MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TNHH – Trách nhiệm hữu hạn;
PwC – Pricewaterhouse Coopers;
HĐQT – Hội đồng quản trị;
CPA – Certified Practising Auditor;
PM – Performance materiality;
OM – Overall materiality;
SUM – Summary of uncorrected misstatements.
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Sơ đồ 1.1. Bộ máy tổ chức quản lý của Công ty TNHH PwC Việt Nam
Bảng 1.2. Một số chỉ tiêu tài chính của Công ty TNHH PwC Việt Nam từ 2011 – 2013
Sơ đồ 2.1. Tổ chức đoàn kiểm toán điển hình tại Công ty TNHH PwC Việt Nam
Sơ đồ 2.2. Tổ chức công tác kiểm toán tại Công ty TNHH PwC Việt Nam
Bảng 2.3. Mối quan hệ giữa chuẩn điểm, quy tắc kinh nghiệm và bản chất của khách
hàng kiểm toán
Bảng 2.4. Mối quan hệ giữa các yếu tố khi xác mịnh SUM
Sơ đồ 2.5. Lập kế hoạch công việc kiểm toán
Bảng 2.6. Bảng phân tích rủi của công ty viễn thông xxx
Sơ đồ 2.7. Các công việc trong giai đoạn kết thúc kiểm toán
LỜI NÓI ĐẦU
Nền kinh tế nước ta đang chứng kiến sự chuyển đổi mạnh mẽ từ nền kinh tế bao cấp
sang kinh tế thị trường với sự khởi điểm từ Đại hội VI 1986. Số lượng doanh nghiệp
trên thị trường ngày càng tăng, đạt trên 500.000 Doanh nghiệp vào năm 2013. Điều
này đã tạo ra một môi trường đầu tư năng động và đầy tiềm năng. Điều quan trọng nhất
khi đầu tư vào một doanh nghiệp nào đó chính là niềm tin. Tuy nhiên, niềm tin của
Nhà đầu tư đối với doanh nghiệp đã bị suy giảm mạnh trong các năm vừa qua bởi sự
không minh bạch trong tình hình tài chính của các doanh nghiệp này. Vì lý do này,
công ty tư vấn luật riêng (Công ty TNHH PwC Legal Việt Nam), hoạt động độc lập và
có con dấu riêng. Việc hình thành công ty tư vấn luật này nhằm chuyên môn hóa hoạt
động, để hoàn thành sứ mệnh mang đến những dịch vụ tốt nhất cho khách hàng.
PwC Việt Nam không tồn tại một cách độc lập so với PwC tại các nước khác mà được
quản lý chung theo mạng lưới với trụ sở chính tại Anh Quốc. Nằm trong cùng mạng
lưới khu vực với PwC Việt Nam là PwC Thailand, PwC Cambodia, PwC Laos, PwC
Malaysia, tạo thành mạng lưới SEAPEN.
Trải qua 20 năm hoạt động, PwC Việt Nam đã mở rộng mạng lưới khách hàng ra toàn
bộ 63 tỉnh thành và tạo lập nên mối quan hệ tốt với những cán bộ then chốt các ngành
nghề cũng như các tổ chức tài chính, các doanh nghiệp tại Việt Nam. Không chỉ dừng
lại ở đó, mối quan hệ cũng như sự tin tưởng của các tổ chức nước ngoài vào PwC Việt
Nam ngày càng được tăng cường và củng cố, điều này đã khiến PwC trở thành điểm
đến đáng tin cậy cho nhiều loại hình khách hàng.
Tại thời điểm những ngày đầu thành lập, số lượng nhân viên của PwC Việt Nam chỉ
hạn chế ở 50 người gồm có 2 chủ phần hùn (partner – chức vụ cao nhất về mặt chuyên
môn) cùng với các kiểm toán viên và trợ lý kiểm toán khác. Phát triển theo thời gian,
với uy tín sẵn có từ PwC Network và chất lượng dịch vụ được đảm bảo, số lượng nhân
viên tăng nhanh chóng lên hơn 10 lần vào năm 2010. Chỉ tính riêng ở bộ phận đảm bảo
(kiểm toán) đã có tới 12 chủ phần hùn cùng với 33 kiểm toán viên hành nghề.
20 năm hình thành và phát triển cũng chính là khoảng thời gian mà PwC Việt Nam
khẳng định vị thế của mình trên thị trường tài chính – kế toán – kiểm toán Việt Nam,
được minh chứng bằng những giải thưởng cao quý của không chỉ Đảng và Nhà nước
Việt Nam mà còn của các tổ chức nghề nghiệp trong và ngoài nước. Có thể điểm qua
một số thành tựu nổi bật mà PwC Việt Nam đã giành được trong những năm gần đây
như sau:
Năm 2013
- PwC Legal Việt Nam vinh dự được đưa vào danh sách top 1000 công ty tư vấn
luật tài chính hàng đầu thế giới IFLR1000 năm 2014: PwC Legal Việt Nam vừa
PwC Việt Nam cho việc đào tạo và phát triển nhân viên thông qua việc hỗ trợ họ phát
triển nghề nghiệp;
- Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ: Tại Hà Nội, ngày 26 tháng 5 năm 2011 –
Theo Quyết định số 65/QĐ-TTg ngày 5/5/2011 được ký bởi Thủ tướng Chính phủ,
PwC Việt Nam là một trong ba công ty kiểm toán được nhận bằng khen của Thủ tướng
Nguyễn Tấn Dũng. Giải thưởng ghi nhận những đóng góp tiêu biểu của các cá nhân và
tập thể trong việc phát triển hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam giai đoạn 2006
– 2010. PwC Việt Nam rất vinh dự được nhận tổng cộng ba bằng khen. Một bằng khen
ghi nhận thành tích và đóng góp chung của công ty vào sự phát triển của ngành kiểm
toán độc lập. Chủ tịch HĐQT PwC Việt Nam, ông Ian Lydall, là kiểm toán viên nước
ngoài duy nhất được nhận bằng khen của Thủ tướng Chính phủ và Phó Tổng Giám đốc
Công ty, bà Nguyễn Phi Lan, cũng vinh dự được nhận bằng khen của Thủ Tướng.
Đặc điểm hoạt động của Công ty TNHH PwC Việt Nam
Được biết đến là một trong những “Big4” trên thị trường kiểm toán toàn cầu, PwC là
một trong những doanh nghiệp cung cấp loại hình dịch vụ đảm bảo với chất lượng
thuộc hàng tốt nhất. Tuy nhiên, không chỉ được biết đến với đội ngũ nhân viên có am
hiểu sâu sắc về lĩnh vực này, PwC Việt Nam còn được biết đến với 3 loại hình dịch vụ
song song khác, gồm có tư vấn quản lý và tài chính, tư vấn thuế và tư vấn pháp lý. Sau
đây em xin đi vào chi tiết từng loại dịch vụ này.
Dịch vụ đảm bảo (kiểm toán)
Bộ phận kiểm toán của PwC Việt Nam cung cấp các dịch vụ mang tính đảm bảo về kết
quả hoạt động và tình hình tài chính của doanh nghiệp. Ngoài ra, PwC Việt Nam còn
hỗ trợ doanh nghiệp cải thiện chất lượng báo cáo tài chính cung cấp ra bên ngoài và
tuân thủ theo những quy định mới bao gồm: Chế độ kế toán Việt Nam, Chuẩn mực kế
toán Việt Nam và Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS). Cụ thể, PwC cung cấp
những dịch vụ đảm bảo chi tiết như sau:
Kiểm toán báo cáo tài chính (Financial Statements Audit): các kiểm toán viên tiến
hành kiểm toán báo cáo tài chính của khách hàng (gồm có Bảng cân đối kế toán, Báo
thành nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp luôn gặp phải những khó khăn. PwC Việt Nam
sở hữu đội ngũ chuyên gia am hiểu các sắc thuế nhằm cung cấp đến khách hàng
phương thức hiệu quả nhất trong việc xử lý các vấn đề liên quan đến thuế. Các dịch vụ
chủ yếu, gồm có: dịch vụ tư vấn và hỗ trợ tuân thủ quy định về thuế, rà soát việc tuân
thủ quy định về thuế, chuyển giá, thẩm định thuế….
1.3. Đặc điểm tổ chức quản lý của công ty TNHH PwC Việt Nam
PwC Việt Nam nằm trong mạng lưới PwC Seapen (gồm có Việt Nam, Thái Lan, Ma-
lai-si-a, Lào, Cam-pu-chia). Mọi chính sách, chế độ của PwC Việt Nam đều chịu sự
quản lý cao nhất của PwC Seapen.
Cũng giống như các công ty khác, hệ thống tổ chức quản lý của PwC Việt Nam cũng
được phân cấp theo từng cấp nhỏ hơn, đứng đầu là chủ phần hùn (partner – người giữ
địa vị cao nhất về mặt chuyên môn). Có thể khái quát sơ đồ tổ chức của PwC Việt
Nam (ở đây xin trích dẫn chi tiết cho dịch vụ đảm bảo, mỗi bộ phận khác nhau có một
sơ đồ tổ chức quản lý khác nhau) như sau (trang 7)
Trợ lý kiểm toán là cấp độ thấp nhất trong PwC Việt Nam, ở cấp độ này còn được chia
ra thành nhiều mức nhỏ hơn, từ A2 – A1 – S3 – S2 – S1 trước khi lên đến giám sát
viên. Số lượng nhân viên ở mức độ này luôn luôn cao nhất và giảm dần khi lên đến cấp
độ cao hơn.
1.4. Tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh
Khủng hoảng kinh tế đã xảy ra từ năm 2008 song ảnh hưởng của nó vẫn còn âm ỉ cho
đến ngày nay. Không là một ngoại lệ, doanh thu của PwC trong những năm gần đây đã
chịu sự ảnh hưởng tiêu cực, cụ thể là không còn đạt sự tăng trưởng mạnh mẽ như trước
nữa. Bảng sau (trang 6) phân tích tình hình tài chính của công ty TNHH PwC Việt
Nam qua 3 năm gần nhất (2011, 2012, 2013 – dự tính).
!"#"
$%&"'%
()*+,-.(/*&0)"
$1(%'-&0%
"2(3*-0-4
thu và lợi nhuận. Sự tăng trưởng còn mạnh mẽ hơn ở năm 2013 khi theo số liệu ước
tính từ phòng tài chính – kế toán, doanh thu ước đạt 604 tỷ VNĐ trong khi lợi nhuận
cũng được ghi nhận ở mức 116 tỷ. Sự gia tăng này một phần được phản ánh qua thực
tế số lượng thực tập sinh tại PwC Việt Nam 2013. Trong khi các năm khác, số lượng
thực tập viên tại PwC Việt Nam chỉ ở mức 10 người, thì đã có sự gia tăng đáng kể ở
năm nay đạt 20 người. Bên cạnh đó, một thực tế khác là đã có thêm một số khách hàng
mới bên cạnh số lượng khách hàng cũ không có sự biến đổi đáng kể.
?
PHẦN 2. ĐẶC ĐIỂM TỔ CHỨC KIỂM TOÁN CỦA CÔNG TY TNHH PWC
VIỆT NAM
Đặc điểm tổ chức đoàn kiểm toán
Để có thể tổ chức được đoàn kiểm toán thì trước tiên PwC Việt Nam phải dành được
hợp đồng kiểm toán với khách hàng. Thông thường, để có thể ký kết được hợp đồng
kiểm toán, Công ty thường phải tham gia đấu thầu. Một khi việc đấu thầu thành công,
việc ký kết hợp đồng thường là dài hạn (từ 3-7 năm), ngoại trừ với các Ngân hàng do
quy định của pháp luật. Việc ký kết hợp đồng dài hạn mặc dù có thể ảnh hưởng tới tính
độc lập của Công ty với khách hàng, song lại là một yếu tố thuận lợi để cuộc kiểm toán
diễn ra suôn sẻ vì kiểm toán viên không cần phải tìm hiểu toàn bộ thông tin từ khách
hàng.
Trong hợp đồng kiểm toán, phí là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng
đến tổ chức đoàn kiểm toán, bên cạnh đó còn có sự ảnh hưởng của 2 yếu tố khác là bản
chất của khách hàng kiểm toán và tình hình nhân sự. Sau đây em xin đi vào chi tiết
từng yếu tố:
Phí kiểm toán
Tương tự như các doanh nghiệp nói chung, PwC Việt Nam là công ty hoạt động vì
mục tiêu lợi nhuận, do đó yếu tố phí kiểm toán luôn chi phối các hoạt động của công
ty.
Trước khi tham gia mời thầu, PwC Việt Nam luôn có một đánh giá sơ bộ về mức phí
kiểm toán tối thiểu để từ đó có thể đưa ra hợp đồng cạnh tranh nhất. Mức phí càng cao
2
+ chi phí liên quan đến phụ cấp
đi lại, văn phòng phẩm….
Tất nhiên, nếu phí kiểm toán thực tế thấp hơn mức dự tính thì sẽ có sự điều chỉnh đến
tổ chức đoàn kiểm toán. Ví dụ như thời gian làm việc của chủ phần hùn có thể giảm
hoặc số lượng người tham gia vào đoàn kiểm toán ít hơn so với dự tính ban đầu.
Ngược lại, nếu phí kiểm toán cao (ngay cả trong trường hợp bản chất hoạt động của
doanh nghiệp là đơn giản) thì việc tổ chức số lượng đoàn kiểm toán cũng phải được
thay đổi cho phù hợp.
Bản chất của khách hàng kiểm toán
Yếu tố không kém phần quan trọng cấu thành nên tổ chức đoàn kiểm toán là bản chất
kinh tế của khách hàng kiểm toán. Nằm trong nhân tố này gồm có: tính chất phức tạp
của các nghiệp vụ kinh tế, sự niêm yết hay không của khách hàng kiểm toán….
Xét trên góc độ tính phức tạp của các nghiệp vụ kinh tế, công đoạn tổ chức đoàn kiểm
toán phải thật sự cẩn thận. Việc đưa trợ lý kiểm toán mới vào đảm nhiệm một phần
hành mà anh ta chưa có hiểu biết gì được hạn chế. Hay nói cách khác, các thành viên
trong đoàn kiểm toán đều được lựa chọn kỹ càng trước khi tham gia vào cuộc kiểm
toán.
Như một lẽ đương nhiên, chất lượng kiểm toán công ty đại chúng luôn được đặt ở tầm
quan trọng cao hơn so với các doanh nghiệp thông thường (biểu hiện một phần ở mức
độ trọng yếu xét cho Báo cáo tài chính). Chính vì vậy, có thể đối với doanh nghiệp
này, số lượng trợ lý kiểm toán có kinh nghiệm phải nhiều hơn, để có thể đảm bảo chất
lượng của ý kiến kiểm toán, từ đó giữ vững uy tín Công ty nói riêng và nghề nghiệp
nói chung.
Tình trạng nhân sự
Việc một nhân viên kiểm toán phải làm thêm giờ là chuyện bình thường. Điều này một
phần phản ánh tình trạng thiếu nhân sự, đặc biệt vào mùa cao điểm (Tháng 12 – Tháng
3). Lịch làm việc của nhân viên thường được làm cho trước ít nhất 2 tháng để tránh
Việc lựa chọn người với cấp độ cụ thể vào 3 vị trí trên phụ thuộc vào bản chất của
khách hàng kiểm toán. Đối với khách hàng có giao dịch không phức tạp như các tổ
chức từ thiện, công tỵ TNNN với quy mô trung bình và nhỏ, đoàn kiểm toán chỉ cần
đến Giám đốc kiểm toán, giám sát viên và trợ lý kiểm toán. Ngược lại, đối với các
khách hàng lớn cộng với mức độ phức tạp cao thì phải cần đến sự tham gia của Chủ
phần hùn (có thể cần đến người nước ngoài) và Chủ nhiệm kiểm toán.
Đặc điểm tổ chức công tác kiểm toán
Tại PwC Việt Nam cũng như toàn cầu, các cuộc kiểm toán đều được thực hiện theo
một chương trình có sẵn. Phần mềm cung cấp chương trình này là Aura đã được công
ty sử dụng từ năm 2002. Phần mềm này vạch ra đầy đủ các công đoạn cần thiết phải
thực hiện của tất cả các cuộc kiểm toán. Song, đôi khi do tính đơn giản của khách thể
kiểm toán, một phần nào đó của chương trình sẽ được thực hiện đơn giản và ngắn gọn
hơn các phần khác. Với mục đích mang cái nhìn tổng quát và đầy đủ nhất, em xin đi
vào tất cả các công đoạn, gồm có lập kế hoạch kiểm toán (tìm hiểu và đánh giá rủi ro);
thực hiện kiểm toán (thu thập bằng chứng) và kết thúc kiểm toán (rà soát và kết luận).
Sơ đồ 2.2. Tổ chức công tác kiểm toán tại PwC Việt Nam
Mọi cuộc kiểm toán đều phải tiến hành qua 3 giai đoạn như trong sơ đồ 2.2. Công tác
kiểm toán tại PwC thể hiện sự vận dụng sáng tạp giữa lý thuyết kiểm toán tiếp cận rủi
ro và thực tế. Lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn mà ở đó Chủ phần hùn/Giám đốc
kiểm toán và Chủ nhiệm kiểm toán tiến hành nhận định rủi ro, đánh giá mức trọng yếu
để khoang vùng cuộc kiểm toán. Thực hiện kiểm toán là sự thu thập các bằng chứng
mà chủ yếu tập trung vào các phần chứa đựng rủi ro đã vạch ra ở phần lập kế hoạch.
Các bằng chứng này được tổng kết và đánh giá lại tại bước kết thúc kiểm toán khi mà
các nhân viên cấp cao đánh giá sự khác biết giữa thực tế và những dự đoán ban đầu.
Nếu có sự khác biệt lớn thì công đoạn thu thập bằng chứng vẫn được diễn ra. Sau đây
em xin đi vào chi tiết từng phần.
Lập kế hoạch kiểm toán
Là công đoạn được thực hiện đầu tiên trong các cuộc kiểm toán, lập kế hoạch kiểm
Xét về khía cạnh mức độ trọng yếu, tại PwC sử dụng 2 loại mức độ trọng yếu đó là
mức trọng yếu toàn bộ (overall materiality – OM), mức trọng yếu thực hiện
(performance materiality – PM). Trọng yếu thực hiện được tính toán từ mức trọng yếu
toàn bộ. Để có thể mang đến cái nhìn chi tiết và dễ hiểu hơn, em xin trình bày cách xác
định mức trọng yếu toán báo cáo tài chính trước, trước khi đi vào mức trọng yếu thực
hiện.
Mức trọng yếu toàn bộ được tính toàn theo công thức sau: OM = Benchmark x Rule of
thumb
Trong đó:(1) Benchmark là chuẩn điểm, cơ sở để từ đó mức trọng yếu được thiết lập.
Các chuẩn điểm thường gặp gồm có lợi nhuận trước thuế từ hoạt động kinh doanh,
tổng doanh thu, tổng chi phí, lợi nhuận bình quân từ 3-5 năm gần nhất, tổng tài sản, tài
sản thuần, lợi nhuận đã điều chỉnh từ hoạt động kinh doanh, lợi nhuận trước thuế, khấu
hao và lãi vay (EBITDA)… Việc lấy benchmark phụ thuộc vào bản chất của từng
khách hàng kiểm toán. Ví dụ như đối với một doanh nghiệp có lợi nhuận dao động
mạnh theo các năm, việc sử dụng lợi nhuận đơn nhất của một năm để tính toán mức
trọng yếu có thể không thích hợp; do đó, PwC Việt Nam sử dụng lợi nhuận bình quân
của 3-5 năm liền kề để đưa ra được mức trọng yếu. (2) Rule of thumb – “quy tắc kinh
nghiệm” là một tỷ lệ tương ứng, cũng phụ thuộc vào bản chất của khách hàng kiểm
toán, giao động từ 0,5% – 10%.
Bảng 2.3 sẽ tóm tắt mối quan hệ giữa bản chất khách hàng, chuẩn điểm và “quy tắc
kinh nghiệm”, đồng thời chỉ ra tỷ lệ phần trăm tối đa được áp dụng trong từng trường
hợp. Các con số cụ thể sẽ được chủ nhiệm kiểm toán hoặc chủ phần hùn/giám đốc
kiểm toán quyết định tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể.
Bảng 2.3. Mối quan hệ giữa chuẩn điểm, quy tắc kinh nghiệm và bản chất của
khách hàng kiểm toán
Sau khi đã thiết lập được OM, kiểm toán viên sẽ tính toán PM theo công thức như sau:
PM = OM x (1 – haircut).
Bảng 2.4. Mối quan hệ giữa các yếu tố khi xác định SUM
Yếu tố 0% 3% 5% 10%
Số lượng và số
tiền sai phạm
Thường xuyên
có điều chỉnh
trọng yếu
Thường xuyên
có điều chỉnh,
song số tiền
không trọng
yếu
Điều chỉnh
được dự đoán
xảy ra, song số
tiền không
trọng yếu
Điều chỉnh hầu
như không tồn
tại
Đánh giá rủi ro Rủi ro cao xảy
ra sai phạm
trọng yếu;
Rủi ro rất lớn
được phát
hiện.
Những rủi ro
nhà quản lý và
đoàn kiểm
toán
Nhà quản lý và
kiểm toán viên
kỳ vọng sẽ trao
đổi tất cả sai
phạm, kể cả
những sai
phạm với số
tiền nhỏ
Nhà quản lý và
kiểm toán viên
kỳ vọng tất cả
các sai phạm
dưới 5% của
mức trọng yếu
toàn bộ được
trao đổi
Nhà quản lý và
kiểm toán viên
kỳ vọng những
sai phạm xấp
xỉ 5% mức
trọng yếu toàn
báo cáo tài
chính (khi tính
riêng rẽ hay
tính gộp) được
trao đổi
như trao đổi trực tiếp với khách hàng, tìm hiểu thông tin trên các báo, tạp chí đáng tin
cậy… Kết quả là một báo cáo phân tích tình hình kinh doanh, chỉ rõ những yếu tố có
thể ảnh hưởng đến công tác kiểm toán. Ví dụ như đối với khách hàng viễn thông XXX,
do sự cạnh tranh khốc liệt với các đối thủ đầu ngành, Công ty phải có chiến lược đưa
giá thấp với chất lượng cao, đồng thời cũng đề ra nhiều chương trình khuyến mại. Do
đó, việc ghi nhận doanh thu, đặc biệt là doanh thu nhận trước trong các sim “trắng”
(sim có sẵn tiền trong tài khoản), tiềm ẩn nhiều rủi ro. Thứ hai, việc tìm hiểu về hệ
thống kiểm soát cũng là một phần vô cùng quan trọng, vì nó có thể khiến cuộc kiểm
toán đơn giản và hiệu quả hơn rất nhiều. Như đã biết, các yếu tố cấu thành hệ thống
kiểm soát nội bộ gồm có môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát,
=
thông tin và trao đổi giữa các phòng ban, và giám sát hoạt động kiểm soát. Kiểm toán
viên tiến hành tìm hiểu và đánh giá tính hiệu lực của sự thiết kế cũng như tìm kiếm
bằng chứng của sự áp dụng chúng trong thực tế. Chẳng hạn như trong yếu tố sơ đồ bộ
máy tổ chức, kiểm toán viên tiến hành xem xét sơ đồ tổ chức được lưu trữ tại phòng
nhân sự, đánh giá tính phù hợp của chúng và xem xét sự vận hành và tính liên tục
trong thực tế. Thứ ba, đánh giá rủi ro bao gồm có các thủ tục đánh giá và bảng phân
tích rủi ro. Thủ tục đánh giá rủi ro là những hướng dẫn để xác định được những rủi ro
như rủi ro liên quan đến hoạt động liên lục, gian lận, sai sót… Bảng phân tích rủi ro
chính là sự phân tích và so sánh. Những biến động lớn cần được tìm hiểu và giải thích.
Bảng 2.6 mô tả ví dụ đối với một công ty viễn thông.
Sau khi đã đánh giá rủi ro của sai phạm trọng yếu (rủi ro cố hữu và rủi ro kiểm soát),
chủ nhiệm kiểm toán cùng chủ phần hùn/giám đốc kiểm toán phát triển chiến lược và
kế hoạch kiểm toán. Cấu thành nên chiến lược và kế hoạch kiểm toán là sự huy động
nhân sự và kế hoạch kiểm toán chi tiết. Vấn đề thứ nhất gồm có cấp độ, thời gian và số
lượng nguồn lực cần thiết để có thể thực hiện được cuộc kiểm toán. Nội dung chủ yếu
trong phần này cần phải chỉ rõ ra được các vấn đề sau: (i) Có hay không sự thay đổi
chủ nhiệm kiểm toán và chủ phần hùn/giám đốc kiểm toán; (ii) Có hay không cần sự
tham gia của các chuyên gia; (iii) Có hay không sử dụng kết quả của kiểm toán nội bộ.
yếu đối với từng khoản mục (Financial statements line items). Việc chi tiết cho các rủi
ro sảy ra sai phạm này cũng tương tự như phần trên, gồm có rủi ro tiềm tàng và rủi ro
kiểm soát.
Thứ ba, rủi ro trên báo cáo kết quả kinh doanh chính là rủi ro xảy ra sai phạm đối với
doanh thu, chi phí và các yếu tố khác. Việc đo lường cũng tương tự như 2 loại rủi ro
đề cập trên.
R Kiểm soát nội bộ
Phần này thực chất là sự liệt kê tất cả các hoạt động kiểm soát nội bộ của đơn vị nhằm
phòng ngừa và phát hiện, để từ đó khắc phục những sai phạm. Cách trình bày cũng
theo từng khoản mục trên bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh
doanh.
Lập kế hoạch đúng đắn là tạo điều kiện thuận lợi cho các bước công việc ở phần thực
hiện kiểm toán (thu thập các bằng chứng kiểm toán). Hay nói cách khác, kế hoạch phù
hợp là tiền đề cho sự thành công của cuộc kiểm toán. Tuy nhiên, ngay cả khi lập kế
hoạch tốt, cuộc kiểm toán vẫn có thể thất bại nếu công đoạn thu thập bằng chứng còn
kém hiệu quả. Do đó, ta có thể thấy rằng việc thực hiện kiểm toán là không kém phần
quan trọng so với công đoạn lập kế hoạch. Sau đây em xin đi vào chi tiết phần trọng
tâm của một cuộc kiểm toán, thu thập bằng chứng kiểm toán.
Thực hiện kiểm toán
Thực hiện kiểm toán là bước mà tại đó kiểm toán viên tiến hành thu thập các bằng
chứng một cách đầy đủ và thích hợp để có thể đưa ra ý kiến kiểm toán trên báo cáo tài
chính. Trong phần này, có 2 thử nghiệm được tiến hành là thử nghiệm kiểm soát (thu
thập bằng chứng về sự thiết kế và vận hành của hệ thống kiểm soát nội bộ) và thử
nghiệm cơ bản.
Thử nghiệm kiểm soát được thực hiện với mục đích đánh giá tính hiệu lực của hệ
thống kiểm soát nội bộ. Việc thực hiện thử nghiệm kiểm soát chỉ được thực hiện khi
kiểm toán viên tin rằng hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết kế và vận hành hiệu quả
và liên tục. Ví dụ như đối với khoản phải trả, các thử nghiệm kiểm soát được đưa ra tại
Aura là yêu cầu mua hàng được phê duyệt đúng đắn; đối chiếu sự chính xác giữa yêu
cầu mua hàng, hóa đơn và phiếu nhận hàng; và yêu cầu thanh toán được phê duyệt
Phần giải thích tập trung vào việc lý giải những rủi ro hay vấn đề quan trọng. Tùy
thuộc vào từng khách hàng mà mức độ giải thích có thể nhiều hay ít. Mỗi vấn đề được
giải thích đều gồm có 3 yếu tố cấu thành nên tính hệ trọng là bản chất (nature), độ lớn
(magnitude) và khả năng (likelihood).
Những vấn đề trọng yếu là phần tập trung nhiều rủi ro nhất trong cuộc kiểm toán.
Chúng sẽ được phân tích và củng cố lại ở phần này để đảm bảo rằng các bằng chứng
kiểm toán liên quan đã được thu thập đầy đủ và có hiệu lực.
Tiếp đến là việc liệt kê các sai phạm đã được phát hiện. Các sai phạm này gồm cả các
sai phạm điều chỉnh (trên PM) và sai phạm không điều chỉnh (dưới PM). Mỗi sai phạm
được chi tiết ra theo loại (gồm có giá trị thực – factual, ước tính – judgement, và dự
đoán – predict).
Cuối cùng, như là một sản phẩm phụ của báo cáo kiểm toán, các yếu kém trong hệ
thống kiểm soát nội bộ của khách hàng sẽ được liệt kê kèm theo những hướng xử lý
cần thiết. Chúng sẽ được đề cập trong thư quản lý.
Đặc điểm tổ chức hồ sơ kiểm toán
Tổ chức hồ sơ kiểm toán đòi hỏi tính khoa học cao để tránh những rắc rối không cần
thiết sau này, chẳng hạn như khi có kiện tụng hoặc muốn kiểm tra lại. Tại PwC Việt
Nam, hồ sơ kiểm toán được lưu cả dưới dạng bản mềm và bản cứng.
Bản mềm được lưu tại phần mềm Aura và Ổ mạng. Ổ mạng là một ổ đĩa từ cứng chứa
đụng toàn bộ những tài liệu kiểm toán (bao gồm tất cả những thông tin trong phần
mềm Aura). Thông tin trong Aura và Ổ mạng thường xuyên được cập nhật lên trung
tâm lưu trữ (server) được đặt tại Thái Lan. Việc này là rất quan trọng vì việc lưu trữ tài
liệu kiểm toán tại 2 nơi khác nhau giúp hạn chế được sự mất mát thông tin trong
trường hợp xấu. Nếu xảy ra sự mất mát thông tin, PwC Việt Nam có thể yêu cầu bên
lưu trữ đặt tại Thái Lan cho phép sao chép hồ sơ kiểm toán.
Bên cạnh bản mềm, PwC Việt Nam còn sử dụng bản cứng để lưu hồ sơ kiểm toán, gọi
là CAF (current audit files) và PAF (permanent audi files). CAF là hồ sơ tập hợp thông
tin của từng cuộc kiểm toán theo năm, tức là các thông tin của khách hàng thay đổi
toán, cụ thể như sau:
Thứ nhất, kiểm soát chất lượng ở bước lập kế hoạch kiểm toán bắt đầu bằng việc đánh
giá và tiếp tục hợp đồng (hoặc ký mới hợp đồng kiểm toán). Chủ nhiệm kiểm toán sẽ
là người đánh giá ban đầu về ban giám đốc của khách hàng, xem xét các yếu tố về rủi
ro liên quan trước khi được soát xét và phê duyệt của Chủ phần hùn/Giám đốc kiểm
toán. Tiếp đến là việc xác định mức trọng yếu, nó cũng được xác định ban đầu bởi chủ
nhiệm và phê chuẩn bởi Chủ phần hùn/Giám đốc kiểm toán. Trợ lý kiểm toán giàu
kinh nghiệm nhất (Senior incharge) tiến hành xác định phạm vu kiểm toán, loại bỏ
những phần không trọng yếu trong Báo cáo tài chính, trước khi chịu sự kiểm soát của
các cấp cao hơn;
Thứ hai, sau khi đã có được kế hoạch kiểm toán chi tiết, trợ lý kiểm toán giàu kinh
nghiệm nhất sẽ tiến hành phân công công việc cho các trợ ký kiểm toán cấp dưới dựa
trên những đánh giá hoàn thành công việc từ trước. Trợ lý kiểm toán này có trách
nhiệm thường xuyên giám sát công việc của các thành viên dưới mình, có thể đề xuất
để thay đổi thành viên trong đoàn nếu thấy có sự không phù hợp. Định kỳ 1 ngày, các
trợ lý kiểm toán phải báo cáo tiến độ hoàn thành công việc cho Chủ nhiệm kiểm toán.
Căn cứ và kinh nghiệm của mình, Chủ nhiệm kiểm toán sẽ có những điều chỉnh cần
thiết để cuộc kiểm toán có thể hoàn thành đúng tiến độ.
Thứ ba, tại bước thực hiện kiểm toán, các trợ lý kiểm toán sẽ tiến hành lập một bảng
danh sách các vấn đề còn dang dở. Chủ nhiệm kiểm toán là người sẽ xử lý tất cả các
vấn đề này sau khi xin ý kiến của Chủ phần hùn/Giám đốc kiểm toán.
Bên cạnh các công tác kiểm soát trong quá trình kiểm toán, tại PwC Việt Nam luôn
chịu sự kiểm soát chất lượng sau kiểm toán từ các công ty khác trong cùng tập đoàn.
Thông thường, sự kiểm tra này diễn ra 2 năm một lần, các nhân viên của PwC tại một
nước khác sẽ lấy quyền truy cập vào Ổ mạng nơi lưu trữ tài liệu kiểm toán của PwC
Việt Nam. Sự soát xét sẽ được tiến hàng và mọi vấn đề phát sinh đều được ghi nhận và
tiếp thu một cách đầy đủ.
PHẦN 3. NHẬN XÉT VÀ CÁC GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT TỔ CHỨC VÀ HOẠT
Chủ nhiệm kiểm toán đều là những người có kinh nghiệm lâu năm trong lĩnh vực mà
công ty khách hàng hoạt động. Việc bố trí như vậy giúp tạo điều kiện cho cuộc kiểm
toán diễn ra xuôn xẻ và các trợ lý kiểm toán học hỏi nhanh hơn. Bên cạnh đó, người
trợ lý kiểm toán kinh nghiệm nhất thường làm việc được 3-5 năm, hầu như có thể xử
lý hết tất cả các vấn đề nảy sinh. Điều này góp phần giảm gánh nặng cho chủ nhiệm
kiểm toán khi đi khách hàng. Ngoài ra, việc bố trí những nhân viên công nghệ vào