BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
LƯU THỊ THẮM
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH Ở
TRUNG TÂM VĂN HOÁ KINH BẮC TỈNH BẮC NINH
CHUYÊN NGÀNH : QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ : 60.34.01.02 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. KIM THỊ DUNG HÀ NỘI, NĂM 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
doanh - Học Viện Nông nghiệp Việt Nam đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong thời gian
học tập cũng như thực hiện Luận văn. Kiến thức mà các thầy cô truyền đạt sẽ là
hành trang giúp tôi vững bước hơn trên con đường đời sau này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Cô PGS.TS Kim Thị Dung đã tận
tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận văn tốt nghiệp. Nhờ có sự
hướng dẫn của cô mà tôi đã hoàn thành được Luận văn của mình và tích luỹ được
nhiều kiến thức quý báu trong môi trường tôi đang công tác.
Tôi xin gửi lời cảm ơn gia đình, người thân đã động viên tôi rất nhiều trong
thời gian vừa qua.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi hoàn thành
luận văn này.
Cuối cùng xin chúc Quý thầy cô và các bạn luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và
thành đạt trong cuộc sống ./.
Tác giả
Lưu Thị Thắm
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iii
MỤC
LỤC Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
2.2.4 Bài học kinh nghiệm rút ra trong quản lý tài chính đối với Trung
tâm Văn hóa Kinh Bắc 34
3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
3.1 Đặc điểm cơ bản của tỉnh Bắc Ninh 36
3.1.1 Đặc điểm về vị trí địa lý 36
3.1.2 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên và dân số 37
3.1.3 Đặc điểm về văn hoá, xã hội 38
3.1.4 Tình hình phát triển kinh tế của tỉnh Bắc Ninh những năm qua 39
3.2 Đặc điểm của Trung tâm văn hoá Kinh Bắc 41
3.2.1 Quá trình hình thành và phát triển Trung tâm Văn hóa Kinh Bắc 41
3.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm văn hoá Kinh Bắc 42
3.2.3 Cơ cấu tổ chức, biên chế, cơ chế hoạt động của Trung tâm Văn
hóa Kinh Bắc 44
3.2.4 Tình hình cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật 47
3.3 Phương pháp nghiên cứu 48
3.3.1 Khung phân tích 48
3.3.2 Phương pháp thu thập dữ liệu 48
3.3.3 Phương pháp phân tích 50
3.3.4 Hệ thống chỉ tiêu chủ yếu trong phân tích 50
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 51
4.1 Thực trạng công tác quản lý tài chính tại Trung tâm Văn hoá
Kinh Bắc 51
4.1.1 Xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ. 51
4.1.2 Lập dự toán thu chi tại Trung tâm Văn hoá Kinh Bắc 65
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page v
4.1.3 Tổ chức thực hiện và chấp hành kế hoạch thu chi 70
4.1.4 Thực trạng công tác kiểm tra, kiểm soát thu chi tại Trung tâm
Văn hóa Kinh Bắc 78
VIẾT
TẮT
CBCNV Cán bộ công nhân viên
ĐVSN Đơn vị sự nghiệp
HĐND Hội đồng nhân dân
HCSN Hành chính sự nghiệp
KBNN Kho bạc nhà nước
NĐ-CP Nghị định chính phủ
NSNN Ngân sách nhà nước
TSCĐ Tài sản cố định
TTVHKB Trung tâm Văn hoá Kinh Bắc
UBND Ủy ban nhân dân
XDCB Xây dựng cơ bản
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vii
DANH
4.14 Số lượng và cơ cấu các nguồn thu thực tế của Trung tâm văn hóa
Kinh Bắc 75
4.15 Tổng hợp các khoản chi đã thực hiện trong 3 năm tại Trung tâm
Văn hóa Kinh Bắc 77
4.16 Tình hình kiểm tra, kiểm soát thực hiện thu chi tại Trung tâm
VHKB 2011-2013 79
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page viii
4.17 Kết quả hạch toán thu chi tại Trung tâm VHKB qua 3 năm
(2011, 2012 và 2013) 80
4.18 Kết quả thực hiện kế hoạch nguồn thu của trung tâm qua 3 năm 83
4.19 Kết quả thực hiện dự toán chi tài chính tại Trung tâm Văn hóa
Kinh Bắc 85
4.20 Số lượng và tỷ lệ ý kiến trả lời của cán bộ nhân viên về thực hiện
các nguyên tắc quản lý tài chính của trung tâm 88
4.21 Số lượng và tỷ lệ ý kiến trả lời của khách hàng đã sử dụng dịch
vụ tại trung tâm 89
4.22 Số lượng và tỷ lệ ý kiến trả lời của CBCNV và khách hàng về
quản lý chi đầu tư xây dựng cơ bản của trung tâm 90
4.23 Định mức chi tiền điện thoại tại các phòng ban 95
PHỤ LỤC 104
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page ix
DANH
MỤC
CÁC
triển kinh tế - xã hội là một xu thế tất yếu của các nước trên thế giới, đặc biệt là
những nước đang phát triển như Việt Nam.Chuyển sang nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ trương xã hội hóa dịch vụ công, các đơn vị sự
nghiệp ở Việt Nam không còn đơn thuần thực hiện chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước
giao mà còn tự tổ chức cung ứng dịch vụ cho xã hội. Nguồn tài chính của các đơn
vị này không chỉ do ngân sách Nhà nước cấp mà từng đơn vị đều khai thác thêm
các nguồn thu từ hoạt động dịch vụ cho xã hội. Trong những năm gần đây, số thu
từ hoạt động cung ứng dịch vụ không chỉ là nguồn thu bổ sung mà còn chiếm tỷ
trọng ngày càng cao trong tổng nguồn kinh phí của đơn vị. Thực hiện đổi mới cơ
chế tài chính, việc nhà nước trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị
sự nghiệp có thu đã giúp các đơn vị chủ động hơn trong việc tổ chức công việc,
sắp xếp lại bộ máy, sử dụng lao động và nguồn lực tài chính để hoàn thành nhiệm
vụ được giao, phát huy mọi khả năng của đơn vị để cung cấp dịch vụ với chất
lượng cao cho xã hội, tăng nguồn thu nhằm từng bước nâng cao thu nhập cho cán
bộ, viên chức và người lao động.
Thực hiện lộ trình cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001- 2010,
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 quy định về
cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế
và tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập. Cơ chế tự chủ tài chính theo
Nghị định số 43/2006/NĐ-CP tạo điều kiện cho đơn vị chủ động sử dụng nguồn lực
tài chính, lao động, cơ sở vật chất để thực hiện nhiệm vụ được giao, chủ động phân
bổ nguồn tài chính của đơn vị theo nhu cầu chi tiêu đối với từng lĩnh vực trên tinh
thần tiết kiệm, thiết thực hiệu quả; khuyến khích các đơn vị mở rộng hoạt động dịch
vụ, tăng nguồn thu; tiết kiệm chi, tăng thu nhập cho người lao động; cơ chế tự chủ
tạo điều kiện cho đơn vị sự nghiệp thực hiện việc kiểm soát chi tiêu nội bộ; nâng
cao kỹ năng quản lý và chất lượng hoạt động sự nghiệp.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 2
Năm 2012 Ban chỉ đạo Nhà nước về thực hiện đổi mới cơ chế hoạt động các
Page 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý tài chính
trong đơn vị sự nghiệp có thu.
- Phản ánh và đánh giá thực trạng công tác quản lý tài chính ở Trung tâm
Văn hoá Kinh Bắc tỉnh Bắc Ninh trong những năm qua.
- Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý tài chính ở Trung tâm
Văn hoá Kinh Bắc tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề liên quan đến công tác quản
lý tài chính ở Trung tâm Văn hoá Kinh Bắc.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại Trung tâm Văn
hoá Kinh Bắc tỉnh Bắc Ninh.
- Về thời gian: Đề tài được thực hiện từ tháng 05 năm 2013 đến tháng 10
năm 2014, do đó các số liệu liên quan đến thực trạng công tác quản lý tài chính ở
Trung tâm Văn hoá Kinh Bắc được phán ánh trong thời gian 3 năm trở lại đây ( từ
năm 2011 - 2013) được thu thập để phục vụ nghiên cứu đề tài. Các giải pháp của đề
tài được xác định đến năm 2020.
- Về nội dung: Đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu các nội dung sau:
Thứ nhất, nghiên cứu cơ sở lý luận, tập trung chủ yếu vào công tác quản lý
tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu.
Thứ hai, nghiên cứu thực trạng công tác quản lý tài chính ở Trung tâm Văn
hoá Kinh Bắc, trong đó tập trung vào công tác quản lý thu tài chính, quản lý chi tài
chính và quản lý tài sản tại Trung tâm Văn hoá Kinh Bắc.
Thứ ba, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý
tài chính ở Trung tâm Văn hoá Kinh Bắc trong thời gian tới.
NGHIỆP
CÓ
THU
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số khái niệm liên quan
2.1.1.1 Khái niệm về quản lý
Theo Koontz, Odonnell, and Weihrich (1974), quản lý là sự cộng tác liên tục
có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách
thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế… bằng một hệ
thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp
cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng. Đối
tượng quản lý có thể trên qui mô toàn cầu, khu vực, quốc gia, ngành, đơn vị, có thể
là một con người, sự vật cụ thể. Quản lý thể hiện việc tổ chức, điều hành tập hợp
người, công cụ, phương tiện tài chính,… để kết hợp các yếu tố đó với nhau nhằm
đạt mục tiêu định trước. Chủ thể muốn kết hợp được các hoạt động của đối tượng
theo một định hướng quản lý đặt ra phải tạo ra được “quyền uy” buộc đối tượng
phải tuân thủ. Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình
xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đã đề ra. Sự tác
động của quản lý, phải bằng cách nào đó để người chịu quản lý luôn luôn hồ hởi,
phấn khởi đem hết năng lực và trí tuệ để sáng tạo ra lợi ích cho bản thân, cho tổ
chức và cho cả xã hội. Quản lý là một môn khoa học sử dụng trí thức của nhiều
môn khoa học tự nhiên và xã hội nhân văn khác như: toán học, thống kê, kinh tế,
tâm lí và xã hội học… Nó còn là một “nghệ thuật” đòi hỏi sự khôn khéo và tinh tế
để đạt tới mục đích.
Theo Fayei (1987), quản lý là hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh
Tài chính là quá trình phân phối các nguồn tài chính nhằm đáp ứng nhu cầu
của các chủ thể kinh tế. Hoạt động tài chính luôn gắn liền với sự vận động độc lập
tương đối của các luồng giá trị dưới hình thái tiền tệ thông qua việc hình thành và
sử dụng các quỹ tiền tệ trong nền kinh tế
.
Một cách khái quát, tài chính được xác định như sau: tài chính là hiện tượng
đặc trưng bằng sự vận động độc lập tương đối của tiền tệ với chức năng phương tiện
thanh toán và phương tiện cất trữ trong quá trình tạo lập hay sử dụng các quỹ tiền tệ
đại diện cho những sức mua nhất định ở các chủ thể kinh tế - xã hội. Tài chính phản
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 6
ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế trong phân phối các nguồn lực tài chính thông
qua tạo lập hay sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng yêu cầu tích luỹ hay tiêu
dùng của các chủ thể (pháp nhân hay thể nhân) trong xã hội.[1] Giáo trình Tài chính
học, NXB Tài chính 1997, tr 12.
2.1.1.3 Khái niệm về quản lý tài chính
Quản lý là yêu cầu tất yếu để đảm bảo sự hoạt động bình thường của mọi quá
trình và hệ thống kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị có sự tham gia tự giác của nhiều
người. Thực chất của quản lý là thiết lập và thực hiện hệ thống các phương pháp và
biện pháp khác nhau của chủ thể quản lý để tác động một cách có ý thức tới đối
tượng quản lý nhằm đạt tới kết quả nhất định. Quản lý bao gồm nhiều phương diện
như quản lý công nghệ, quản lý thương mại, quản lý nhân sự, quản lý tài chính.
- Quản lý tài chính là hoạt động của chủ thể quản lý trong lĩnh vực tài chính
nhằm sử dụng nguồn tài sản dưới hình thái tiền, giấy tờ có giá của một đơn vị, tổ
chức vừa đảm bảo cho đơn vị, tổ chức hoạt động bình thường, vừa đảm bảo cho
nguồn tài chính sử dụng tiết kiệm và sinh lợi nhiều nhất.
- Quản lý tài chính là một bộ phận, một khâu của quản lý kinh tế xã hội và là
khâu quản lý mang tính tổng hợp. Quản lý tài chính được coi là hợp lý, có hiệu quả
động sự nghiệp. Hoạt động sự nghiệp là những hoạt động cung cấp dịch vụ công
cho xã hội nhằm duy trì và đảm bảo sự hoạt động bình thường của xã hội. Hoạt
động sự nghiệp không trực tiếp tạo ra của cải vật chất nhưng nó tác động trực tiếp
tới lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, có tính quyết định năng suất lao động xã
hội. Những hoạt động sự nghiệp mang tính chất phục vụ là chủ yếu và không nhằm
mục tiêu lợi nhuận. Trong quá trình hoạt động được ngân sách nhà nước cấp hoặc
hỗ trợ kinh phí để thực hiện chức năng nhiệm vụ được giao, nhưng vẫn có chức
năng sản xuất kinh doanh, dịch vụ nhằm tận dụng cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện
có để tạo thêm thu nhập, nhằm hỗ trợ nâng cao đời sống cán bộ công chức, viên
chức và bổ sung kinh phí hoạt động thường xuyên.
Có nhiều cách phân loại đơn vị sự nghiệp, tuỳ theo mục đích nghiên cứu, quản lý.
- Căn cứ vào hình thức sở hữu, đơn vị sự nghiệp được chia thành đơn vị sự
nghiệp công lập, đơn vị sự nghiệp bán công, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập (dân
lập, tư thục).
- Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động, các đơn vị sự nghiệp được chia thành đơn
vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực giáo dục & đào tạo, đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực y
tế, đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực văn hóa, xã hội, ;
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 8
- Căn cứ vào phân cấp quản lý, các đơn vị sự nghiệp được chia thành đơn vị
sự nghiệp thuộc Nhà nước quản lý, đơn vị sự nghiệp thuộc địa phương quản lý, đơn
vị sự nghiệp thuộc các công ty, tổng công ty, tập đoàn quản lý;
Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà
nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp
luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước. Căn
cứ vào mức độ tự chủ, Luật Viên chức năm 2011 phân đơn vị sự nghiệp công lập
thành đơn vị sự nghiệp được giao quyền tự chủ hoàn toàn và đơn vị sự nghiệp chưa
được giao quyền tự chủ hoàn toàn. Căn cứ vào nguồn thu sự nghiệp, Nghị định số
43/2006/NĐ-CP của Chính Phủ phân chia đơn vị sự nghiệp công lập thành 3 loại:
của các ĐVSN được quản lý, giám sát, kiểm tra tốt, sẽ góp phần hạn chế, ngăn ngừa
các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng trong khai thác và sử dụng nguồn lực tài chính
công, đồng thời nâng cao hiệu quả việc sử dụng các nguồn tài chính của đất nước.
Ngoài ra, quản lý tài chính các ĐVSN còn cung cấp thông tin để tái cơ cấu
hoạt động cung cấp dịch vụ văn hóa, giáo dục, y tế, thể dục thể thao, trong tương
quan với sự cạnh tranh của khu vực tư nhân.
Từ những vai trò cơ bản trên ta có thể thấy công tác quản lý tài chính thực sự
có ý nghĩa to lớn trong đời sống kinh tế xã hội. Để các khoản chi cho đơn vị sự
nghiệp có thu thực sự mang lại hiệu quả và phát huy được những vai trò to lớn của
mình thì đòi hỏi công tác quản lý tài chính phải được tăng cường và hoàn thiện.
Do đó công tác quản lý tài chính có vai trò rất quan trọng trong đơn vị sự
nghiệp, đảm bảo tăng cường nguồn thu hoạt động dịch vụ, sử dụng kinh phí tiết kiệm,
tăng thu cho đơn vị giảm kinh phí từ ngân sách cấp góp phần xây dựng và phát triển
đất nước.
2.1.2.2 Nhiệm vụ quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp có thu
+ Lập dự toán thu, chi ngân sách trong phạm vi được cấp có thẩm quyền giao
hàng năm;
+ Tổ chức chấp hành dự toán thu, chi tài chính hàng năm theo chế độ chính
sách của Nhà nước; chủ trì hoặc phối hợp với các ngành hữu quan xây dựng các chế
độ chi tiêu đặc thù của ngành, lĩnh vực, địa phương theo sự ủy quyền của cơ quan
có thẩm quyền;
+ Thực hiện quản lý sử dụng tài sản Nhà nước giao cho cơ quan, đơn vị;
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 10
+ Chấp hành chế độ kế toán thống kê theo pháp luật;
+ Lập báo cáo quyết toán thu, chi tài chính quý và năm về tình hình sử dụng
các nguồn tài chính của cơ quan, đơn vị theo luật ngân sách Nhà nước;
2.1.3 Nội dung quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp có thu
Công tác quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp có thu được quy định
nước có thẩm quyền ban hành khung mức thu đối với một số hoạt động, thì đơn vị
căn cứ vào mức chi tối thiểu có thể đảm bảo hoạt động thường xuyên diễn ra bình
thường và khả năng đóng góp của xã hội để quyết định mức thu cụ thể cho từng loại
hoạt động; cho từng đối tượng thu miễn sao mức thu không vượt mức trần khung
thu do cơ quan có thẩm quyền quy định. Những hoạt động nào không có quy định
khung mức thu thì đơn vị tự quyết định mức thu theo nguyên tắt bảo đảm bù đắp chi
phí và có tích lũy.
Đối với các khoản thu phí, lệ phí: Căn cứ vào đối tượng thu, mức thu và tỷ lệ
được để lại chi theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Đối với các khoản thu sự nghiệp: Căn cứ vào kế hoạch hoạt động dịch vụ và
mức thu do đơn vị quyết định hoặc hợp đồng kinh tế đơn vị đã ký kết.
- Quản lý toàn diện từ hình thức, quy mô đến các yếu tố quyết định số thu.
Bởi vì tất cả các hình thức, quy mô và các yếu tố ảnh hưởng đến số thu đều quyết
định số thu tài chính làm cơ sở cho mọi hoạt động của ĐVSN. Nếu không quản lý
toàn diện sẽ dẫn đến thất thoát khoản thu, làm ảnh hưởng không chỉ đến hiệu quả
quản lý tài chính, mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động của ĐVSN.
- Thực hiện nghiêm túc, đúng đắn các chính sách, chế độ thu do cơ quan có
thẩm quyền ban hành. ĐVSN không được tự ý đặt ra các khoản thu cũng như mức thu.
- Quản lý các nguồn thu theo kế hoạch, đảm bảo thu sát, thu đủ, tổ chức tốt
quá trình quản lý thu, đồng thời đề ra các biện pháp tổ chức thu thích hợp.
- Đối với các đơn vị được sử dụng nhiều nguồn thu phải có biện pháp quản
lý thu thống nhất nhằm thực hiện thu đúng mục đích, thu đủ và thu đúng kỳ hạn.
2.1.3.2 Quản lý các khoản chi
Các khoản chi trong các đơn vị sự nghiệp có các nhóm chi lớn, bao gồm: chi
cho con người (nhóm I), chi quản lý hành chính (nhóm II), chi nghiệp vụ chuyên
môn (nhóm III) và chi mua sắm, sửa chữa tài sản cố định (nhóm IV).
- Chi cho con người (nhóm I)
Bao gồm các khoản về lương và phụ cấp lương (được tính theo chế độ hiện
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 12
thức, kỹ năng của cán bộ công nhân viên.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 13
Khi thực hiện các khoản chi nêu trên phải đảm bảo quy trình chi chấp hành
đúng quy chế tài chính của Chính phủ và quy chế chi tiêu nội bộ. Phải đảm bảo
chứng từ chi hợp lệ, hợp pháp theo luật định.
Trong thực tiễn, các ĐVSN có nhiều biện pháp quản lý các khoản chi tài
chính khác nhau, nhưng các biện pháp quản lý chung nhất là:
- Thiết lập các định mức chi. Định mức chi vừa là cơ sở để xây dựng kế
hoạch chi, vừa là căn cứ để thực hiện kiểm soát chi của các ĐVSN. Các định
mức chi phải được xây dựng một cách khoa học. Từ việc phân loại đối tượng đến
trình tự, cách thức xây dựng định mức phải được tiến hành một cách chặt chẽ và
có cơ sở khoa học. Các định mức chi phải bảo đảm phù hợp với loại hình hoạt
động của từng đơn vị.
Các định mức chi phải có tính thực tiễn tức là phải phản ánh mức độ phù hợp
của các định mức với nhu cầu kinh phí cho các hoạt động. Chỉ có như vậy, định
mức chi mới trở thành chuẩn mực cho quản lý kinh phí.
- Lựa chọn thứ tự ưu tiên cho các loại hoạt động hoặc theo nhóm mục chi sao
cho với tổng số chi có hạn nhưng khối lượng công việc vẫn hoàn thành và đạt chất
lượng cao. Để đạt được điều này phải có phương án phân phối và sử dụng kinh phí
khác nhau. Trên cơ sở đó lựa chọn phương án tối ưu cho cả quá trình lập dự toán,
phân bổ và sử dụng kinh phí.
- Xây dựng quy trình cấp phát các khoản chi chặt chẽ, hợp lý nhằm hạn chế
tối đa những tiêu cực nảy sinh trong quá trình cấp phát, tạo điều kiện thuận lợi cho
việc kiểm soát chi của các cơ quan có thẩm quyền.
- Thực hiện công tác kiểm tra và kiểm soát nhằm ngăn chặn những biểu
hiện tiêu cực trong việc sử dụng nguồn kinh phí của Nhà nước, đồng thời qua
công tác này phát hiện những bất hợp lý trong chế độ, chính sách nhằm bổ sung
hoàn thiện chúng.
kết với tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo kế hoạch, dự toán, dự án liên
doanh, liên kết đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và phải phù hợp với chức
năng, nhiệm vụ, khả năng của đơn vị và hỗ trợ cho hoạt động sự nghiệp, không làm
ảnh hưởng đến chức năng, nhiệm vụ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao cho
đơn vị phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
Đơn vị sự nghiệp được dùng tài sản mua sắm từ nguồn quỹ phát triển hoạt
động sự nghiệp và từ nguồn vốn huy động, để thế chấp vay vốn phục vụ cho hoạt
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 15
động sự nghiệp hoặc hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị.
Tài sản cố định sử dụng cho sản xuất kinh doanh, dịch vụ và tài sản cố định
được dùng để góp vốn liên doanh, liên kết theo quy định của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền, được trích khấu hao tài sản cố định theo chế độ quản lý, sử dụng và trích
khấu hao tài sản cố định theo quy định áp dụng cho các doanh nghiệp nhà nước.
Toàn bộ tiền trích khấu hao tài sản của nhà nước được dùng vào hoạt động
sản xuất kinh doanh, dịch vụ, liên kết, đơn vị được giữ lại để bổ sung vào quỹ phát
triển hoạt động sự nghiệp để sử dụng tái tạo lại tài sản, đầu tư xây dựng cơ sở vật
chất, đổi mới trang thiết bị. Số tiền trích khấu hao từ tài sản đầu tư, mua sắm từ
nguồn vốn huy động được dùng để trả nợ vay, trường hợp đã trả đủ nợ vay được bổ
sung vào quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp của đơn vị.
Tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp phải được quản lý, sử dụng đúng mục
đích, tiêu chuẩn, chế độ, đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả để phục vụ công tác và các
hoạt động của đơn vị. [Trang 5 - điều 10 - Quyết định số 202/2006/QĐ-TTg ngày
31/12/2006 của Chính phủ về việc ban hành quy chế quản lý tài sản nhà nước tại
các đơn vị sự nghiệp công lập]
Để thực hiện được các hoạt động sự nghiệp, các đơn vị sự nghiệp có thu phải có
tài sản đưa vào sử dụng trong quá trình hoạt động. Trong quá trình sử dụng phải bảo
toàn tài sản và khai thác tối đa hiệu năng công suất thiết kế của máy móc, thiết bị,
nghĩa là phải có chế độ quản lý tài sản thích hợp với từng loại tài sản. Thông thường,