ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BÙI THỊ THU HUẾ
THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI VIẾT VỀ BIỂN ĐẢO
(KHẢO SÁT QUA MỘT SỐ TÁC GIẢ TIÊU BIỂU) LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lý luận văn học
HÀ NỘI-2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Tác giả xin gửi lời cảm ơn trân trọng nhất đến Ban Giám hiệu
trường Đa
̣
i học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc Gia Hà
Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để các học viên chúng tôi hoàn thành
tốt nhiệm vụ của mình.
Cùng với các học viên lớp Cao học Lý luận Văn học, chân thành cảm
ơn quý thầy cô đã tận tình giảng dạy, mở rộng và chuyển tải kiến thức
chuyên môn sâu sắc và cập nhật thông tin hiện đại cho chúng tôi.
Đặc biệt, chúng tôi chân thành cảm ơn PGS.TS Trần Khánh Thành,
thầy đã không quản ngại thời gian và công sức, hướng dẫn tận tình giúp
tác giả hoàn thành tốt luận văn.
Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, bạn bè thân thuộc đã luôn là chỗ
dựa tinh thần vững chắc, giúp tác giả thực hiện tốt luận văn này.
Dù đã có nhiều cố gắng song luận văn không thể tránh khỏi những
thiếu sót và hạn chế. Kính mong nhận được sự chia sẻ, những ý kiến đóng
góp quý báu của quý thầy cô và các bạn!
Tác giả Bùi Thị Thu Huế 1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1. Lý do chọn đề tài 3
2. Lịch sử vấn đề 5
3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đất nước Việt Nam có bờ biển trải dài theo hình chữ S với trên 3000
km bờ biển suốt từ biên giới Trung Quốc cho tới vịnh Thái Lan. Là một quốc
gia nằm trong số 10 nước trên thế giới có chỉ số cao nhất về chiều dài bờ biển,
biển đảo Việt Nam không chỉ gắn liền với những kỳ quan thiên nhiên mà còn
là những dấu mốc gắn liền với những giá trị lịch sử, chính trị, kinh tế, văn
hóa, chiếm giữ vị trí quan trọng về an ninh quốc phòng của đất nước. Trong
bối cảnh hội nhập quốc tế, biển là chiến lược của toàn cầu. Mỗi một dân tộc
muốn lớn mạnh phải từ biển. Do đó, biển đảo có một vai trò vô cùng to lớn.
Cảm hứng về biển đảo trong thơ ca từ xưa đến nay luôn dạt dào, xuyên
văn, luận án nào nghiên cứu “Thơ Việt Nam hiện đại viết về biển đảo”. Thảng
hoặc trong các luận văn, luận án nghiên cứu về Hữu Thỉnh, Trần Đăng Khoa,
các tác giả có nhắc đến đề tài biển đảo hay hình tượng người lính ở một
mục nhỏ mà chưa có những nghiên cứu sâu rộng, bao quát vấn đề.
Chọn đề tài: “Thơ Việt Nam hiện đại viết về biển đảo”, chúng tôi muốn
bước đầu nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện những đặc điểm riêng
của mảng thơ biển đảo cùng những đóng góp của các tác giả đối với đời sống
văn học đương đại. Đồng thời khẳng định tình yêu biển đảo - yêu quê hương,
đất nước là một mạch nguồn không bao giờ vơi cạn trong văn học. Nó hình
thành một dòng chảy mãnh liệt thẩm thấu trong tâm hồn những người dân
Việt Nam từ xa xưa, được nối tiếp cho đến ngày nay và mai sau.
Nghiên cứu đề tài “Thơ Việt Nam hiện đại viết về biển đảo” giúp cho
người viết có cái nhìn khái quát về một trong những cảm hứng chủ đạo của
thơ Việt Nam hiện đại là cảm hứng về quê hương, đất nước. Qua việc khảo
sát các tác giả tiêu biểu viết về biển đảo, người viết muốn chỉ ra những điểm
chung cũng như những nét riêng trong cách nhìn, cách nghĩ cũng như cách
khai thác đề tài của mỗi nhà thơ. 5
2. Lịch sử vấn đề
Đề tài nghiên cứu “Thơ Việt Nam hiện đại viết về biển đảo” là một đề
tài mới, mang tính thời sự nóng bỏng. Theo khảo sát của chúng tôi đến nay, từ
luận văn tốt nghiệp, luận văn Thạc sĩ cho đến luận án Tiến sĩ chưa có ai
nghiên cứu vấn đề “Thơ viết về biển đảo”.
Trên các báo Biên phòng, Sài Gòn giải phóng, Thanh niên … và các
trang báo mạng thấy rải rác xuất hiện một số bài viết bàn về đề tài biển đảo
trong thơ Việt Nam. Nổi lên là các bài viết: Biển đảo và Tổ quốc trong thơ
của tác giả Phạm Thị Phương Thảo, Biển - đảo và thơ của tác giả Tạ Văn Sỹ,
Biển đảo là nguồn cảm hứng vô tận cho thi ca và âm nhạc của tác giả
lên như vậy. Trên biển không chỉ có sóng, có gió mà còn có cả con người -
những con người hết sức đẹp đẽ. Trong nhiều năm qua, đã có hàng trăm nhà
văn, nhà thơ đến với Trường Sa, Hoàng Sa Nhưng không chỉ có Trường Sa,
Hoàng Sa, mà những hòn đảo khác nữa trong vùng biển thiêng liêng của Tổ
quốc mãi sẽ là đề tài lớn với thi ca, bởi đó là máu thịt, là hương hỏa từ ngàn
đời của ông cha ta bao thế hệ” [7].
Còn trong bài Biển đảo - nguồn cảm hứng nghệ thuật vô bờ, tác giả
Nguyễn Hữu Quý cũng khẳng định: “ Biển đảo, một phần lãnh thổ vô cùng
thiêng liêng của Tổ quốc mang những dấu ấn lịch sử dựng nước và giữ nước
sâu đậm của dân tộc ta, gắn với hình ảnh của những người lính, người dân đối
mặt với sóng gió luôn là nguồn cảm hứng dạt dào vừa quen thuộc vừa mới mẻ
của những văn nghệ sĩ” [66].
Tiếp thu những bài viết trên, luận văn nghiên cứu tìm hiểu “Thơ Việt
Nam hiện đại viết về biển đảo” để có một cái nhìn toàn diện về mảng đề tài
này trong văn học Việt Nam hiện đại. Đây là sự nối tiếp một trong hai mạch
nguồn lớn nhất của nền văn học nước ta. Trên cơ sở đó, chúng tôi mong góp
một tiếng nói nhỏ bé của mình để khẳng định đầy đủ và sâu sắc hơn những
đóng góp của thơ hiện đại Việt Nam trong dòng chảy của thi ca dân tộc, nhất
là trước những vấn đề thời sự hôm nay. 7
3. Mục đích, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu “Thơ Việt Nam hiện đại viết về biển đảo” nhằm phát hiện
những nét chung cũng như những tìm tòi riêng của các nhà thơ khi viết về
biển đảo. Đặc biệt thấy được tiếng thơ khẳng định chủ quyền lãnh thổ đất
nước trong thơ Việt Nam hiện đại là một dòng chảy từ xưa đến nay nó vẫn
xuyên thấm, vẫn được khúc xạ qua tâm hồn nhiều thế hệ. Trong luận văn,
chúng tôi tập trung khảo sát một số gương mặt tiêu biểu của thơ Việt Nam
pháp chính sau đây:
4.1. Phương pháp hệ thống.
4.2. Phương pháp so sánh.
4.3. Phương pháp thống kê.
4.4. Phương pháp phân tích, tổng hợp.
5. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và danh mục Tài liệu tham khảo,
cấu trúc Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Biển đảo và thơ viết về đề tài biển đảo.
Chương 2: Những cảm hứng chủ đạo trong thơ viết về biển đảo.
Chương 3: Hệ thống hình tượng và biểu tượng nghệ thuật tiêu biểu.
9
CHƢƠNG 1: BIỂN ĐẢO VÀ THƠ VIẾT VỀ ĐỀ TÀI BIỂN ĐẢO
1.1. Biển đảo Việt Nam
Lâu nay, khi nói đến lãnh thổ Việt Nam nhiều người thường chỉ nghĩ
đến diện tích đất liền hay phần lục địa chạy dài từ ải Nam Quan đến mũi Cà
Mau, bắc giáp Trung Quốc, tây giáp Lào và Campuchia. Tuy nhiên, theo
triển của lịch sử mấy ngàn năm, dân tộc Việt Nam luôn có ý thức bảo vệ biên
10
giới lãnh thổ trên đất liền và ngoài biển, thể hiện chủ quyền trên biển và các
hải đảo của đất nước mình.
Vùng biển và ven biển Việt Nam lại nằm án ngữ trên các tuyến hàng
hải và hàng không huyết mạch thông thương giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình
Dương, giữa châu Âu, Trung Cận Đông, Trung Quốc và Nhật Bản với các
nước trong khu vực. Có thể nói, đó là cánh cửa rộng mở để cho ta vươn ra đại
dương bao la, nhằm chủ động hội nhập kinh tế với thế giới có hiệu quả.
Vùng biển nước ta không những có vị trí quan trọng về kinh tế mà còn
có vị trí đặc biệt quan trọng về quân sự đối với các nước trong khu vực và
trong chiến lược của các nước lớn. Nó là biên giới phía Đông, là đường tiếp
cận, bàn đạp tiến công, uy hiếp, phong tỏa và phá hoại nhiều mặt của các thế
lực xâm lược. Lịch sử cho thấy rằng trong 14 cuộc chiến tranh xâm lược của
kẻ thù đối với nước ta, thì có 10 cuộc bắt đầu từ hướng biển, kẻ thù đã sử
dụng đường biển để tấn công xâm lược nước ta. Những chiến công hiển hách
trên chiến trường sông biển đã minh chứng: Ba lần đại thắng quân thù trên
sông Bạch Đằng (năm 938, 981 và 1288); chiến thắng trên phòng tuyến sông
Như Nguyệt (năm 1077); chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút (năm 1785) và
những chiến công vang dội của quân và dân ta trên chiến trường sông biển
trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ là những
minh chứng ghi đậm dấu ấn không bao giờ phai mờ trong lịch sử dân tộc.
Trong cuộc chiến tranh “phá hoại và bóp nghẹt” của không quân và hải quân
Mỹ (1964 - 1968 và 1972), “Đoàn tàu không số” của “Đường Hồ Chí Minh
trên biển” đã kiên cường, dũng cảm, sáng tạo mở tuyến, vận chuyển chi viện
cho miền Nam, giải phóng các đảo và quần đảo Trường Sa, góp phần giành
thắng lợi trọn vẹn cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Biển nước ta còn gắn với những giá trị thiêng liêng về tâm linh và lịch
sử. Truyền thuyết về Lạc Long Quân - Âu Cơ và những chiến công lịch sử
Với những tiềm năng rất lớn từ phía biển, biển Đông cùng các đảo hiện
nay vẫn còn diễn ra các tranh chấp phức tạp và quyết liệt về chủ quyền giữa
12
các quốc gia, nơi tiềm ẩn những bất trắc khó lường, đang là thách thức đe dọa
đến chủ quyền lãnh thổ, an ninh của nước ta trên biển và từ hướng biển.
Biển đảo vì thế trở thành một vấn đề nóng bỏng, thu hút sự quan tâm
của nhiều lĩnh vực. Trong đó thơ ca cũng lấy biển đảo là nguồn cảm hứng cho
các sáng tạo.
1.2. Thơ viết về đề tài biển đảo
Nhận rõ vị trí tầm quan trọng của biển đảo nên các nhà thơ đã dành
không ít những tác phẩm viết về biển đảo. Có thể nói, biển đảo đã trở thành
một đề tài lớn thu hút sự quan tâm của văn học. Bởi từ xưa đến nay, phần lãnh
thổ thiêng liêng này đã gắn liền với số phận dân tộc. Từng hải lý, từng tấc
đảo, Hoàng Sa, Trường Sa… là máu, mồ hôi của ông cha để lại. Tổ Quốc thân
yêu đã và đang hướng ra biển lớn. Văn học nói chung và thơ ca nói riêng
không thể thờ ơ hay đứng ngoài những vấn đề lớn của dân tộc. Hành trình lịch
sử và hành trình của thơ ca chân chính không tách rời nhau bởi hạt nhân của
nó là lòng yêu nước nồng nàn.
Song hành với ngư dân và những người lính đang ngày đêm canh giữ
biển đảo - một phần máu thịt thiêng liêng của Tổ quốc còn có những nhà thơ.
Họ không thường xuyên có mặt trực tiếp trên biển, song những bài thơ của họ
thì luôn ấm nóng, luôn khẳng định chủ quyền bất di bất dịch về vùng lãnh hải
mà hàng nghìn năm nay cha ông ta đã cất công gìn giữ.
Thật có lý khi nhà văn Nguyễn Trí Huân cho rằng: “Việt Nam là một
dân tộc hướng ra biển. Biển “nóng” lên thế nào, đất liền cũng sẽ “nóng” lên
như vậy. Trên biển không chỉ có sóng, có gió mà còn có cả con người - những
con người hết sức đẹp đẽ. Trong nhiều năm qua, đã có hàng trăm nhà văn, nhà
thơ đến với Trường Sa, Hoàng Sa Nhưng không chỉ có Trường Sa, Hoàng
Sa, mà những hòn đảo khác nữa trong vùng biển thiêng liêng của Tổ quốc sẽ
yếu để thể hiện tình yêu. Bản thân Xuân Diệu lại được sinh ra và lớn lên trên
mảnh đất Quy Nhơn đầy sóng và gió nên biển với ông như một phần hồn
không thể thiếu. Một minh chứng cho điều đó là bài thơ Biển.
14
Biển được viết sau Cách mạng tháng Tám (1962), trên bãi biển Sầm
Sơn. Nhưng như chính nhà thơ tâm sự, nguồn thi hứng của ông lại được gợi
lên từ biển Quy Nhơn cát vàng nước biếc dạt dào, tiếng thầm thì của phi lao
như lời tâm sự của những tình nhân. Thi phẩm được coi là một trong những
bài thơ tình đặc sắc nhất của Xuân Diệu. Đối với Xuân Diệu, biển là cái cớ để
thể hiện tình yêu lứa đôi muôn thuở. Dưới con mắt của “ông Hoàng” thơ tình
thì biển trở thành nơi vỗ nhịp cho tình yêu. Mà nói như nhà phê bình văn học
Nguyễn Đăng Mạnh thì “Biển trong thơ Xuân Diệu đúng là một tình nhân
đắm say, một trái tim vĩ đại không bao giờ mệt mỏi” [53, 61].
Bài thơ thể hiện một tình yêu thật mạnh mẽ, dữ dội và nồng nàn. Đó là
một tình yêu nam tính luôn khao khát được tận hưởng mọi hương vị nồng nàn
của tình yêu:
“Anh xin làm sóng biếc
Hôn mãi cát vàng em
Hôn thật khẽ, thật êm
Hôn êm đềm mãi mãi
Đã hôn rồi, hôn lại
Cho đến mãi muôn đời
Đến tan cả đất trời
Anh mới thôi dào dạt ”
(Biển - Xuân Diệu)
Có lẽ đến nay trong thi ca Việt Nam, kể cả những nhà thơ cách tân mới
nhất, chưa ai dám bạo dạn tả cái hôn đắm đuối đến mức: “hôn mãi”, “hôn thật
khẽ, thật êm”, “hôn êm đềm, mãi mãi”, “hôn rồi hôn lại”, “tan cả đất trời”…
Ngỡ như cả vũ trụ nghẹt thở bởi những cái hôn nồng cháy đến thế! Thấp
non sông, đất nước.
Với Huy Cận, biển không chỉ có sóng, nước, mây trời, nắng gió, trăng
sao, những ngọn đèn biển … mà còn là những bến bờ, xóm thôn, đảo vịnh,
thuyền bè và những con người kiên cường, thủy chung
Biển thật hồn nhiên với biển Sơ khai, với Dưa An Tiêm:
16
“Trời xanh ran lá biếc
Biển chóa ngập buồm vàng
Gió thổi miền bất diệt
Mây tạnh đất hồng hoang”.
(Sơ khai - Huy Cận)
“Đất buổi hồng hoang cát bụi bay
Cát chưa yên định, đất chưa dày
Đất vừa mới nhú từ lòng biển
Cát chửa làm quen những bóng cây”.
(Dưa An Tiêm - Huy Cận)
Biển gần gũi, thân thương với Đoàn thuyền đánh cá, Những người
kéo lưới:
“Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then, đêm sập cửa
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi
Câu hát căng buồm cùng gió khơi”.
(Đoàn thuyền đánh cá - Huy Cận)
“Những người kéo lưới mỗi ban mai
Góc độ chênh chênh đối mặt trời
Kéo mặt trời lên cùng mẻ cá
Sóng là vảy bạc nắng xa phơi”.
(Những người kéo lưới - Huy Cận)
Biển thật giàu và đẹp :
Sâu nặng hơn cả là đằng sau những biến cố thăng trầm của chiến
tranh hoặc phong ba bão tố nhà thơ luôn gửi gắm niềm hi vọng vào biển
khơi với Những thành phố bên bờ biển cả, Trả lại Thái Bình Dương cái
tên hiền hậu… để biển mãi mãi là Biển giàu, biển đẹp và vang ca Tiếng
hát trên cảng: 18
“Thái Bình Dương
Đời đời muối mặn
Thái bình của muối
Thái bình của cơm
Thái bình của những sợi rong thơm
Và của những lòng người bè bạn.
Nước biển chảy qua kẽ tay
Đọng làn muối trắng -
Năm tháng trôi qua kẽ tay
Đọng lại hòa bình
Kết tủa văn minh”.
(Trả lại Thái Bình Dương - cái tên hiền hậu – Huy Cận)
Viết về đề tài biển đảo ở thời kỳ này không thể không kể đến tên tuổi
Xuân Quỳnh - nữ sĩ của tình yêu và hạnh phúc đời thường. Với 10 tập thơ để
lại, Xuân Quỳnh có không ít những bài thơ lấy hình ảnh con thuyền xuôi
ngược, biển cả bao la và những con sóng cuộn trào làm nguồn cảm hứng.
Những hình tượng ấy trở đi trở lại như một phương thức trữ tình độc đáo để
bộc lộ cảm xúc, tình cảm của nhà thơ. Bởi Xuân Quỳnh vốn là người có một
tâm hồn nhạy cảm và khát vọng luôn dâng trào mãnh liệt với tình yêu hạnh
phúc của một con tim cuồng nhiệt đam mê để sống và để yêu. Chị từng nổi
tiếng với những bài thơ tình được đông đảo độc giả yêu thích như: Sóng,
Thuyền và biển, Thơ tình cuối mùa thu
Cả trong mơ còn thức”.
(Sóng - Xuân Quỳnh)
Bên cạnh Sóng, Xuân Quỳnh còn rất nổi tiếng với bài Thuyền và biển
được phổ thành nhạc. Bài thơ là nỗi nhớ thương của thuyền và biển - một ẩn
dụ cho đôi lứa. Nói về nỗi nhớ nhung của đôi lứa xa nhau tưởng như là một
đề tài đã khá cũ nhưng ở đây nhà thơ vẫn tìm thấy cách nói rất riêng khó có
thể trộn lẫn. Phải thấu hiểu nỗi lòng xa nhau của đôi lứa yêu nhau thì Xuân
Quỳnh mới có thể có cảm nhận sâu sắc như thế về sự “bạc đầu thương nhớ”
của biển và nỗi “đau rạn vỡ” của thuyền:
20
“Những ngày không gặp nhau
Biển bạc đầu thương nhớ
Những ngày không gặp nhau
Lòng thuyền đau - rạn vỡ
Nếu từ giã thuyền rồi
Biển chỉ còn sóng gió"
Nếu phải cách xa anh
Em chỉ còn bão tố”.
(Sóng - Xuân Quỳnh)
Về hai bài thơ này, nhà nghiên cứu Lưu Khánh Thơ từng nhận xét:
“Sóng và Thuyền và biển là hai bài thơ tình vào loại hay nhất của Xuân
Quỳnh nói riêng và của thơ hiện đại Việt Nam nói chung. Nó có mặt trong
hầu hết gia tài của những đôi lứa yêu nhau” [47, 228]. Không phủ nhận một
điều đã có rất nhiều nhà thơ cổ điển, hiện đại viết về hình ảnh thuyền, biển,
sóng và cũng có rất nhiều bài thơ thành công khi khai thác về nó (Biển - Xuân
Diệu), nhưng có lẽ chỉ đến Xuân Quỳnh, những hình ảnh đó mới trở nên bất
tử với thời gian. Nhà thơ đã phát hiện ra trong đó tất cả cung bậc của tình yêu:
sự cuốn hút và bí ẩn, nỗi thấu hiểu và sự cảm thông, sự ràng buộc và tự
nguyện, gặp gỡ và chia xa, khát vọng to lớn và sự bất tận, những hạnh phúc
được công bố hiện nay đều thể hiện quá trình khai phá, chiếm hữu và thực thi
chủ quyền liên tục của Việt Nam suốt chiều dài lịch sử. Tuy nhiên thời gian
gần đây, Trung Quốc đã có nhiều hành động xâm hại đến chủ quyền biển đảo
Việt Nam: bắt ngư dân Việt làm ăn, tấn công các tàu Việt trên vùng biển của
chính Việt Nam, ngang ngược xây dựng thành phố Tam Sa trên quần đảo
Hoàng Sa. Những hành động đó của Trung Quốc đã xâm phạm nghiêm trọng
chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; xâm
phạm chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam đối với các vùng biển của Việt
Nam; vi phạm thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề
trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc ký tháng 10/2011; trái với tinh thần
22
Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và Tuyên bố cấp cao kỷ
niệm 10 năm (DOC), làm cho tình hình Biển Đông thêm phức tạp.
Sự kiện Hoàng Sa - Trường Sa trong bảy năm qua đã trở thành vấn đề
thời sự nóng trên thế giới, trong khu vực và hơn cả là ở trong nước nhất là từ
năm 2011. Trên các thông tin đại chúng từ báo in đến báo mạng, từ các vấn đề
chính trị xã hội cho đến văn học - nghệ thuật đều đề cập đến vấn đề biển đảo.
Trong dòng thời sự này, thơ ca là thể loại ngắn, nhanh nhạy nhất của văn học,
đã có mặt kịp thời để “phản ánh” hiện thực ấy. Ở đó có chuyến đi thực tế
dành cho nhà văn nhà thơ hướng ra biển đảo, có cuộc thi hay phong trào sáng
tác thơ về biển đảo và cái không thể thiếu là: có các trang thơ về biển đảo.
Đóng góp cho thơ Việt Nam viết về biển đảo ở thời kỳ này là các sáng
tác của thế hệ các nhà thơ trưởng thành từ sau năm 1975 như: Hữu Thỉnh,
Anh Ngọc, Phan Thị Thanh Nhàn, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Việt Chiến,
Nguyễn Hữu Quý, Lê Thị Mây, Nguyễn Trọng Văn, Trịnh Công Lộc, Nguyễn
Ngọc Phú, …
Trong số các nhà thơ trên có thể tìm thấy ở Hữu Thỉnh tình yêu quê
hương Tổ quốc, yêu biển đảo thật sâu sắc. Đó là nguồn cảm hứng vĩ đại đã
nuôi dưỡng hồn thơ ông. Với các bài thơ Gửi từ đảo nhỏ, Tôi đi Bào Ngư,