1
VIỆN MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN
NGÀNH QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
MÔN HỌC: QUẢN LÝ BỀN VỮNG CÁC NGUỒN NĂNG LƯỢNG
TIỂU LUẬN :
HVTH : TRƯƠNG THỊ MINH HẠNH
MSHV : 201010007
LỚP : QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG 2010
GV : GS.TS TRẦN CHÍ HIỆP
TP.Hồ Chí Minh 06/2011
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU……………………………………………………………………… 3
I. TÌNH HÌNH KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG Ở VIỆT NAM
I.1. Nhiên liệu cho phát triển đất nước…………………………………………. 4
I.2. Sử dụng năng lượng tác động làm ô nhiễm môi trường……………………6
I.3. Nguồn năng lượng mới……………………………………………………….7
II. CÁC GIẢI PHÁP VÀ CHÍNH SÁCH KHUYẾN KHÍCH ĐẨY MẠNH
TIẾT KIỆM VÀ SỬ DỤNG HIỆU QUẢ NĂNG LƯỢNG Ở VIỆT NAM
II.1. Quan điểm về chính sách năng lượng của Việt Nam……………………….8
II.2. Khung pháp lý thúc đẩy tiết kiệm năng lượng ở Việt Nam……………… 9
2.1.1. Cấp Quốc Hội…………………………………………………………… 9
2.1.2. Cấp Chính Phủ………………………………………………………… 11
2.1.3. Cấp Bộ……………………………………………………………………11
II.3. Các giải pháp kỹ thuật…………………………………………………… 12
II.4. Ý nghĩa của việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả…………… 13
II.5. Các nhóm nội dung sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả………… 15
III. CÁC GIẢI PHÁP VÀ CHÍNH SÁCH SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG Ở MỘT
SỐ QUỐC GIA………………………………………………………………17
III.1. Nhật Bản…………………………………………………………………… 17
III.2. Mỹ…………………………………………………………………………….19
hoạch khai thác các nguồn năng lượng nội địa hợp lý, tình huống phải nhập khẩu năng
lượng sẽ xuất hiện vào khoảng năm 2015. Điều đó cho thấy vấn đề năng lượng của Việt
Nam sẽ chuyển từ giới hạn trong phạm vi một quốc gia thành một phần của thị trường
quốc tế và chịu sự tác động thay đổi của nó.
3
I. TÌNH HÌNH KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG Ở VIỆT NAM
1.1. Nhiên liệu cho phát triển đất nước
Than
Trong quy hoạch phát triển ngành than đến năm 2020, tầm nhìn 2025, tính đến ngày
1/1/2008, trữ lượng và tài nguyên than đã được thăm dò và xác minh là 40,93 tỷ tấn,
trong đó trữ lượng than đã được tìm kiếm - thăm dò là 6,14 tỷ tấn; Tài nguyên than đã
xác minh là 34,79 tỷ tấn.
Dầu khí
Bên cạnh đó, trong báo cáo khả năng và định hướng phát triển năng lượng quốc gia
đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050 của Vụ Năng lượng – Bộ Công Thương, tổng
trữ lượng và tiềm năng dầu khí toàn thềm lục địa nước ta khoảng 3,3-4,4 tỷ m
3
dầu
quy đổi, trong đó khí chiếm tỷ lệ 55-60%.
Thủy điện
Riêng với tiềm năng thủy điện, theo đánh giá của Chương trình nghiên cứu cấp nhà
nước Khoa học công nghệ 2009: “Xây dựng chiến lược và chính sách năng lượng bền
vững”, tiềm năng thủy điện của nước ta vào khoảng 75-80 tỷ kWh với công suất
tương ứng 18.000-20.000MW.
Năng lượng tái tạo
Tiềm năng các nguồn năng lượng tái tạo của Việt Nam cũng rất dồi dào
4
+ Địa nhiệt: Theo tính toán sơ bộ, Việt Nam có thể khai thác địa nhiệt tới 200MW
vào năm 2020.
+ Năng lượng mặt trời: Việt Nam có 2.000-2.500 giờ nắng trong một năm, tổng
Tương tự như vậy, ngành than cũng có sự tăng trưởng vượt bậc để đáp ứng đủ nhu
cầu cho sản xuất và tiêu thụ. Nếu như năm 2005, sản lượng than sạch đạt trên 34 triệu
tấn thì đến năm 2010, sản lượng than sạch toàn ngành đạt 44 triệu tấn, tăng trên 29%.
Năng lượng hiện là nhóm ngành luôn được xếp vào những ngành xuất khẩu chủ lực
của Việt Nam trong thời gian qua, mang lại nhiều lợi nhuận nhất cho nước ta khi xuất
khẩu. Cụ thể, trước đây, dầu thô luôn giữ vững vị trí dẫn đầu trong những mặt hàng
xuất khẩu chủ lực của nước ta, năm 2005, tổng giá trị xuất khẩu dầu thô vào khoảng
5
7,73 tỷ USD. Mặc dù gần đây, với định hướng là khai thác đảm bảo đáp ứng nhu cầu
sử dụng trong nước nhưng với giá năng lượng tăng cao, lợi nhuận thu được từ nhóm
hàng này cũng không hề nhỏ. Cụ thể, nhóm hàng nhiên liệu (gồm dầu thô, than đá,
khoáng sản) vẫn đạt 7,92 tỷ USD năm 2010, đứng thứ 2 trong các nhóm ngành xuất
khẩu chủ lực của nước ta.[1]
1.2. Sử dụng năng lượng tác động làm ô nhiễm môi trường:
Năng lượng hóa thạch gây ô nhiễm môi trường. Quá trình cháy của nhiên liệu hóa
thạch tạo nên điôxit cácbon CO
2
và mêtan CH
2
cả hai là chất khí gây hiệu ứng nhà
kính là nguyên nhân thay đổi khí hậu và làm nóng toàn cầu. Theo thống kê trong số
các chất khí gây hiệu ứng nhà kính CO
2
chiếm 54%, metan 12%, Ozon 7%. Bức xạ từ
mặt trời một phần bị phản xạ bởi bầu khí quyển nhưng đa số bị bề mặt trái đất hấp thụ
làm mặt đất bị nóng lên. Một số bức xạ hồng ngoại qua lớp không khí và một số bị
các phân tử khí gây hiệu ứng nhà kính, chủ yếu là CO2 bức xạ lại theo mọi hướng
Kết quả là bề mặt trái đất và lớp không khí tầm thấp bị đốt nóng nhiều hơn. Đây chính
là hiệu ứng nhà kính gây phát nóng toàn cầu.
Than là loại nhiên liệu phát thải CO2 nhiều nhất. Trung bình 1 kg than phát thải 1,83
II. CÁC GIẢI PHÁP VÀ CHÍNH SÁCH KHUYẾN KHÍCH ĐẨY MẠNH
TIẾT KIỆM VÀ SỬ DỤNG HIỆU QUẢ NĂNG LƯỢNG Ở VIỆT NAM
2.1. Quan điểm về chính sách năng lượng của Việt Nam
Quan điểm và chính sách năng lượng của Việt Nam dựa trên sự hài hòa giữa hiệu quả
kinh tế, an ninh năng lượng và bảo vệ môi trường. Cụ thể là:
Khai thác đa dạng, hợp lý và có hiệu quả nguồn tài nguyên trong nước, kết hợp với xuất
nhập khẩu hợp lý trên cơ sở giảm dần, tiến đến không xuất khẩu nhiên liệu sơ cấp, đáp
ứng nhu cầu năng lượng cho phát triển kinh tế xã hội, bảo tồn nhiên liệu và đảm bảo an
ninh năng lượng cho tương lai
7
Nguồn điện hạt nhân ở nước ta dự tính xuất hiện vào khoảng 2020
Phát triển các công trình mới đồng thời với việc cải tạo nâng cấp các công trình cũ. Sử
dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong các khâu từ sản xuất, truyền tải, chế biến và
sử dụng năng lượng.
Phát triển năng lượng đi đôi với bảo tồn tài nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái. Đảm
bảo phát triển bền vững ngành năng lượng.
Từng bước hình thành thị trường cạnh tranh, đa dạng hóa phương thức đầu tư và kinh
doanh ngành năng lượng. Nhà nước chỉ độc quyền những khâu then chốt để đảm bảo an
ninh năng lượng quốc gia.
Đẩy mạnh chương trình năng lượng nông thôn. Nghiên cứu phát triển các dạng năng
lượng mới và tái tạo để đáp ứng cho nhu cầu sử dụng năng lượng, đặc biệt đối với các hải
đảo, vùng sâu, vùng xa.
Phát triển nhanh ngành năng lượng theo hướng đồng bộ, hiệu quả, trên cơ sở phát huy
nguồn nội lực, kết hợp với hợp tác quốc tế.
8
Phát triển dựa trên cơ sở sử dụng hợp lý, có hiệu quả nguồn tài nguyên năng lượng mỗi
miền, đảm bảo cung cấp đầy đủ, liên tục, an toàn cho nhu cầu năng lượng của tất cả các
vùng trong toàn quốc.
Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển nguồn điện trên cơ sở tiềm năng
năng lượng sẵn có của Việt nam, hạn chế phụ thuộc vào năng lượng nhập khẩu.[3]
1. Chiến lược, quy hoạch, chương trình sử dụng năng lượng phải đáp ứng các yêu cầu sau
đây:
a) Cung cấp năng lượng ổn định, an toàn; sử dụng hợp lý, tiết kiệm nguồn tài nguyên
năng lượng;
b) Dự báo cung, cầu năng lượng phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội; kết hợp hài hòa, cân đối giữa các quy hoạch ngành than, dầu khí, điện
lực và các quy hoạch năng lượng khác;
c) Thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, ưu tiên phát triển hợp lý công
nghệ năng lượng sạch, nâng cao tỷ trọng sử dụng năng lượng tái tạo;
d) Xây dựng và thực hiện lộ trình chế tạo phương tiện, thiết bị, vật liệu xây dựng tiết
kiệm năng lượng.
2. Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo việc xây dựng và thực hiện chiến lược, quy hoạch,
chương trình sử dụng năng lượng.
Điều 8. Các hành vi bị cấm
1. Hủy hoại nguồn tài nguyên năng lượng quốc gia.
2. Giả mạo, gian dối để được hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước trong hoạt động sử
dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.
3. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong quản lý sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả
vì mục đích vụ lợi.
4. Cố ý cung cấp thông tin không trung thực về hiệu suất năng lượng của phương tiện,
thiết bị trong hoạt động dán nhãn năng lượng, kiểm định, quảng cáo và các hoạt động
khác gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, hộ
gia đình, cá nhân.
5. Sản xuất, nhập khẩu, lưu thông phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng thuộc Danh
mục phương tiện, thiết bị phải loại bỏ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.[2]
Ngoài ra còn có các chương quy định việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả
trong sản xuất công nghiệp, trong xây dựng và chiếu sáng công cộng, trong giao thông
vận tải, trong sản xuất nông nghiệp, trong hoạt động dịch vụ và hộ gia đình, trong dự án
đầu tư – cơ quan – đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước, quản lý việc sử dụng của cơ sở sử
dụng năng lượng trọng điểm, quản lý phương tiện – thiết bị sử dụng năng lượng, biện
1,32 tỷ kWh trong giai đoạn 2006-2014.
+ Chương trình tiết kiệm năng lượng thương mại thí điểm CEEP do Qũy Môi
trường toàn cầu thông qua Ngân hàng thế giới với mục tiêu khuyến khích phát triển dịch
vụ tiết kiệm năng lượng mang tính chất thương mại, thử nghiệm các mô hình quản lý dự
án và cơ chế tài chính nhằm hỗ trợ các hoạt động tiết kiệm năng lượng.
+ Dự án Nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trong các doanh nghiệp vừa và
nhỏ ở Việt Nam PECSME do Qũy Môi trường toàn cầu tài trợ với mục tiêu nhân rộng
11
công nghệ hiệu quả năng lượng 5 ngành gạch, gốm sứ, giấy và bột giấy, dệt nhuộm và
công nghệ thực phẩm.[3]
2.3. Các giải pháp kỹ thuật
Ba lĩnh vực được coi là có tiềm năng tiết kiệm năng lượng cao nhất cần khai thác là tiết
kiệm điện năng cho các nhà máy công nghiệp; tiết kiệm điện năng cho các tòa nhà; và tiết
kiệm điện năng trong chiếu sáng, dịch vụ, sinh hoạt. Trong khi các ngành công nghiệp
chính ở nước ta đang tiêu thụ tới 50% năng lượng nhưng do chưa có qui định hay tiêu
chuẩn cụ thể nào trong quản lý tiêu thụ điện năng, dẫn đến tình trạng các ngành này lại sử
dụng điện năng nhiều hơn nhu cầu thực tế từ 15-50%, còn trong các tòa nhà cũng sử dụng
nhiều hơn nhu cầu tới 25% thì việc tìm kiếm các giải pháp tiết kiệm năng lượng là hết
sức cần thiết.
Các doanh nghiệp cần nhận thức được vai trò của tiết kiệm năng lượng trong các hoạt
động sản xuất, kinh doanh để mạnh dạn đầu tư đổi mới công nghệ, thiết bị nhằm nâng
cao hiệu quả sử dụng năng lượng, bởi trên thực tế, lợi ích của việc quản lý năng lượng
luôn cao hơn so với chi phí đầu tư và lợi nhuận thu được từ tiết kiệm năng lượng có thể
bù đắp cho chi phí đầu tư chỉ trong một thời gian không lâu. Để khuyến khích các doanh
nghiệp thực hiện tiết kiệm năng lượng, Nhà nước cũng đã ban hành nhiều chính sách ưu
đãi như hỗ trợ hoàn toàn chi phí cho các doanh nghiệp khi thực hiện kiểm toán năng
lượng, được tư vấn kỹ thuật và được hỗ trợ hoặc bảo lãnh vốn vay nếu doanh nghiệp có
kế hoạch đổi mới, cải tiến công nghệ. Có thể lấy Dự án nâng cao hiệu quả sử dụng năng
lượng trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa (PECSME) làm ví dụ. Dự án đã tư vấn chuyển
giao các công nghệ sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả cho các doanh nghiệp
thiết bị sử dụng điện khác như điều hòa nhiệt độ, bình đun nước nóng, tủ lạnh, nồi cơm
điện, quạt máy nhằm hướng người tiêu dùng quan tâm nhiều hơn trong tiết kiệm năng
lượng.
Tuy nhiên, các giải pháp nói trên chủ yếu còn mang tính khuyến khích, chưa có chế tài
bắt buộc. Tin rằng, khi Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả được ban hành và
đi vào cuộc sống thì ý thức và trách nhiệm về tiết kiệm năng lượng sẽ được điều chỉnh
mạnh mẽ hơn, hạn chế tối đa tình trạng lãng phí năng lượng, đáp ứng tốt hơn nhu cầu
năng lượng cho phát triển kinh tế xã hội của đất nước, đồng thời góp phần vào sự nghiệp
bảo vệ môi trường toàn nhân loại.
2.4. Ý nghĩa của việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả
Việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình
phát triển năng lượng. Thực hiện tốt công tác này sẽ góp phần đáp ứng nhu cầu sử dụng
năng lượng ngày một cao hơn của nền kinh tế quốc dân, đồng thời bảo vệ được môi
trường. Khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên năng lượng giúp tiết kiệm ngoại tệ, phát
triển kinh tế –xã hội một cách bền vững.
Tính toán cho thấy nếu giảm hệ số đàn hồi năng lượng (tỷ số giữa tốc độ tăng tiêu thụ
năng lượng/tốc độ tăng trưởng GDP trong cùng giai đoạn) từ 1,46 hiện nay xuống 0,9 vào
năm 2010, và 0,8 vào năm 2020 và các năm sau thì có thể tiết kiệm được khoảng 1 triệu
TOE, tương đương với khoảng 250 triệu USD vào năm 2010 và 2 triệu TOE khoảng 500
triệu USD vào năm 2020.
Mục tiêu giảm hệ số đàn hồi trước hết là nhằm vào công nghiệp và giao thông vận tải –
13
hai ngành tiêu thụ năng lượng chính (chiếm khoảng 38% và 35% nhu cầu năng lượng),
tiếp đến là ngành thương mại, dịch vụ và dân dụng.
Ngành công nghiệp Việt Nam hiện đang có cường độ năng lượng rất lớn: Để làm ra 1000
USD giá trị gia tăng thì tiêu thụ khoảng 600-700 kg TOE. Các giải pháp chính được các
chuyên gia xây dựng chính sách năng lượng quốc gia Việt Nam đưa ra đối với ngành này
là cần thực hiện các biện pháp công nghệ, cải tiến quản lý sửa chữa phục hồi cải tiến thiết
bị; đổi mới nâng cấp thiết bị thay thế các thiết bị có hiệu suất thấp đổi mới công nghệ, sử
dụng thiết bị hiện đại có hiệu suất năng lượng cao; thực hiện các giải pháp khoa học và
lượng. Tập đoàn Điện lực Việt Nam chỉ có thể đảm bảo được từ 40-50% nhu cầu đầu tư
kể trên do đó Việt Nam đã kêu gọi sự đầu tư nước ngoài. Nhiều tập đoàn nuớc ngoài đã
chú ý đến thị trường Việt Nam. Tuy nhiên, một trong những khó khăn mà nhóm này gặp
phải là tính chất phức tạp của tiến trình kí kết hợp đồng trong địa hạt năng lượng. Lí do là
cần phải đàm phán với mọi cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương và với mọi
đối tác kinh tế từ phía cung ứng nhiên liệu như tập đoàn dầu khí Petro Vietnam cho đến
phía phân phối điện. Nói chung, gia tăng sản xuất điện đang là vấn đề thách thức lớn
mà Việt Nam cần phải nhanh chóng giải quyết nếu không muốn đà tăng trưởng bị
chậm lại. Nguy cơ thiếu hụt nguồn điện đã và đang hiện diện đặc biệt là vào mùa
khô.
2.5. Các nhóm nội dung sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả
Nhóm nội dung 1: Tăng cường quản lý nhà nước về sử dụng năng lượng tiết kiệm và
hiệu quả, tổ chức hệ thống quản lý về tiết kiệm năng lượng. Trong nhóm nội dung này
• Đề án thứ nhất là hoàn thiện khung pháp lý về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả
trong sản xuất công nghiệp, trong quản lý các công trình xây dựng, trong sinh hoạt đời
sống và trang thiết bị sử dụng năng lượng. Nội dung chính là ban hành các văn bản, xây
dựng cơ chế chính sách về biểu giá năng lượng, xây dựng ban hành quy chuẩn xây dựng,
xây dựng, ban hành 10 bộ tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng cho 10 chủng loại thiết bị,
soạn thảo trình Quốc hội thông qua Luật về sử dụng năng lượng.
Nhóm nội dung 2: Tăng cường giáo dục, tuyên truyền phổ biến thông tin, vận động cộng
đồng, nâng cao nhận thức, thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Nhóm nội
dung này gồm có 3 đề án:
• Đề án thứ hai: Tuyên truyền nâng cao nhận thức về sử dụng năng lượng tiết kiệm và
hiệu quả trong nhân dân.
• Đề án thứ ba: Đưa các nội dung về giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả
vào hệ thống giáo dục quốc gia.
• Đề án thứ tư: triển khai thí điểm cuộc vận động xây dựng mô hình “Sử dụng tiết kiệm
năng lượng trong mỗi gia đình”
Nhóm nội dung 3: Phát triển, phổ biến các trang thiết bị hiệu suất cao, tiết kiệm năng
lượng, từng bước loại bỏ các trang thiết bị hiệu suất thấp.
hiện nay về phát triển năng lượng và phát triển kinh tế-xã hội theo phương án phát triển
bình thường.[3]
III. CÁC GIẢI PHÁP VÀ CHÍNH SÁCH SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG Ở MỘT
SỐ QUỐC GIA
3.1. Nhật Bản
16
Ngành công nghiệp Nhật Bản đã làm phát sinh nhu cầu năng lượng rất lớn
Kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ II, sự phát triển nhanh chóng của các ngành công
nghiệp Nhật Bản đã làm phát sinh nhu cầu năng lượng rất lớn. Hai cuộc khủng khoảng
dầu mỏ thế giới liên tiếp vào thập niên 1970 càng làm cho nhu cầu này trở nên bức thiết
và bộc lộ rõ sự yếu kém của đất nước mặt trời mọc trong cân bằng cung cầu năng lượng
quốc gia.
Tuy nhiên, chính phủ và người dân Nhật Bản đã xem đây là một bài học lớn nhằm không
ngừng nỗ lực xây dựng một cán cân năng lượng bền vững. Ở lĩnh vực cung, việc đa dạng
hóa các nguồn năng lượng đã giúp chuyển đổi thành công sang các dạng năng lượng thay
thế như khí gas tự nhiên và điện hạt nhân. Đối với mức cầu, hàng loạt chính sách và giải
pháp tiết kiệm năng lượng được dựa trên một nền tảng pháp lý vững chắc đã giúp cho
Nhật Bản không chỉ đạt hiệu quả cao trong công tác bảo tồn năng lượng mà còn thực hiện
tốt các cam kết bảo vệ môi trường.
Hiệu quả sử dụng năng lượng ở Nhật Bản
Sự tăng trưởng không ngừng của các ngành công nghiệp Nhật Bản trong vài thập kỷ vừa
qua đã làm nhu cầu sử dụng năng lượng ngày một tăng nhanh. Ngoài ra, do mức sống của
người dân ngày càng được tăng cao, nhu cầu năng lượng trong các lĩnh vực thương mại,
sinh hoạt và đặc biệt là giao thông cũng ngày càng gia tăng. Vào năm 2000, mức tiêu thụ
năng lượng của Nhật Bản tăng gấp 9 lần so với năm 1955 và gấp 2 lần so với năm 1970.
Trong khi đó, do hầu như không có sẵn các nguồn năng lượng hóa thạch trong nước, đất
nước mặt trời mọc này phải phụ thuộc rất lớn vào các nguồn cung cấp từ nước ngoài, đặc
biệt là từ Trung Đông. Tuy nhiên, kể từ sau hai cuộc khủng hoảng năng lượng thế giới,
Nhật Bản đã đồng loạt tiến hành nhiều chính sách và biện pháp bảo tồn năng lượng. Nhờ
những nỗ lực này, mức phụ thuộc vào dầu nhập khẩu của quốc đảo này đã giảm từ 77%
khi được sửa đổi vào tháng 10/2003, thời hạn áp dụng luật được kéo dài đến năm 2013
nhằm tiếp tục hỗ trợ các doanh nghiệp tự nguyện tiến hành các dự án sử dụng các nguồn
tài nguyên thiên nhiên và năng lượng hiệu quả.
Với tôn chỉ tạo ra các chính sách năng lượng linh hoạt và toàn diện, vào năm 2002, chính
phủ Nhật Bản đã ban hành Luật cơ sở về các giải pháp chính sách năng lượng. Luật này
đưa ra 3 nguyên tắc cơ bản về chính sách năng lượng bao gồm an ninh năng lượng, bảo
vệ môi trường và cơ chế thị trường trong cung và cầu năng lượng.
Các giải pháp sử dụng hiệu quả năng lượng
Trong giai đoạn đầu của công tác bảo tồn năng lượng, với nhiều nỗ lực hợp tác giữa
chính phủ và các thành phần kinh tế tư nhân, hàng loạt các giải pháp tiết kiệm và sử dụng
hiệu quả năng lượng đã được ưu tiên áp dụng cho các ngành công nghiệp vì đây là lĩnh
18
vực tiêu thụ nhiều năng lượng. Các giải pháp mang lại hiệu quả cao bao gồm: Các công
đoạn kiểm tra quan trọng cho các giải pháp kỹ thuật bảo tồn năng lượng;Bảo tồn năng
lượng thông qua hợp tác giữa các nhà máy và công sở; Kiểm toán năng lượng ở các nhà
máy.
Vào những năm đầu thập niên 1990, công tác bảo tồn năng lượng chuyển thêm hướng tập
trung vào lĩnh vực thương mại - sinh hoạt và đã nhận được sự hưởng ứng tích cực từ mọi
thành phần công chúng. Rất nhiều giải pháp tiết kiệm và sử dụng hiệu quả năng lượng đã
được áp dụng triệt để trong các tòa nhà cao ốc, văn phòng, cửa hàng bán lẻ, v.v Các
giải pháp được đánh giá cao có thể kể: Chương trình TopRunner, Chương trình dán nhãn
tiết kiệm năng lượng, Hệ thống chứng nhận cho các cửa hàng bán lẻ, Hệ thống quản lý
năng lượng trong nhà và trong các tòa nhà, Kiểm toán năng lượng trong các tòa nhà.
Đối với ngành giao thông, các giải pháp bảo tồn năng lượng vừa giúp tăng cường quản lý
nhu cầu giao thông vừa tập trung cải tiến hiệu quả trong lưu thông, ví dụ như: Chương
trình lái xe sinh thái: điển hình là chương trình khuyến khích tắt động cơ khi xe dừng lại
ở đèn đỏ. Cải tiến hạ tầng an toàn giao thông tránh gây ùn tắc. [4]
3.2. Mỹ: Sử dụng năng lượng hiệu quả đã giúp Đại học UC, Hoa Kỳ, tiết kiệm mỗi
năm khoảng 21 triệu đô-la Mỹ
Đại học UC, Hoa kỳ, đã vinh dự nhận được 50 chứng nhận LEED, nhiều nhất trong tất cả
tư vào 4 tiện ích của bang California, Hoa Kỳ. Các tiện ích cung cấp lên đến 60 triệu
USD tài trợ ưu đãi cho các dự án hiệu quả, nếu Đại học UC cung cấp: 187 triệu kWh và
10,8 triệu đơn vị nhiệt trong việc tiết kiệm năng lượng hàng năm, đủ để cung cấp điện
cho 30.000 ngôi nhà, vào cuối năm 2011.
Từ tháng 1 năm 2009 cho tới tháng 9 năm 2010, hiệu quả mang lại của các dự án đã được
thực hiện hoàn tất, theo những người đang đang tiếp tục thực hiện dự án khác, cho đến
thời điểm này ước tính tiết kiệm được: 94,4 triệu kWh và 7,6 triệu đơn vị nhiệt trong việc
tiết kiệm năng lượng hàng năm, dẫn đến việc giảm thải hàng năm khoảng 71.600 tấn khí
gây hiệu ứng nhà kính, theo báo cáo về tính bền vững hàng năm của Đại học UC, Hoa
Kỳ.
Các tiện ích được ưu đãi cung cấp kinh phí, và vì mục tiêu phát triển bền vững mà lãnh
đạo trường Đại học UC, đã vận động các cơ sở, đồng loạt hành động với nỗ lực cao để
cải thiện hiệu quả sử dụng năng lượng.
Một đạo luật nhà nước dự kiến có hiệu lực vào tháng Giêng sẽ giám sát và thu phí trên
lượng khí phát thải carbon của doanh nghiệp thải ra môi trường, có thể cung cấp thêm các
ưu đãi bổ sung. Các tổ chức lớn như trường Đại học UC, Hoa Kỳ, có khả năng sẽ phải
đối mặt với một khoản phí cho lượng khí thải của mình. Đây là lợi thế tài chính của Đại
học UC, Hoa Kỳ, khi cắt giảm lượng khí thải carbon của mình càng nhiều càng tốt, theo
Marić Munn, giám đốc quản lý của các cơ sở của Đại học UC San Francisco, Hoa Kỳ.
Những yếu tố này, cùng với sự cần thiết để tiết kiệm chi tiêu trong thời buổi bị cắt giảm
ngân sách, Đại học UC, Hoa Kỳ, đang đẩy mạnh việc sử dụng năng lượng sao cho đạt
hiệu quả cao nhất.
Các khoản trợ cấp trên cũng cấp vốn cho việc cài đặt hệ thống giám sát: Theo dõi xem,
cần bao nhiêu năng lượng cho hệ thống chính của toà nhà, các nhà nghiên cứu Đại học
UC, làm việc tại Viện Năng lượng và Môi trường California, và Phòng thí nghiệm quốc
20
gia Lawrence Berkeley, Hoa kỳ, đã phát triển kỹ thuật giám sát trên trong những năm
1990 và nó đã được thông qua như một chuẩn công nghiệp.
Theo dõi các dữ liệu trên thiết bị, cho phép vận hành dựa trên cơ sở quản lý để xác định
các thiết bị đó có hoạt động đúng cách hay không, và đây cũng là một trong những cách
Ngoài ra, trong nhiều trường hợp, các đèn LED cung cấp, ánh sáng, chất lượng sáng tốt
hơn so với trước đây, và các đèn mới cũng tăng cường an toàn, theo các cuộc điều tra tập
trung và tham vấn với cảnh sát khuôn viên trường, theo Cioni.
Trung tâm chiếu sáng cùng làm việc với Đại học UC Irvine để trang bị mới hệ thống đèn
bên ngoài khuôn viên và thực hiện một số nâng cấp nhỏ ở Đại học UC Santa Barbara và
Đại học UC San Francisco.
Công việc ở Phòng thí nghiệm:
Cùng với đèn chiếu sáng, năng lượng được sử dụng nhiều nhất trong các phòng thí
nghiệm, phòng nghiên cứu tại các trường đại học lớn, trong đó có thiết bị chuyên ngành
của họ và các hệ thống thông gió, có thể sử dụng 4-5 lần năng lượng nhiều hơn một lớp
học hay một văn phòng với kích thước tương tự, và có thể sử dụng 2/3 mức tiêu thụ năng
lượng của toàn trường.
Phần lớn năng lượng được sử dụng bởi các phòng thí nghiệm là từ các hệ thống thông
gió: trong, mát, lọc, nhiệt, khử ẩm và phân phối không khí trong một tòa nhà của phòng
thí nghiệm, sau đó xả nó ở tốc độ cao như một biện pháp an toàn. Thông thường, các tòa
nhà phòng thí nghiệm là môi trường mà khối lượng không khí trao đổi toàn bộ từ sáu đến
12 lần / giờ, 24 giờ một ngày, bất kể điều kiện phòng hoặc chất lượng không khí. Hệ
thống thông gió hiệu quả hơn được xây dựng đồng bộ hóa với các phòng thí nghiệm và
kiểm soát chất lượng không khí trong tòa nhà thông qua cảm biến, giúp làm giảm số
lượng thay đổi không khí mỗi giờ.
Các công nghệ mới và tiến bộ trong thực tiễn xây dựng đang giúp trang bị thêm các
phòng thí nghiệm mới trở nên hiệu quả và bền vững. Các cơ sở này có các tính năng như:
theo dõi dựa trên vận hành, điều khiển thông gió tập trung, tủ đông mới với nhiệt độ cực
thấp sử dụng điện ít hơn, mũ trùm hơi hiệu quả cao, chiếu sáng ít tốn năng lượng và tái
chế vật liệu xây dựng.
Công nghệ tương lai:
Trong tương lai nguồn năng lượng tái tạo như năng lượng mặt trời sẽ đóng vai trò quan
trọng trong việc cắt giảm khí thải carbon và sự phụ thuộc của Đại học UC vào lưới năng
lượng điện của tiểu bang. Hiện nay, các đầu tư ban đầu và trở ngại về hậu cần trong việc
triển khai chúng trên một quy mô lớn là một thách thức kinh tế, theo Dirk van Ulden, phó
hỗ trợ kinh phí cho việc triển khai các dự án cụ thể tại địa phương và tham gia các khoá
đào tạo chuyên ngành do Chương trình tổ chức. Các doanh nghiệp cũng được hỗ trợ
100% kinh phí để tổ chức kiểm toán năng lượng và được cung cấp thông tin về công
nghệ tiết kiệm năng lượng, đào tạo kỹ năng về tiết kiệm năng lượng từ Chương trình.[8]
Việt Nam có những điều kiện thuận lợi nếu biết khai thác, tận dụng hợp lý để tiết kiệm
năng lượng trong
+ Xây dựng: Ngay từ khâu thiết kế thì việc chọn số liệu khí hậu thích hợp (về bức
xạ mặt trời, nhiệt độ không khí, độ ẩm tương đối, gió, điều kiện tiện nghi vi khí hậu công
trình,…) để phát triển công trình xanh, tiết kiệm năng lượng trên cơ sở tận dụng tối đa
điều kiện khí hậu thiên nhiên và cảnh quan tự nhiên. Nhất là trong vấn đề tổ chức thông
gió tự nhiên và tận dụng ánh sáng tự nhiên. Cũng trong khâu thiết kế, việc chọn kiểu
23
dáng, hình khối nhà cao tầng không chỉ thuần túy về phương diện thẩm mỹ kiến trúc mà
còn có tác dụng tiết kiệm năng lượng trong quá trình xây dựng và vận hành, sử dụng.
Việc lựa chọn hệ thống cửa sổ nhằm tận dụng ánh sáng tự nhiên để chiếu sáng cho phòng
cũng là một biện pháp hữu hiệu để tiết kiệm năng lượng trong xây dựng.
+ Sản xuất sử dụng vật liệu xây dựng:
Chẳng hạn, sử dụng gạch không nung trong xây dựng, đỡ tốn kém nhiên liệu nung, giảm
khí thải và ô nhiễm nhiệt, tạo loại vật liệu thân thiện với môi trường. Trong điều kiện khí
hậu nhiệt đới nóng ẩm Việt Nam, nếu vật liệu xây dựng không đảm bảo tốt các yếu tố:
cách nhiệt, chống thấm dột, ẩm mốc, bền vững, khó bị hư hoại trước những tác động
khắc nghiệt… thì trong quá trình vận hành các công trình xây dựng sẽ phải sử dụng thiết
bị điều hòa, thông gió nhân tạo, có thể hiệu quả, xong tốn nhiều năng lượng.
Việc sử dụng loại sản phẩm cách nhiệt, có khả năng ngăn bức xạ mặt trời hoặc được thiết
kế với hệ thống thông gió tự nhiên tốt sẽ tạo điều kiện cho các công trình xây dựng có thể
không dùng nhiều điện năng làm mát mà vẫn đảm bảo không bị nóng. Đó là chưa kể các
loại cấu kiện tiền chế như tấm tường, tấm sàn có chiều dày mỏng, vận chuyển dễ dàng
trong thi công, tạo điều kiệm tiết kiệm năng lượng, chất đốt cho xe cộ…
+ Sử dụng cây xanh để làm giảm nhiệt độ mặt đệm và làm sạch không khí đối
với công trình xây dựng cũng là một biện pháp tiết kiệm năng lượng cần được nhắc
20% nhu cầu. Vì thế, để đạt được mục tiêu tiết kiệm đã được Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt, cần sớm hoàn thiện khung pháp lý để thúc đẩy hoạt động sử dụng năng lượng tiết
kiệm và hiệu quả; tiếp tục tuyên truyền, vận động, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá
nhân nâng cao nhận thức, tự giác tham gia các hoạt động sử dụng năng lượng tiết kiệm và
hiệu quả; hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật để áp dụng thống nhất trong
các cơ sở sử dụng điện; dán nhãn TKNL cho phương tiện, thiết bị, máy móc sử dụng
năng lượng theo lộ trình… Tất cả các biện pháp thực hiện phải hướng vào lợi ích của
khách hàng.[6]
Giá điện chưa phản ánh đầy đủ: biểu giá điện hiện nay còn bất hợp lý, chưa có tác
dụng cân bằng phụ tải điện phù hợp với khả năng cung cấp; giá điện chưa phản ánh đủ
các chi phí; không khuyến khích được khách hàng thực hiện tiết kiệm cũng như chưa tạo
động lực tiết kiệm điện. Chưa có kênh truyền thông tốt về sản phẩm tiết kiệm năng
lượng, vì vậy phần lớn các hộ tiêu thụ điện sử dụng các thiết bị tiêu hao điện lớn. Trong
khi đó, thông tin truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng còn hình thức,
nên chưa tạo hiệu quả như mong muốn.
Việt Nam đã ban hành tiêu chuẩn QCXDVN 09-2005 về “Các công trình xây dựng sử
dụng năng lượng có hiệu quả”. Tuy nhiên, việc áp dụng tiêu chuẩn này còn hạn chế, bởi
có nhiều vấn đề, không chỉ ngành xây dựng đơn độc giải quyết được.[7]
4.2. Kiến nghị
25