1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN HOÀNG THỊ HẢI YẾN
NGƢỜI KỂ CHUYỆN
TRONG TIỂU THUYẾT VŨ TRỌNG PHỤNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lý luận văn học
TRONG TIỂU THUYẾT VŨ TRỌNG PHỤNG
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lý luận văn học
Mã số:60220120
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Đoàn Đức Phương
Hà Nội - 2014
3
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến tất cả quý thầy cô đã và đang giảng
dạy trong chương trình Cao học môn Ngữ văn Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn - những người đã giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học.
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS. TS. Đoàn Đức Phương – người đã tận tình
hướng dẫn cho tôi trong thời gian thực hiện luận văn.
3. Mục đích, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu 15
3.1. Mục đích 15
3.2. Đối tượng 16
3.3. Phạm vi 16
4. Phƣơng pháp nghiên cứu 16
5. Cấu trúc luận văn 17
Chƣơng 1. KHÁI LƢỢC VỀ NGƢỜI KỂ CHUYỆN VÀ TIỂU THUYẾT
CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG 18
1.1. Khái lƣợc về ngƣời kể chuyện 18
1.1.1. Khái niệm 18
1.1.2. Một số vấn đề liên quan tới người kể chuyện 18
1.2. Tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng 22
1.2.1. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Vũ Trọng Phụng 22
1.2.1.1. Cuộc đời 22
1.2.1.2. Sự nghiệp sáng tác 24
1.2.2. Quan điểm sáng tác của nhà văn Vũ Trọng Phụng 25
Chƣơng 2 CÁC DẠNG THỨC NGHỆ THUẬT CỦA NGƢỜI KỂ CHUYỆN
TRONG TIỂU THUYẾT VŨ TRỌNG PHỤNG 29
2.1. Ngôi kể 29
2.1.1. Khái niệm ngôi kể và các dạng thức của ngôi kể 29
5
2.1.1.1. Khái niệm 29
2.1.1.2. Các dạng thức ngôi kể 29
2.1.2. Ngôi kể trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng 32
2.1.2.1. Người kể chuyện ở ngôi thứ ba 32
2.1.2.2. Người kể chuyện ở ngôi thứ nhất 34
2.1.2.3. Sự di chuyển ngôi kể 36
2.2. Điểm nhìn 39
2.2.1. Khái niệm về điểm nhìn và cách phân loại điểm nhìn 39
3.4.2. Giọng điệu hài hước hóm hỉnh 129
3.4.3.Giọng điệu giễu nhại 132
KẾT LUẬN 134
TÀI LIỆU THAM KHẢO 136
7
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tiểu thuyết là thể loại văn xuôi có hư cấu, thông qua nhân vật, hoàn cảnh, sự việc
để phản ánh bức tranh xã hội rộng lớn và những vấn đề của cuộc sống con người,
biểu hiện tính chất tường thuật, tính chất văn xuôi theo những chủ đề nhất định.
Lịch sử phát triển của thể loại tiểu thuyết đã để lại cho văn học thế giới những thành
tựu rực rỡ: từ những kiệt tác của tiểu thuyết chương hồi đến những tác phẩm hiện
thực đồ sộ của tiểu thuyết phương tây; từ những bộ tiểu thuyết sử thi trong văn học
Nga đến những mạch văn chương huyền ảo của Mỹ-La tinh, sự phát triển mạnh mẽ
của thể loại tiểu thuyết ở Châu Á Tất cả những điều đó đã tạo nên một diện mạo
rất riêng của thể loại tiểu thuyết. Và cũng chính từ đặc điểm mang tính đặc trưng
của thể loại tiểu thuyết nên thể loại này càng ngày càng chiếm vị trí ưu thế trong hệ
thống các thể loại văn học. Ở Việt Nam, thể loại tiểu thuyết xuất hiện khá muộn, tuy
những sáng tác văn xuôi cổ như Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái,Thánh
Tông di thảo, truyền kỳ mạn lục ở thế kỉ XVI cũng đã bước đầu đặt nền móng cho
thể loại này. Sang thế kỉ XVIII, sự xuất hiện của một số sáng tác tự sự cỡ lớn như
Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác, Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ đặc
biệt tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí được coi là tác phẩm tiểu thuyết đầu tiên
của Việt Nam có giá trị văn học đặc sắc. Tuy nhiên những tác phẩm này vẫn chủ
yếu mang dáng dấp của tiểu thuyết chương hồi. Yếu tố đời tư cũng đã bắt đầu xuất
hiện nhưng còn rất ít. Phải đến những năm 30 của thế kỉ XX văn học Việt Nam mới
xuất hiện tiểu thuyết với đầy đủ tính chất của tiểu thuyết hiện đại với những sáng
tác của những cây bút nổi tiếng trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn, những cây bút thuộc
nhận chính xác hơn về sự phát triển của lịch sử thể loại tiểu thuyết trong nền văn
học nước nhà.
Vũ Trọng Phụng là một thiên tài xuất sắc của nền văn học Việt Nam. Trong đó
nghệ thuật kể chuyện, đặc biệt nghệ thuật xây dựng hình ảnh người kể chuyện là
một trong những biệt tài mà nhà văn đã thể hiện trong các tác phẩm của mình. Vũ
Trọng Phụng được coi là nhà văn tiên phong trong việc sáng tạo tiểu thuyết Việt
9
Nam hiện đại. Theo nghiên cứu của giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh (Mấy suy nghĩ từ
cuộc đời và sự nghiệp của Vũ Trọng Phụng – Bài phát biểu trong lễ kỷ niệm 70 năm
ngày mất Vũ Trọng Phụng), Vũ Trọng Phụng viết tiểu thuyết hiện đại khi mà trên
văn đàn Việt Nam thể loại này mới bắt đầu khởi phát. Theo như nghiên cứu của
giáo sư thì thể loại văn xuôi nghệ thuật ở Việt Nam được viết theo kiểu hiện đại như
hiện nay chỉ mới khởi đầu từ truyện ngắn Sống chết mặc bay! của Phạm Duy
Tốn, in trên báo Nam Phong tháng 12 năm 1918; Thể loại kịch với tác phẩm Chén
thuốc độc - một thể loại mới toanh mà Vũ Đình Long đã tự lĩnh ấn tiên phong năm
1921, và thơ của phong trào Thơ Mới tiếp sau đó…Còn với thể loại tiểu
thuyết thì Tố Tâm được in năm 1925 của Hoàng Ngọc Phách là sự mở đầu (Tố Tâm
là tiểu thuyết duy nhất của Hoàng Ngọc Phách được viết xong năm 1922, in lần đầu
năm 1925 tại NXB Châu Phương, Hà Nội). Như vậy xét vào thời điểm lúc bấy giờ
thì Vũ Trọng Phụng là một trong những nhà văn sớm nhất viết tiểu thuyết theo lối
tiểu thuyết hiện đại. Là một trong những nhà văn đi tiên phong cho lối viết tiểu
thuyết Việt Nam hiện đại, nhưng ngay từ những tác phẩm đầu tiên, tiểu thuyết Vũ
Trọng Phụng đã nhanh chóng thu hút được người đọc không chỉ bởi con mắt tinh
đời của nhà văn tự sự mà nó còn nhanh chóng thu hút người đọc ở chính lối kể
chuyện độc đáo, hóm hỉnh, sắc sảo, mang phong cách riêng của Vũ Trọng Phụng.
Tìm hiểu nghệ thuật kể chuyện trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng, trong đó
yếu tố người kể chuyện là yếu tố quan trọng, không chỉ giúp người đọc thấy được
những đóng góp của nhà văn đối với sự phát triển của thể loại tiểu thuyết trong nền
văn học nước nhà mà qua đó còn đánh giá được tài năng, sự nhận thức của nhà văn
người trần thuật phổ biến là: “Hình thức thứ nhất của miêu tả tự sự là trần thuật từ
ngôi thứ ba không nhân vật hóa mà đằng sau là tác giả. Nhưng người trần thuật
cũng hoàn toàn có thể xuất hiện trong tác phẩm dưới hình thức một cái tôi nào
đó”[77; tr.89]. Đặc biệt trong công trình nghiên cứu này, Poxpelov đã chỉ ra mối
quan hệ giữa người kể chuyện với nhân vật và với tác giả.
N.Friedman với tác phẩm Điểm nhìn trong tiểu thuyết đã đưa ra cách phân loại cụ
thể về người kể chuyện: thứ nhất là “toàn năng biên tập”, với hình thức này người
kể chuyện biết tất cả và có khả năng thâm nhập vào câu chuyện dưới dạng những
11
bàn luận chung về cuộc sống; ở hình thức thứ hai là “toàn năng trung tính” thì
không có sự can thiệp trực tiếp của người kể chuyện; thứ ba là hình thức trần thuật
“tôi là nhân chứng” khi người kể chuyện là một nhân vật trong truyện nhưng chỉ
nằm bên lề câu chuyện và biết một phần về các nhân vật; thứ tư là hình thức trần
thuật “tôi là vai chính” khi người kể chuyện là nhân vật chính; thứ năm là hình thức
trần thuật “toàn năng cục bộ đa bội”, người kể chuyện đứng ngoài và tựa vào điểm
nhìn của nhiều nhân vật để kể chuyện; thứ sáu là hình thức trần thuật “toàn năng
cục bộ đơn bội” – người kể chuyện đứng bên ngoài và tựa vào điểm nhìn của một
nhân vật trong truyện để kể; thứ bảy là hình thức trần thuật theo “mô hình kịch” và
thứ tám là trần thuật theo kiểu “camera”. Trong tất cả các hình thức này, người kể
chuyện hầu như chỉ khách quan ghi lại các sự việc, hiện tượng mà không tỏ thái độ
chủ quan [33; tr.227]
Timofiev trong giáo trình Nguyên lý lý luận văn học cũng đã khẳng định việc tự
sự ngay từ đầu đã được gắn chặt với một người kể chuyện nhất định: “Người kể
chuyện là người kể cho ta nghe về những nhân vật và biến cố” [86; tr.32]. Ông đặc
biệt quan tâm đến ngôn ngữ người kể chuyện, xem nó là một yếu tố tích cực đem lại
cho các nhân vật và các hiện tượng trong tác phẩm một màu sắc căn bản, một sự
đánh giá căn bản. Ngôn ngữ người kể chuyện được cá tính hóa cả về mặt hình thức
lẫn mặt ý nghĩa, nó có những đặc điểm riêng phân biệt với ngôn ngữ các nhân vật
khác: “Tính độc đáo của ngôn ngữ người kể chuyện tức là vấn đề ngôn ngữ người
Trong công trình Tự sự học – Một số vấn đề lý luận và lịch sử Trần Đình Sử chủ
biên, vấn đề người kể chuyện đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Từ những
vấn đề mang tính cụ thể như Phương thức tự sự chủ yếu của sử thi Đăm Săn của
Đỗ Hồng Kì; Về mô hình tự sự truyện Kiều của Trần Đình Sử; Hình tượng người
trần thuật trong tác phẩm Người tình của Trần Huyền Sâm; Nghệ thuật tự sự của
Ngô Tất Tố trong Tắt đèn của Trần Đăng Xuyền; Một số hình thức tự sự trong Đi
tìm thời gian đã mất của Marcel Proust của Đào Duy Hiệp đến những vấn đề
mang tính khái quát như Vấn đề người kể chuyện trong thi pháp tự sự hiện đại của
Đỗ Hải Phong; Sự phát triển nghệ thuật tự sự ở Việt Nam – một vài hiện tượng đáng
lưu ý của Đặng Anh Đào; Vấn đề kể chuyện trong truyện ngắn đương đại của Bùi
13
Việt Thắng; Về tiểu thuyết sử dụng ngôi thứ nhất trong văn học phương Tây thế kỉ
XVIII của Lê Nguyên Cẩn [64] , hầu hết các bài nghiên cứu ít nhiều cũng đã
bàn đến những khía cạnh liên quan tới vấn đề người kể chuyện.
Ngoài các bài viết, công trình nghiên cứu trên ta còn bắt gặp một số ý kiến khái
quát về người kể chuyện trong một số bài báo, một số chuyên luận như: Người kể
chuyện trong văn xuôi của Lê Phong Tuyết, Người kể chuyện trong văn xuôi quốc
ngữ đầu thế kỉ XX của Trần Văn Trọng, Hình tượng nhân vật người kể chuyện trong
truyện Lỗ Tấn của Lương Duy Thứ, Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây
hiện đại của Đặng Anh Đào…
Như vậy vấn đề lý thuyết người kể chuyện đã thu hút được sự quan tâm của nhiều
nhà nghiên cứu ở nhiều nước khác nhau. Nhìn chung các nhà nghiên cứu đều thống
nhất ở chỗ khẳng định vai trò không thể thiếu của người kể chuyện trong tác phẩm
tự sự, khẳng định người kể chuyện là người đứng ra để kể lại câu chuyện, người
môi giới giữa tác phẩm với bạn đọc và là người thay mặt tác giả phát biểu những tư
tưởng, quan điểm về con người, cuộc sống. Người kể chuyện là một trong những
yếu tố quan trọng để phân biệt tác phẩm tự sự với tác phẩm thơ, trữ tình và kịch
Lý thuyết về người kể chuyện là một vấn đề lý thú nhưng cũng khá phức
tạp. Những bài nghiên cứu, các bài viết của các tác giả trong và ngoài nước là
nhuyễn các bộ tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng. Tuy nhiên, vấn đề người kể chuyện
trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng thì gần như mới chỉ được nhắc thoáng qua
trong một vài công trình nghiên cứu. Trong cuốn Thi pháp tiểu thuyết Vũ Trọng
Phụng, tác giả Nguyễn Thành đã đi vào phát hiện những yếu tố thuộc về ngôi kể,
ngôn ngữ, giọng điệu, cũng đã có những hướng tiếp cận mới trong cách tìm hiểu
nghệ thuật kể chuyện của nhà văn Vũ Trọng Phụng. Tuy nhiên ở cuốn sách này yếu
tố người kể chuyện mới chỉ được xem là một yếu tố tạo nên nghệ thuật kể chuyện
trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng. Trong cuốn Nhân vật tiểu thuyết Vũ Trọng
Phụng của tác giả Đinh Trí Dũng (do NXB Khoa học Xã hội - Trung tâm văn hóa
ngôn ngữ Đông Tây phát hành) cũng đã đề cập tới một số vấn đề liên quan tới
người kể chuyện như : quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết của Vũ
Trọng Phụng, một số biện pháp nghệ thuật chủ yếu trong xây dựng nhân vật. Trong
15
bài viết này, Đinh Trí Dũng đã thể hiện được thái độ cũng như quan niệm nghệ
thuật của nhà văn Vũ Trọng Phụng đối với xã hội và con người, đồng thời cũng cho
thấy một số phương diện nghệ thuật thuộc người kể chuyện như yếu tố ngôn ngữ
đối thoại, ngôn ngữ độc thoại. Ngoài ra một số bài viết như Trào phúng của Vũ
Trọng Phụng trong Số đỏ của Hoàng Ngọc Hiến, Những lớp sóng ngôn từ trong Số
đỏ của Vũ Trọng Phụng tác giả Đỗ Đức Hiểu cũng đã bước đầu khai thác yếu tố
người kể chuyện trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng.
Có thể nói trong quá trình nghiên cứu về Vũ Trọng Phụng, các bài viết ít hoặc
nhiều cũng đã đề cập tới phạm trù nghiên cứu người kể chuyện. Tuy nhiên các bài
viết này mới chỉ dừng lại ở việc khai thác người kể chuyện như một yếu tố trong
nghệ thuật kể chuyện mà chưa xem xét nó như một phạm trù nghệ thuật. Việc đặt ra
vấn đề người kể chuyện và nghiên cứu nó như một phạm trù quan trọng sẽ tạo nên
một phương diện lý thú trong việc khám phá và thưởng thức những giá trị văn học
trong các sáng tác tiểu thuyết của nhà văn.
Trên cơ sở của những khái niệm thuộc chuyên ngành tự sự học cùng với việc
tham khảo một số tài liệu có liên quan, với bài viết “Người kể chuyện trong tiểu
tất cả các sáng tác của Vũ Trọng Phụng mà chỉ giới hạn trong phạm vi nghiên cứu
của thể loại tiểu thuyết.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để giải quyết vấn đề nghiên cứu, luận văn kết hợp một số phương pháp nghiên
cứu sau :
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp lịch sử - xã hội
- Lý thuyết tự sự học
Các phương pháp nghiên cứu này không tách rời nhau mà hài hòa với nhau, bổ
sung cho nhau trong quá trình tìm hiểu người kể chuyện trong tiểu thuyết Vũ Trọng
Phụng. 17
5. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, luận văn bao gồm các chương như sau:
Chương 1: Khái lược về người kể chuyện và tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng.
Chương 2: Các dạng thức nghệ thuật của người kể chuyện trong tiểu thuyết Vũ
Trọng Phụng
Chương 3: Phương thức kể của người kể chuyện trong tiểu thuyết Vũ Trọng
Phụng.
trong tác phẩm văn học, chỉ xuất hiện khi câu chuyện được kể bởi một nhân vật cụ
thể trong tác phẩm. Đó có thể là hình tượng của chính tác giả ngoài đời, có thể là
một nhân vật đặc biệt do tác giả sáng tạo ra, có thể là một người biết câu chuyện
nào đó. Một tác phẩm có thể có một hay nhiều người kể chuyện” [75; tr.221].
Cùng quan niệm trên, giáo sư Lê Ngọc Trà viết : “ Người kể chuyện là thuật ngữ chỉ
nhân vật đóng vai trò là chủ thể của lời kể chuyện, là người đứng ra kể trong tác
phẩm văn học” [90; tr.153].
Như vậy, căn cứ vào cách hiểu của các nhà nghiên cứu có thể thống nhất về cách
hiểu người kể chuyện như sau: người kể chuyện hay còn gọi là người trần thuật là
một nhân vật được hư cấu hoặc có thật; văn bản tự sự được thể hiện thông qua hành
vi ngôn ngữ mà anh ta tạo thành; người trần thuật thực hiện nhiệm vụ trần thuật,
truyền đạt, chỉ dẫn, bình luận những vấn đề được mô tả hoặc bình luận trong tác
phẩm.
1.1.2. Một số vấn đề liên quan tới người kể chuyện
Không phải trong bất kỳ tác phẩm văn học nào cũng có người kể chuyện. Trong
kịch, sự đánh giá quan sát của các nhân vật và các sự việc được lồng vào ngôn ngữ,
19
thái độ và hoạt động của nhân vật (trực tiếp thể hiện trên sân khấu). Bởi vậy trong
kịch không có sự xuất hiện của người kể chuyện hoặc nếu có nó chỉ được lồng ghép
khi người kể chuyện chính là một nhân vật trong truyện. Trong thơ trữ tình, tâm tư
tình cảm của nhà thơ được bộc lộ trực tiếp dưới hình thức tự bộc lộ chứ không phải
hình thức câu chuyện kể về người khác nên cũng không có yếu tố người kể chuyện.
Trong tác phẩm tự sự, nhà văn trình bày, tái hiện và sáng tạo hiện thực thông qua
một người kể chuyện. Trong tác phẩm tự sự, câu chuyện chỉ được kể ra thông qua
người kể chuyện. Nếu không có người kể chuyện thì hiện thực sáng tạo không được
tái diễn.
Người kể chuyện trong tác phẩm tự sự là một nhân vật đặc biệt trong truyện. Nó
vừa mang tính chất của một nhân vật, vừa mang tính chất của người kể chuyện.
Tz.Todorov tuyên bố: “ Người kể chuyện không nói như các nhân vật tham thoại
với ngôi kể thứ nhất (lộ diện). Kể chuyện kiểu “khách quan hóa” với ngôi kể thứ ba,
chủ thể hoàn toàn ở ngoài cốt truyện, không thuộc vào thế giới của các nhân vật
trong truyện, mà chỉ thực hiện nhiệm vụ theo dõi nhân vật, dẫn dắt, đứng sau hành
động để quan sát và kể lại, không trực tiếp tham gia vào sự kiện, biến cố truyện. Do
tính chất hướng ngoại của nhân vật nên điểm nhìn của chủ thể kể chuyện hầu hết là
từ bên ngoài. Chủ thể kể chuyện xuất hiện ở ngôi thứ ba luôn có một vị trí tốt nhất
để theo dõi dẫn dắt nhân vật. Nhân vật ít có những cơ hội để phát biểu, suy ngẫm
hoặc hồi tưởng. Chủ thể kể chuyện chi phối toàn bộ tác phẩm từ lời dẫn chuyện,
cách kể, cách tả đến cả lời trữ tình ngoại đề. Người kể chuyện có thể thêm bớt ít
nhiều lời kể về nhân vật, sự kiện, biến cố mà không ảnh hưởng đến cốt truyện.
Ngược lại, kể chuyện kiểu “chủ quan hóa” với ngôi kể thứ nhất “xưng tôi” thì chủ
thể kể chuyện lại chủ động thực hiện nhiệm vụ dẫn chuyện, có thể tự đứng ra kể
chuyện mình, kể chuyện người khác, hoặc cùng tham gia kể chuyện với các nhân
vật, hoặc chủ động ủy quyền cho nhân vật tự kể. Chủ thể kể chuyện được cá thể hóa.
“Tôi” chủ thể kể chuyện là một trong các nhân vât của truyện, là người bình luận từ
bên trong, đồng thời cũng là người tham gia sự việc đang diễn ra. Điểm nhìn của
chủ thể kể chuyện hầu hết hướng nội do tính chất hướng nội của nhân vật. Ở vị trí
điểm nhìn này, nhân vật được soi rọi từ bên trong, chủ thể kể dễ dàng tái hiện sinh
21
động thế giới tâm hồn nhân vật, chủ động đối thoại để nhân vật phải nói lên ý nghĩ
của mình. Khi chủ thể kể chuyện hướng nội xưng “tôi” ngôi thứ nhất thì điểm nhìn
của chủ thể kể chuyện và nhân vật trùng nhau, người kể trở thành nhân vật chính
của truyện. Người đọc khó phân biệt rõ ràng nhân vật nói hay người kể chuyện nói.
Trường hợp chủ thể kể chuyện đóng vai trò dẫn dắt câu chuyện thì người kể chuyện
chỉ là một hình tượng giả định, được tác giả sử dụng làm người trung gian giúp
người đọc tưởng tượng ra cái được miêu tả. Chủ thể kể luôn giữ vai trò trung gian
của một người đã chứng kiến sự việc, hạn chế tới mức tối đa việc bộc lộ cảm xúc để
tạo điều kiện cho câu chuyện được kể mang tính khách quan. Trường hợp chủ thể
kể chuyện xưng “tôi” kể lại một câu chuyện mà trong đó anh ta vừa là người dẫn
điểm của nhà văn ngoài đời và phải có cái nhìn biện chứng trong mối quan hệ tổng
thể của nó.
1.2. Tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng
1.2.1. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Vũ Trọng Phụng
1.2.1.1. Cuộc đời
Vũ Trọng Phụng quê gốc ở Bần Yên Nhân (làng Hảo), huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng
Yên nhưng sinh ra và lớn lên chủ yếu ở Hà Nội. Căn nhà ông sống là 36 phố Hàng
Gai sau chuyển về căn gác hẹp phố Hàng Bạc, Hà Nội.
Xuất thân trong một gia đình nghèo, mồ côi cha từ khi mới 7 tháng tuổi, Vũ
Trọng Phụng lớn lên trong cảnh sống nghèo khó dưới bàn tay chăm sóc của một
người mẹ tần tảo. Sau khi đỗ bằng tiểu học, Vũ Trọng Phụng đã sớm phải nghỉ học
để đi làm kiếm sống. Sinh thời gia đình khó khăn, Vũ Trọng Phụng đã phải lăn lộn
với rất nhiều nghề để kiếm sống: đi làm thư ký đánh máy cho hãng buôn Goddard,
đánh máy chữ cho nhà in Viễn Đông, cuối cùng ông chuyển hẳn sang nghề làm báo
viết văn chuyên nghiệp.
Sinh ra và lớn lên đúng vào thời điểm mà xã hội với những biến động mạnh mẽ
nhất: cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933, cuộc khủng bố trắng dã
man chưa từng có (1930 -1931) và thoái trào cách mạng (1931-1933); đó cũng là
thời kì ở thành thị, phong trào Âu hóa rầm rộ với các tệ nạn ăn chơi đàng điếm, trụy
lạc đã phá hủy hết tất cả mọi quan hệ tốt đẹp trong xã hội Hoàn cảnh lịch sử xã hội
23
đó đã làm cho Vũ Trọng Phụng cũng như biết bao người trí thức trẻ lúc bấy giờ rơi
vào trạng thái hoang mang, tuyệt vọng, thấm thía sự bất lực, sự vô nghĩa của con
người trước số phận, rơi vào tâm trạng bi quan, tuyệt vọng sâu sắc.
Vũ Trọng Phụng sinh ra ở một miền quê nhưng lớn lên chủ yếu ở Hà thành. Nơi
Vũ Trọng Phụng sống chỉ là một căn gác hẹp mà xung quanh là cả một xã hội ăn
chơi trụy lạc, tập trung mọi cặn bã của xã hội. Những con người mà Vũ Trọng
Phụng tiếp xúc hàng ngày chủ yếu là các me tây gái điếm, nhà săm, những vua
thuốc lậu, ma cô, dân nghiện, cờ bịp bạc, Vũ Trọng Phụng rất ít có dịp được tiếp
hy sinh làm mồi cho máy chém thì thôi, cũng đến khoanh tay chịu vậy, chẳng làm
được trò gì” ( trích Đời là một cuộc chiến đấu – tài liệu đã dẫn). Vũ Trọng Phụng
là một người có lối sống mà như các bạn đồng nghiệp của ông đã nói : “một nhà văn
sống trong sự bần bạc, chết trong sự bần bạc…". Cả cuộc đời Vũ Trọng Phụng chìm
trong cảnh nghèo, một thứ “nghèo gia truyền”, mà như Vũ Trọng Phụng đã có lần
từng nói với người bạn Vũ Bằng của mình là “Nếu mỗi ngày tôi có một miếng bít
tết để ăn thì đâu có phải chết non như thế này!”. Trong khi những kẻ rởm đời,
những kẻ luôn sống trên đôi vai lao động của người khác thì lại giàu lên trông thấy.
Hiện thực đầy mâu thuẫn ấy đã tạo nên một tư tưởng hoài nghi sâu sắc, một thái độ
khinh bạc với cuộc đời. Và điều này chi phối khá rõ trong tiểu thuyết của nhà văn
Vũ Trọng Phụng.
Chịu sự giáo dục của lễ giáo phong kiến qua bà mẹ - người sống khuôn phép và
mực thước, Vũ Trọng Phụng phản ứng sâu sắc với lối sống Âu hóa rởm đang diễn
ra lúc bấy giờ. Là người luôn nỗ lực hết mình nhưng lại gặp nhiều thất bại trong
cuộc sống. Chính vì vậy yếu tố mê tín, bi quan định mệnh ảnh hưởng khá lớn tới tư
tưởng của nhà văn. Tất cả những yếu tố này đã có tác động không nhỏ tới sáng tác
của nhà văn Vũ Trọng Phụng.
1.2.1.2. Sự nghiệp sáng tác
Vũ Trọng Phụng là nhà văn mà thời gian cầm bút không nhiều nhưng những sáng
tác mà ông để lại thì đáng kinh ngạc : 6 tập phóng sự, 21 truyện ngắn, 5 vở kịch,
một bản dịch thuật, một bài viết phê bình, tranh luận văn học và hàng loạt bài viết
về vấn đề chính trị văn hóa và xã hội.
25
Riêng tiểu thuyết, mỗi sáng tác của ông đều để lại những ấn tượng sâu sắc trong
lòng độc giả. Từ năm 1943 đến 1939 ông đã cho ra đời 9 bộ tiểu thuyết : Dứt tình
(1934), Giông tố (1936), Số đỏ (1936),Vỡ đê (1936), Làm đĩ (1936), Lấy nhau vì
tình (1937), Quý phái (đăng dở trên Đông dương tạp chí) (1937), Trúng số độc đắc
(1938), Người tù được tha (Truyện vừa – di cảo). Trong số đó, Giông tố, Số đỏ, Vỡ
đê được coi là những bộ tiểu thuyết kiệt tác của văn học Việt Nam.