BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
PHẠM ĐỨC THỌ
YẾU TỐ KHOA HỌC TRONG LỰC LƯỢNG
SẢN XUẤT VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN
KHOA HỌC – CÔNG NGHỆ Ở
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Đà Nẵng – Năm 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
PHẠM ĐỨC THỌ
Phạm Đức Thọ
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 5
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 6
5. Kết cấu của luận văn 6
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 7
CHƯƠNG 1: KHOA HỌC VÀ VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC TRONG
LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT 11
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 11
1.1.1. Các khái niệm về khoa học, công nghệ 11
1.1.2 Khái niệm lực lượng sản xuất theo quan điểm của chủ nghĩa Mác -
Lênin 16
1.2. VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG LỰC LƯỢNG
SẢN XUẤT 23
1.2.1. Khoa học - công nghệ trong sự phát triển của xã hội loài người 23
1.2.2. Vai trò của khoa học - công nghệ đối với sự phát triển của lực
lượng sản xuất 26
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 32
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA
KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG HIỆN NAY33
2.1.TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ Ở THÀNH
PHỐ ĐÀ NẴNG 33
2.1.1. Vị trí địa lý, kinh tế - xã hội của thành phố Đà Nẵng 33
tăng cường sự quản lý của Nhà nước 89
3.2.3. Nhóm giải pháp hoàn thiện môi trường pháp lý, đổi mới tổ chức,
quản lý hoạt động khoa học và công nghệ 92
3.2.4. Nhóm giải pháp nghiên cứu và ứng dụng, phát triển chuyển giao
công nghệ phục vụ việc phát triển kinh tế - xã hội 95
3.2.5. Nhóm giải pháp hội nhập, giao lưu hợp tác nghiên cứu đào tạo
nguồn nhân lực, hội nghị, hội thảo, tư vấn, trao đổi, học hỏi chuyển giao, phát
triển chính sách công nghệ 97
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 100
KẾT LUẬN 101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
DANH MỤC CÁC BẢNG Số hiệu
bảng
Tên bảng Trang
2.1 Biến đổi cơ cấu dân số, lao động và việc làm của Đà Nẵng 39
2.2 Lực lượng lao động ở Đà Nẵng giai đoạn 1997 – 2009 40
2.3 Lực lượng lao động phân theo trình độ giai đoạn 1997 - 2011 42
2.4 Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức các cơ quan
hành chính, đơn vị sự nghiệp thuộc thành phố Đà Nẵng
45
2.5 Chuyển đổi về chất lượng của công chức hành chính 46
2.6 Sự thay đổi về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức
phường, xã
47
2
chung của các nước, khoa học trở thành một nấc thang quan trọng không thể
thiếu cho sự phát triển chung của mọi quốc gia.
Nhìn từ mọi phương diện hay mức độ khác nhau, khoa học - công nghệ
đã có tầm ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển chung của mọi quốc gia trên
thế giới trong đó có Việt Nam. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay - khi nước ta
đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Khoa
học - công nghệ được Đảng và Nhà nước ta chú trọng đầu tư phát triển một
cách chú trọng nhất, đó là yếu tố quan trọng đảm bảo cho thắng lợi của sự
nghiệp xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trong các văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam, nhất là trong các
kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII đến nay, vấn đề giáo dục - đào tạo;
khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu được Đảng ta nhấn mạnh và đưa
ra chính sách nâng cao dân trí để tiếp thu khoa học và công nghệ tiên tiến,
từng bước tiến vào hội nhập nền văn minh quốc tế. Văn kiện Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ VIII của Đảng khẳng định: “Khoa học và công nghệ là động
lực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Tại Đại hội IX, văn kiện Đại hội
Đảng ta lại khẳng định: “Khoa học và công nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt”
việc phát triển khoa học công nghệ là nền tảng và động lực của công nghiệp
hóa hiện đại hóa”. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X Đảng ta đề cập vấn đề
khoa học công nghệ một cách sâu sắc hơn: “Phát triển mạnh khoa học và công
nghệ, giáo dục và đào tạo; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu
cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và phát triển kinh tế tri thức”. Đặc
biệt trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI gần đây vấn đề khoa
học và công nghệ được Đảng và Nhà nước ta đề cập một cách cụ thể sâu, sắc
trong từng chi tiết đó là:
“Phát triển mạnh khoa học, công nghệ làm động lực đẩy nhanh quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế tri thức”[26; tr.78].
3
Trong đó góp phần tăng nhanh năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh
mạnh, gắn với các doanh nghiệp chủ lực, đủ sức tiếp thu, cải tiến và sáng tạo
công nghệ mới. Xây dựng và thực hiện chương trình đổi mới công nghệ quốc
gia; có chính sách khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp thuộc mọi thành
phần kinh tế đổi mới công nghệ. Kết hợp chặt chẽ nghiên cứu và phát triển
trong nước với tiếp nhận công nghệ nước ngoài”[26; tr.220].
Đà Nẵng là một trong những đô thị lớn của đất nước, là trung tâm kinh
tế, văn hóa, giáo dục, khoa học…của các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên.
Trong những năm gần đây, Đà Nẵng đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng
trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội nói chung, điều đó khẳng định được vị
thế vai trò của Đà Nẵng trong khu vực miền Trung và Tây Nguyên, góp phần
cùng cả nước tạo tiền đề vững chắc để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành
một nước công nghiệp hiện đại. Tuy nhiên bên những thành tựu đáng biểu
dương ấy thì vấn đề phát triển và áp dụng khoa học - công nghệ vào phát triển
công nghiệp nói riêng và phát triển kinh tế xã hội nói chung ở Đà Nẵng còn
gặp nhiều khó khăn. Dù vậy chúng ta vẫn có thể khẳng định phát triển khoa
học - công nghệ góp phần vào nâng cao cho sự phát triển của lực lượng sản
xuất, mục đích phát triển nhanh công nghiệp hóa hiện đại hóa và phát triển
kinh tế xã hội là cách tất yếu mà hiện nay không chỉ Đà Nẵng mà nhiều thành
phố tỉnh thành trong cả nước đều phải thực hiện. Do đó, vấn đề cấp thiết được
đặt ra hiện nay là phải nghiên cứu một cách có hệ thống và sâu sắc vấn đề yếu
tố khoa học trong lực lượng sản xuất, vai trò của khoa học - công nghệ trong
sự phát triển của lực lượng sản xuất; qua đó tìm ra những biện pháp, phương
hướng để phát triển khoa học - công nghệ ở thành phố Đà Nẵng góp phần vào
sự phát triển chung của thành phố.
5
Do vậy, việc nghiên cứu vấn đề phát triển khoa học - công nghệ ở
thành phố Đà Nẵng là hết sức cần thiết, có tính cấp bách về ý nghĩa khoa học
và giá trị thực tiễn. Đó là lý do tôi chọn đề tài “ Yếu tố khoa học trong lực
lượng sản xuất với việc phát triển khoa học - công nghệ ở thành phố Đà
Nẵng” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.
Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các phương pháp cụ thể như: Phân tích -
tổng hợp, diễn dịch – quy nạp, kết hợp lôgich và lịch sử, thống kê, so sánh,
tổng kết thực tiễn, kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu đã dự báo.
* Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
- Là luận cứ khoa học cho các chủ trương, chính sách, các quy hoạch,
kế hoạch và chương trình phát triển của thành phố.
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm về việc
phát triển khoa học - công nghệ của Đà Nẵng.
- Cơ sở lý luận và thực tiễn của luận văn sẽ đóng góp vào việc phát
triển khoa học - công nghệ ở thành phố Đà Nẵng, góp phần vào công cuộc đổi
mới và phát triển kinh tế, xã hội trên địa bàn thành phố.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục và
mục lục, luận văn gồm có 3 chương và 7 tiết:
Chương 1: Khoa học và vai trò khoa học trong lực lượng sản xuất.
Chương 2: Thực trạng và xu hướng phát triển của khoa học - công nghệ
ở thành phố Đà Nẵng hiện nay.
Chương 3: Quan điểm, mục tiêu và những giải pháp chủ yếu để phát
triển khoa học - công nghệ ở thành phố Đà Nẵng.
7
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Do tầm quan trọng của yếu tố khoa học và công nghệ đã tác động mạnh
mẽ đến sự phát triển của nhân loại. Thành tựu của cuộc cách mạng khoa học –
công nghệ đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội, điều này đã làm cho
nhiều nhà nghiên cứu kinh tế trong và ngoài nước quan tâm sâu sắc. Đã có
một số công trình nghiên cứu, sách và bài báo, bài tham luận ở nhiều cuộc hội
thảo liên quan đến đề tài luận văn từ nhiều góc độ khác nhau.
- “Khoa học và công nghệ phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và
phát triển bền vững” ( Bộ khoa học và công nghệ, cục thông tin khoa học và
dung luận văn, tác giả đã trình bày về vai trò của khoa học - công nghệ đối
với sự phát triển của lực lượng sản xuất và vai trò của khoa học - công nghệ
đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất ở thành phố Đà Nẵng, qua đó tác
giả đã nêu ra một số giải pháp nhằm áp dụng khoa học - công nghệ để thúc
đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất ở Đà Nẵng.
Bên cạnh đó có các công trình nghiên cứu như: “Vai trò của tri thức
khoa học trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện
nay” (Trần Hồng Lưu, Nxb Chính trị quốc gia – Sự Thật năm 2009 ), đề cập
đến bản chất, cấu trúc tri thức khoa học, đồng thời làm rõ vai trò quan trọng
của tri thức khoa học trong đời sống xã hội và quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa của Việt Nam. Công trình nghiên cứu“Phát triển nguồn nhân lực
phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thành phố Đà Nẵng” (Dương Anh
Hoàng, Nxb Chính trị quốc gia - Sự Thật năm 2012 ), tác giả đề cập rất rõ về
nội dung cơ bản về nguồn nhân lực, những đặc điểm của quá trình công
nghiệp hóa ở Đà Nẵng, đồng thời tác giả đưa ra giải pháp phát triển nguồn
nhân lực phục vụ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Đà Nẵng.
9
Đặc biệt, chủ trương của Đảng và Nhà nước về khoa học - công nghệ,
ban hành trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 BCH TW Đảng khóa XI ngày
1.1.2012. Nghị quyết đã nêu rõ định hướng phát triển khoa học - công nghệ
đến năm 2020 và tầm nhìn 2030. Với việc phát triển và ứng dụng khoa học –
công nghệ là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng nhất
để phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Bên cạnh đó có: Luật khoa học
và công nghệ được kỳ họp thứ 7 Quốc Hội khóa X thông qua tháng 6 năm
2000 là bộ luật của Nhà nước Việt Nam về các vấn đề khoa học - công nghệ.
Đối với địa phương Đà Nẵng, tiếp cận bản báo cáo của Sở Khoa học và
công nghệ thành phố Đà Nẵng số 32/BC- SKHCN “Đánh giá tình hình hoạt
động khoa học và công nghệ 5 năm 2011 - 2015 và phương hướng phát triển
5 năm 2016 – 2020”, báo cáo đã trình bày tình hình thực hiện kế hoạch 5 năm
2011- 2015 và chiến lược phát triển khoa học công nghệ đến năm 2020, qua
TRONG LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
1.1.1. Các khái niệm về khoa học, công nghệ
* Khái niệm khoa học
Khái niệm khoa học đã xuất hiện từ rất sớm, đó là một quá trình nhằm
nghiên cứu, khám phá ra những kiến thức mới, học thuyết mới…về tự nhiên
và xã hội. Trong lịch sử có rất nhiều quan niệm khác nhau về khoa học.
Trong từ điển Triết học, Nhà xuất bản Tiến bộ 1975 viết: “Khoa học -
lĩnh vực hoạt động nghiên cứu nhằm mục đích sản xuất ra những kiến thức
mới về tự nhiên, xã hội và tư duy bao gồm tất cả những điều kiện và những
yếu tố của sản xuất này” .
Trong từ điển Bách khoa Việt Nam, Nhà xuất bản Từ điển bách khoa
Hà Nội 2002 viết: “Khoa học là hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội và tư
duy được tích lũy trong quá trình nhận thức trên cơ sở thực tiễn, được thể
hiện bằng khái niệm phán đoán, học thuyết”.
Ngoài ra, theo quan điểm triết học Mác - Lênin, khoa học được hiểu là
một hình thái ý thức xã hội.
Từ những định nghĩa trên, có thể hiểu một cách khái quát về khoa học:
Khoa học là một hệ thống tri thức về quy luật của vật chất và sự vận động của
vật chất, những quy luật tự nhiên, xã hội và tư duy. Hệ thống tri thức này hình
thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội.
Ngoài ra tùy vào mục đích nghiên cứu và cách tiếp cận của từng ngành,
bộ môn khác nhau thì khái niệm khoa học cũng được tìm hiểu ở các góc độ
khác nhau:
12
- Xem xét khoa học là một hoạt động đặc thù.
Trước đây, hoạt động khoa học còn mang tính đơn lẻ, cá biệt của một
cá nhân hay một nhóm trong xã hội kém phát triển. Nhưng ngày nay khoa học
đã trở thành một hoạt động nghề nghiệp được xã hội hóa cao. Đó là một dạng
có tính hệ thống, thì chưa phải là khoa học.
Trong mỗi bộ môn khoa học nó được thống nhất với nhau giữa các yếu
tố: Khách thể và chủ thể. Trong đó khách thể khoa học tức là đối tượng là cái
mà nhà khoa học nghiên cứu nhằm vạch ra tính chất, cấu trúc, xu hướng của
nó bao gồm hệ thống, phương pháp và thủ thuật chủ yếu do đối tượng quy
định. Còn chủ thể khoa học tức nhà khoa học là thành tố chủ yếu dưới các cấp
độ như cá nhân, nhóm hay là cộng đồng. Sự tồn tại của một khoa học được
thể hiện ở các phương diện: Một lĩnh vực hoạt động sản xuất tri thức của con
người ngày càng thâm nhập và trở thành yếu tố quan trọng của văn hóa; một
thiết chế xã hội cùng toàn bộ cơ sở hạ tầng của nó như tổ chức khoa học,
nguồn tài chính, thiết bị và phương tiên nghiên cứu; một quá trình nhận thức
mà kết quả của nó là những tri thức hợp nhất thành hệ thống hữu cơ đang phát
triển.
Một khoa học nó bao gồm năm tiêu chí sau: Thứ nhất, lý thuyết khoa
học là hệ thống tri thức dưới dạng phạm trù, khái niệm quy luật gồm bộ phận
riêng và bộ phận tiếp nhận từ tri thức khác; thứ hai, có một phương pháp luận
và lý thuyết về phương pháp và hệ thống phương pháp chỉ đạo việc lựa chọn,
xây dựng, sử dụng phương pháp gồm phương pháp luận riêng và phương
pháp luận tiếp nhận từ khoa học khác; thứ ba, có mục đích ứng dụng trực tiếp
hoặc gián tiếp, xác định hoặc chưa xác định; thứ tư, có một lịch sử nghiên
14
cứu, chính thức xuất hiện và đi vào phát triển song không phải khoa học nào
cũng thế; và thứ năm, có đối tượng nghiên cứu là những thuộc tính, yếu tố,
quan hệ bản chất của khách thể mà khoa học đó quan tâm phát hiện và cải
biến.
Như vậy với tính cách là lĩnh vực hoạt động tinh thần sản xuất ra hệ
thống các tri thức, khoa học có thể phân chia thành từng nhóm, ngành khác
nhau theo tiêu chí nhất định.
- Xem xét khoa học là một hình thái ý thức xã hội.
Khoa học được quy định bởi các yếu tố của tồn tại xã hội, đồng thời nó
pháp, vật liệu, công cụ và các tiến trình để giải quyết một vấn đề; các sản
phẩm được tạo ra phải hàng loạt và giống nhau; sản phẩm có chất lượng cao
và giá thành hạ.
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về thuật ngữ công nghệ, cụ thể:
Theo định nghĩa của tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hiệp quốc
(UNIDO) viết: “Công nghệ là việc áp dụng khoa học vào công nghiệp bằng
cách sử dụng các công trình nghiên cứu, và sử dụng nó có hệ thống, có
phương pháp. Công nghệ là sản phẩm tinh hoa của trí tuệ mà con người sáng
tạo ra cho xã hội và là công cụ chủ yếu để con người đạt được mục đích cần
thiết, là cơ sở để nâng cao năng suất lao động, tận dụng tài nguyên thiên
nhiên, cải thiện điều kiện làm việc”.
Theo định nghĩa của Ủy ban kinh tế - xã hội khu vực Châu Á - Thái
Bình Dương viết: “Công nghệ là hệ thống kiến thức về quy trình và kỷ thuật
để chế biến nguyên vật liệu và thông tin. Nó bao gồm tất cả các kỹ năng, kiến
thức, thiết bị và phương pháp sử dụng chúng trong sản xuất, trong chế biến
thông tin, trong dịch vụ công nghiệp và trong quản lý”.
16
Ngoài ra theo từ điển tiếng việt viết: “Công nghệ là tổng thể nói chung
các phương pháp gia công, chế tạo, làm thay đổi trạng thái, tính chất, hình
dáng nguyên vật liệu hay bán thành phẩm sử dụng trong quá trình sản xuất
để tạo ra sản phẩm”.
Như vậy, từ những định nghĩa trên, có thể rút ra khái niệm cơ bản như
sau: Công nghệ là tổng hợp các hệ thống kiến thức khoa học được áp dụng
vào trong đời sống sản xuất vật chất nhằm đạt được mục đích cần thiết cho
con người. Công nghệ là nấc thang quan trọng không thể thiếu trong sự tiến
bộ của nhân loại.
Công nghệ được thể hiện qua hai bộ phận phần cứng và phần mềm cấu
thành:
Trong đó phần cứng bao gồm các trang thiết bị như: Máy móc, nhà
xưởng, thiết bị công cụ thiết yếu sản xuất…
Còn trong tác phẩm: “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị và Tư
bản”, Mác đã chỉ rõ năng lực của con người đó chính là sức lao động. Và sức
lao động theo Mác là: “Toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại
trong một cơ thể, trong một con người đang sống và được người đó đem ra
vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị thặng dư nào đó. Sức lao động là
khả năng lao động của con người, là điều kiện tiên quyết của mọi quá trình
sản xuất và lực lượng sản xuất sáng tạo chủ yếu của xã hội”.
Trong hoạt động sản xuất vấn đề sức lao động của con người hoàn toàn
phụ thuộc vào mục đích, nhu cầu, trình độ, cách thức tổ chức và còn phụ
thuộc vào các vấn đề khách quan trong quá trình sản xuất vật chất. Ngoài ra
đó chưa phải là nguyên nhân đầu tiên ảnh hưởng đến chất lượng về sức lao
động của con người trong quá trình sản xuất vật chất, ở đó còn có sự phụ
18
thuộc vào yếu tố tinh thần của con người trong quá trình hoạt động sản xuất,
chẳng hạn như: Tinh thần, kỹ năng, thị hiếu, kinh nghiệm… những yếu tố này
tuy không giữ vai trò nòng cốt nhưng có ảnh hưởng ít nhiều trong quá trình
sản xuất vật chất.
Như trong mọi hoạt động khác, con người lấy vật chất làm đối tượng
trực tiếp tạo ra sản phẩm, đây chính là kết quả trong quá trình hoạt động sản
xuất vật chất của con người. Thông qua hoạt động sản xuất, con người đã làm
thay đổi một phần nội dung và hình thức để tạo thành sản phẩm. Đối tượng
sản xuất vật chất đầu tiên mà con người làm chủ thể đó là tự nhiên, tự nhiên là
trung tâm để con người tác động vào để tạo ra sản phẩm trong quá trình sản
xuất vật chất. Về sau, khi khoa học càng phát triển, thứ mà con người hướng
đến lại là những thứ không có trong tự nhiên, con người tìm đến những đối
tượng mới để hoạt động sản xuất vật chất, phục vụ nhu cầu của con người và
xã hội.
Tóm lại, con người đã dựa vào tự nhiên và những đối tượng do con
người tạo ra bằng chính lao động của mình để biến thành sản phẩm. Đặc biệt
ngày nay nhóm đối tượng do con người tạo ra bằng chính lao động của mình,