu âm.
2. Các tổn thương ác tính:
_ Carcinôm: thường gặp nhất là dạng nhú (75 - 90%) tiên lượng tốt, dạng nang (5 - 15%),
dạng tủy (5%), và dạng không biệt hóa (5%) tiên lượng rất xấu.
_ Sarcôm: limphôm thường hay gặp hơn các loại khác như sarcôm sợi, sarcôm mạch máu.
III. CÁC TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ CỦA SIÊU ÂM VÀ TẾ BÀO HỌC:
1. TIÊU CHUẨN SIÊU ÂM:
Không có một tiêu chuẩn SA riêng lẻ nào để có thể xác đònh sự lành hay ác tính của các
nhanâ giáp nhất là khi các sang thương còn nhỏ nên cần phải phối hợp các tiêu chuẩn sau:
1.1: Cấu trúc echo:
Nang đồng nhất
hay không, +/-
chồi trong nang
Nhân echo dầy hay hơi
kém, +/- hóa nang trong
nhân
Nhân echo rất kém
không hoá nang trong
nhân, +/- vôi hoá trong
2
nhân
Lành
+ + -
Nghi ngờ
ác
- +/ - +
1.2: Giới hạn:
Rõ rất rõ Không rõ
CHBKN dưới hướng dẫn của siêu âm.
Có đối chiếu với kết quả GPBL sau mổ đối với các nhân có chẩn đoán tế bào học
dương tính hay tổn thương dạng nang.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Nghiên cứu tiền cứu ở các đối tượng trên thời gian từ tháng 7/2000 đến 9/2000.
3
Máy siêu âm GE RTfino, ALOKA SSD1100, TOSHIBA SSA-340A, đầu dò thẳng 7.5
đến 8Mhz.
CHBKN 25Gauge dưới hướng dẫn của siêu âm: không tạo áp lực âm khi các nhân
chảy máu nhiều, tạo áp lực âm với thể tích 2cc đối với các nhân cứng.
Sau khi giải thích, bệnh nhân được cho nằm ngửa, gối kê dưới vai, cằm hơi nâng lên
cao, đầu xoay nhẹ về bên không chọc hút nhằm bộc lộ rộng vùng cổ cần khảo sát.
Đánh dấu vò trí của nhân chiếu lên da, tìm đường vào của kim sao cho kim có đường
đi ngắn nhất để vào nhân mà không xuyên qua các mạch máu lớn (bó mạch cảnh,
giáp trên và dưới). Đo góc vào của kim so với mặt da và khoảng cách từ da đến nhân.
Chọc kim không có ống chích vào, khi đã xác đònh được kim nằm trong nhân giáp
tiến hành "cắt" mô mà vẫn luôn đảm bảo kim không đi ra khỏi tổn thương.
Nếu chất bệnh phẩm hiện ra ở đuôi kim một càch dễ dàng do lực mao dẫn thì không
cần tạo áp lực âm. Nhưng nếu mô bướu cứng, bệnh phẩm khó lấy được thì tra ống
chích vào đuôi kim và hút với áp lực âm 2cc. Đổi hướng đi của mũi kim theo ít nhất là
2 hướng. Nhả piston và rút kim ra.
Chất hút được đẩy vào tiêu bản, trải đều ra và cố đònh bằng cồn Ethylic 95% rồi gởi
đến bộ phận đọc tế bào.
IV. KẾT QUẢ:
Qua 43 trường hợp nhân giáp được CHBKN dưới hướng dẫn của SA, có 13 trường hợp
được đối chiếu với kết quả GPBL sau mổ gồm 12 ung thư giáp và 1 tổn thương dạng
nang. Những hình ảnh SA ghi nhận được:
1. Cấu trúc echo:
Siêu âm
Tế bào
Phình giáp 12 17 29
(67,4%)
Tổn thương dạng nang 02 02
(4,7%)
K giáp 01 11 12
(27,9%)
Tổng cộng 13
(30.2%)
30
(69,8%)
43
(100%)
3. Vôi hoá: Có 11 trường hợp có vôi hóa đi kèm, tỉ lệ 25,6%.
Siêu âm
Tế bào
To trong nhân hay
ngoại biên
Vôi hóa nhỏ trong
nhân
Tổng cộng
Phình giáp 4 4
Tổn thương dạng
nang
1 1
K giáp 6 6
Tổng cộng 5 6 11
4. Hoá nang trong nhân: 16 (37,2%) trường hợp có hoá nang trong nhân kèm theo, tất cả
đều phù hợp với phình giáp.
Siêu âm
Tế bào
với các nhân lành tính ( 9/29).
Tiêu chuẩn giới hạn của nhân so với chủ mô theo chúng tôi là tiêu chuẩûn ít có giá trò.
Phần lớn các trường hợp ung thư giáp đều có giới hạn không rõ (10/11# 90,9%) nhưng
các nhân lành tính có giới hạn không rõ chiếm tỉ lệ cũng khá cao (19/31 ca # 61,29%).
W. cũng có nhận xét tương tự: các nhân giới hạn rõ, viền echo quanh nhân đều là các
nhân giáp lành tính, nhưng các nhân lành tính có giới hạn không rõ cũng tường gặp
(9).
11/43 (25,6%) trường hợp có vôi hóa kèm theo, trong đó 6/12 (50%) ung thư giáp
có 1 hay vài vôi hóa nhỏ trong nhân tương đương với Psammoma bodies. Dấu hiệu
vôi hóa tuy không xuất hiện thường xuyên (11/43) nhưng là dấu hiệu rất quan trọng.
Đối với các nhân lành tính thưòng có vôi hóa ngoại biên (5ca), vôi hoá này có thể
bao một phần hay toàn bộ nhân (vôi hóa dạng vỏ sò). Các tác giả Bruneton và Wilson
cũng có nhận xét tương tự (1,2,3, 9).
Tình trạng hoá nang trong nhân cũng là tiêu chuẩn quan trọng để hướng tới tổn
thương lành tính có kích thước nhỏ (2,3,10). Chúng tôi đã quan sát thấy có 16 nhân
có hoá nang bên trong, các nang này đều phù hợp với phình giáp trên tế bào học.
Trong loạt khảo sát này, chúng tôi chỉ có thể đối chiếu với kết quả GPBL sau mổ đối
với 12 trường hợp có tế bào học dương tính, và 1 trường hợp tổn thương dạng nang và
không có sự khác biệt nào về chẩn đoán trước và sau mổ. Các ung thư phát hiện được
đều có kiểu mô học là carcinôm tuyến giáp dạng nhú là loại rất thường gặp, còn các
kiểu mô học khác không tìm thấy được trong loạt khảo sát này. Những trường hợp
được tế bào học chẩn đoán lành tính đang được điều trò nội khoa và theo dõi đònh kỳ,
sẽ thực hiện chọc hút tế bào lần hai nếu kích thước nhân không thay đổi hay tăng
thêm.
Ở giai đoạn khởi đầu, chúng tôi chỉ mới thực hiện được trên 43 ca nhân đặc tuyến
giáp, nhưng đã phát hiện được 12 ca ung thư. Mặc dù số ca còn ít vì việc tầm soát ung
thư giáp bằng SA chưa được biết đến nhiều và chưa phổ biến rộng rãi nhưng điều này
cũng cho thấy rằng nhờ CHBKN dưới hướng dẫn của SA ta có thể phát hiện được các
6
ung thư tiền lâm sàng. Vì thế chúng tôi xin đề xuất phác đồ dưới đây nhằm xử lý
ÁC
TÍNH
Sơ đồ xử lý một nhân giáp được phát hiện tình cờ bằng SA.
VI. KẾT LUẬN:
Bên cạnh việc thực hiện các phác đồ điều trò ung thư, vấn đề tầm soát và phát hiện
sớm ung thư cũng là mối quan tâm hàng đầu của các nhà ung thư học.
Qua kiểm tra sức khoẻ, tình cờ SA đã phát hiện 43 trường hợp có nhân giáp, kết hợp
với CHBKN dưới hướng dẩn của SA đã phát hiện 12 ung thư giáp chiếm tỉ lệ 27,9%.
SA bằng đầu dò có độ ly giải và tần số cao rõ ràng đã góp phần quan trọng trong
việc tầm soát ung thư giáp, nó đã cung cấp các tiêu chuẩn hầu hương tới sự lành - ác
của nhân. Quan niệm SA chỉ dùng để phân biệt đặc và nang ở các thập niên 70 -
80 của thế kỷ 20 đã và đang đi dần vào quá khứ.
Là phương pháp đơn giãn, rẽ tiền, không độc hại, không tai biến, độ chính xác
cao. Chúng tôi thiết nghó việc áp dụng để phát hiện sớm ung thư là điều nên thực
hiện.
VII. TÀI LIỆU THAM KHẢO:
(1) BRUNETON J.N., PADOVANI B. _ Imagerie en endocrinologie 1993
(2) BRUNETON J.N., TRAMALLONI J. _ chographie de la thyroide chez l' adulte.
Cours de perfectionnement post-universitaire 10/1999.
(3) BRUNETON J.N., TRAMALLONI J. _ chographie et nodules thyroidiens. 5 èmes
Journées Annuelles de Bicêtre et de l' Institut Gustave Roussy, 3/1998.
(4) NGUYỄN SÀO TRUNG, NGUYỄN CHẤN HÙNG _ Bệnh học ung bướu cơ bản
1992.
(5) NGUYỄN SÀO TRUNG, NGUYỄN CHẤN HÙNG _ Cẫm Nang Ung bướu học lâm
sàng, tập 2/ 1992.
(6) TRẦN THANH PHƯƠNG _ Y học TP Hồ CHí Minh, Số 4 năm 1999. Chẩn đoán và
điều trò bướu giáp đơn nhân.
(7) TRINH MINH CHÂU, TẠ TRỌNG THU _ Y học TP Hồ Chí Minh, số 4 năm 1999.
Kết quả bước đầu điều trò ung thư giáp bằng NaI tại BV Chợ Rẫy.
Tổn thương dạng nang: nhân echo hơi
kém giới hạn khá rõ, đồng nhất, tăng
âm nhẹ phía sau, kt 10 x 6,8mm.
K giáp dạng nhú: nhân echo kém,
giới hạn không rõ, có vôi hóa nhỏ
trong nhân, kt 7 x 6,8 mm.
K giáp dạng nhú trên nền phình giáp đa
hạt: nhân echo kém giới hạn không rõ,
có vôi hóa trong nhân, kt 8,4mm.
10
K giáp: nhân echo hém giới hạn
không rõ đồng nhất, kt 7,8 mm.
11