Phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ ở tỉnh Hưng Yên hiện nay - Pdf 28


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LƯU THỊ HÀ
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC -
CÔNG NGHỆ Ở TỈNH HƯNG YÊN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học

HÀ NỘI - 2014

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Lưu Thị Hà

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, em xin chân thành cảm ơn quá trình dạy
dỗ tận tình, thấu đáo của các thầy, cô giáo khoa Triết học, trƣờng Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn.
Đặc biệt, em gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS,TS. Nguyễn Anh
Tuấn, ngƣời đã trực tiếp hƣớng dẫn em trong suốt thời gian thực hiện luận
văn thạc sĩ. Sự chỉ bảo tận tình của thầy đã tạo động lực và giúp đỡ em hoàn
thành luận văn này.
Mặc dù đã cố gắng hết sức, nhƣng do thời gian có hạn nên luận văn
không tránh khỏi còn nhiều thiếu sót, em rất mong nhận đƣợc sự góp ý của
các thầy, cô giáo để em có thể tiếp tục phát triển hƣớng nghiên cứu này.

Hà Nội, ngày 05 tháng 09 năm 2014
DANH LỤC BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Công nhân : CN
Công nhân kỹ thuật : CNKT
Công nghệ thông tin : CNTT
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa : CNH, HĐH
Khoa học – công nghệ : KH-CN
Khoa học xã hội nhân văn : KHXHNV
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1

2.3.3. Tăng cường đầu tư về cơ sở vật chất - kỹ thuật 68
2.3.4. Tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách phát triển nhân lực khoa học – công
nghệ 69
2.3.5. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước trong phát
triển khoa học - công nghệ 76
Kết luận chương 2 80
KẾT LUẬN 81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đã và đang tác động
mạnh mẽ, sâu sắc đến quá trình phát triển của xã hội loài ngƣời. Không có
một quốc gia nào trên thế giới ngày nay lại không nhận thấy sự cần thiết và
cấp bách phải nắm lấy khoa học và công nghệ để phát triển kinh tế - xã hội,
làm cho dân giàu, nƣớc mạnh và nâng cao vị thế quốc tế của mình.

phát triển và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Phát triển khoa học và công
nghệ nhằm mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc, phát
triển kinh tế tri thức, vƣơn lên trình độ tiên tiến của thế giới. Phát triển đồng
bộ các lĩnh vực khoa học và công nghệ gắn với phát triển văn hóa và nâng
cao dân trí” [24, 78].
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thức XI của Đảng ta đồng thời
với việc tiếp tục khẳng định quan điểm xuyên suốt, coi “Phát triển khoa học và
công nghệ cùng với phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là
nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc”, đã
nhấn mạnh sự cần thiết phải “Phát triển mạnh mẽ khoa học và công nghệ làm
động lực nâng cao năng suất, chất lƣợng, hiệu quả, phát triển nhanh, bền vững
nền kinh tế. Đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ tổ chức, cơ chế quản lý, chính sách
phát triển khoa học và công nghệ; gắn các mục tiêu, nhiệm vụ khoa học, công
nghệ với mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội” [24, 42].
Cũng nhƣ các địa phƣơng trong cả nƣớc, tỉnh Hƣng Yên chỉ có thể thực
hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 và
đi đến thành công trong sự nghiệp CNH, HĐH ở tỉnh khi thực hiện tốt chiến
lƣợc con ngƣời, phát triển nguồn nhân lực nhất là nguồn nhân lực KH-CN.
3

Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, mật độ dân số đông,
nguồn lao động dồi dào trong quá trình phát triển tỉnh Hƣng Yên luôn luôn
quan tâm tới công tác phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực
KH-CN. Nguồn nhân lực của tỉnh Hƣng Yên đã có những chuyển biến tích
cực về số lƣợng, chất lƣợng và cơ cấu. Tuy nhiên, nguồn nhân lực KH-CN
của tỉnh vẫn còn nhiều yếu kém: số lƣợng chƣa nhiều, chất lƣợng còn thấp,
cán bộ KH-CN đầu ngành còn rất ít và đang có nguy cơ hụt hẫng, cơ cấu
phân bố nhân lực chƣa hợp lý…
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hƣng Yên lần thứ XVII (năm 2010)
đã đề ra nhiệm vụ: “Phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ gắn

Vũ Hy Chƣơng (2002) trong Vấn đề tạo nguồn lực tiến hành công
nghiệp hóa, hiện đại hóa [8] đã phân tích, đánh giá rõ hiện trạng của các
nguồn lực bao gồm nhân lực, tài lực, khoa học công nghệ, tài nguyên và nêu
các giải pháp cơ bản để tạo lập và phát huy mạnh các nguồn lực đó; trong đó
nhân lực chỉ là một bộ phận nguồn lực đƣợc phân tích, và không đi sâu về
nguồn nhân lực KH-CN. Đề tài Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tầng lớp trí
thức - Những định hướng chính sách [10] do Phạm Tất Dong (1999) chủ trì
đã phân tích những yêu cầu cơ bản của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đối với
sự phát triển đội ngũ trí thức nƣớc ta hiện nay, nêu các định hƣớng chính sách
lớn trong đào tạo, bồi dƣỡng, sử dụng, đãi ngộ đối với trí thức nhằm phát huy
cao độ sự đóng góp to lớn của tầng lớp trí thức Việt Nam trong công cuộc
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc; có thể hiểu đó là những chính sách
chủ yếu để phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ nƣớc ta. Phạm
Minh Hạc (2001) trong Nghiên cứu con người và nguồn lực con người đi vào
công nghiệp hóa, hiện đại hóa [32] đề cập đến nguồn lực con ngƣời nói
5

chung, trong đó có nguồn nhân lực KH-CN, nhƣng không phân tích sâu vào
việc phát triển nguồn nhân lực KH-CN.
Ngoài ra, còn rất nhiều bài viết công bố trên báo, tạp chí nhƣ: tạp chí
Triết học, tạp chí Cộng sản, tạp chí Giáo dục… bàn về nguồn nhân lực dƣới
nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau. Điển hình là các bài Phát triển con người
tạo nguồn lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [58] của GS.VS.
Nguyễn Duy Quý (1998); Thực trạng phát triển nguồn nhân lực trong quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Tây Nguyên [59] của tác giả Lê Văn
Thanh (2005); Vấn đề xây dựng con người và phát triển nhân lực trong sự
phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam [2] của Hà Văn Ánh (2007) và nhiều
công trình nghiên cứu khác có liên quan.
Nhìn chung, bàn về vấn đề nguồn nhân lực có rất nhiều công trình, bài
viết đề cập dƣới nhiều khía cạnh khác nhau từ triết học, xã hội học, tâm lý học,

sản Việt Nam về phát triển con ngƣời, nguồn nhân lực.
* Cơ sở thực tiễn: Từ thực tiễn phát triển nguồn nhân lực KH-CN ở tỉnh
Hƣng Yên và cả nƣớc ta, các số liệu, các công trình đã đƣợc công bố trong và
ngoài nƣớc, các kết quả nghiên cứu ở tỉnh Hƣng Yên. Bên cạnh đó, luận văn kế
thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các công trình có liên quan đến đề tài.
* Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng phƣơng pháp luận biện chứng duy vật, các phƣơng pháp
chủ yếu: phân tích và tổng hợp, so sánh, thống nhất lịch sử - logic.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Phát triển nguồn nhân lực KH-CN ở tỉnh Hƣng Yên.
- Phạm vi nghiên cứu: tỉnh Hƣng Yên trong những năm đầu thế kỷ XXI.

7

6. Đóng góp của luận văn
- Đánh giá thực trạng đào tạo, bồi dƣỡng, sử dụng và quản lý nguồn nhân
lực KH-CN ở tỉnh Hƣng Yên trong giai đoạn hiện nay.
- Đề xuất các phƣơng hƣớng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn
nhân lực KH-CN ở tỉnh Hƣng Yên trong giai đoạn từ nay đến năm 2020.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Ý nghĩa lý luận: Luận văn góp phần tìm hiểu thêm và làm rõ về phát triển
nguồn nhân lực KH-CN ở tỉnh Hƣng Yên hiện nay.
- Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho
nghiên cứu, giảng dạy một số môn học về chủ nghĩa xã hội khoa học, làm
luận cứ đề ra chính sách phát triển nguồn nhân lực KH-CN ở tỉnh Hƣng Yên.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo luận
văn gồm hai chƣơng và 6 tiết.
mũi chủ công của nó. Do đó phải chú trọng phát triển đội ngũ cán bộ khoa
học và công nghệ, phát triển tài năng, phát huy tri thức của nguồn nhân lực
khoa học và công nghệ, kể cả tri thức tiềm ẩn của họ vì tri thức tiềm ẩn lại
chính là nền tảng của năng lƣc sáng tạo và kỹ năng của con ngƣời.
Sự nghiệp đổi mới phát triển kinh tế - xã hội không chỉ thể hiện qua
việc đổi mới tƣ duy kinh tế, thừa nhận nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần,
phát triển kinh tế thị trƣờng, mà còn ở quan điểm khẳng định khoa học và
công nghệ là động lực để phát triển kinh tế - xã hội, là phƣơng tiện để thực
hiện thành công sự nghiệp đổi mới đất nƣớc, là mục tiêu của sự phát triển.

9

1.1.1. Khái niệm nguồn nhân lực
Trong thời đại ngày nay, có thể nói rằng đối với bất cứ quốc gia nào
việc xác định một cách đúng đắn và huy động có hiệu quả những nguồn lực
tiềm năng đi vào hoạt động, đều đƣợc coi là điều có ý nghĩa to lớn đối với
việc thực hiện chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội.
Đối với Việt Nam muốn phát triển trong điều kiện trình độ phát triển
kinh tế còn thấp kém, đi lên từ một nƣớc nông nghiệp lạc hậu lại bị tàn phá
bởi các cuộc chiến tranh liên miên trong suốt nửa sau thế kỷ XX, thì việc xác
định và phát huy tất cả các nguồn lực có tầm quan trọng đặc biệt trong chiến
lƣợc phát triển đất nƣớc. Trong đó xác định đúng đắn tầm quan trọng và phát
huy tốt nguồn lực con ngƣời trong chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội sẽ là
một động lực to lớn thúc đẩy sự tiến bộ nhanh chóng của đất nƣớc. Vậy
nguồn lực con ngƣời là gì? Vai trò của nguồn nhân lực trong sự phát triển là
nhƣ thế nào? Trƣớc tiên, ta cần hiểu khái niệm “nguồn lực”. Qua tìm hiểu có
thể thấy rằng dƣới dạng tổng quát “nguồn lực” đƣợc hiểu là toàn bộ các yếu
tố cả về vật chất lẫn tinh thần, đang và sẽ tạo ra sức mạnh cho sự phát triển,
và trong những điều kiện thích hợp sẽ thúc đẩy quá trình cải biến xã hội của
một quốc gia dân tộc.

dung của khái niệm này không chỉ nói đến số lƣợng và khả năng chuyên môn
mà còn nói đến trình độ văn hóa, thái độ đối với công việc và mong muốn
hoàn thiện của lực lƣợng lao động.
Theo nghĩa hẹp, “nguồn nhân lực” là một bộ phận dân số bao gồm
những ngƣời trong độ tuổi quy định có khả năng lao động. Nguồn nhân lực
nói chung không phải sản sinh ra để đáp ứng yêu cầu kinh tế mà sự sản sinh
đó chủ yếu do các nhân tố xã hội và sinh học quy định. Tuy nhiên, sự phát
11

triển của nguồn nhân lực có tác động mạnh mẽ đến phát triển kinh tế - xã hội
và ngƣợc lại.
GS. Hoàng Chí Bảo (1993) trong bài báo Ảnh hưởng của văn hóa đối
với việc phát huy nguồn lực con người cho rằng, “nguồn lực con ngƣời là sự
kết hợp thể lực và trí lực, cho thấy khả năng sáng tạo, chất lƣợng - hiệu quả
hoạt động và triển vọng mới phát triển của con ngƣời” [3, 14]. Theo Lê Văn
Thanh (2005) trong bài báo Thực trạng phát triển nguồn nhân lực trong quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Tây Nguyên thì: Nguồn nhân lực đó là
tổng thể sức dự trữ, những tiềm năng, những lực lƣợng thể hiện sức mạnh và
sự tác động của con ngƣời trong việc cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội [xem:
59]. Còn tác giả Đoàn Văn Khái (1995) trong bài báo Nguồn lực con người -
yếu tố quyết định sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã cho
rằng, nguồn nhân lực là khái niệm chỉ số dân, cơ cấu dân số và nhất là chất
lƣợng con ngƣời với tất cả đặc điểm và sức mạnh của nó trong sự phát triển
xã hội [xem: 39].
Từ những quan niệm của các nhà nghiên cứu nêu trên cho thấy, khi đề
cập tới khái niệm nguồn nhân lực hay nguồn lực con ngƣời cần xác định rõ,
đó là toàn bộ lực lƣợng lao động đang trực tiếp tham gia vào mọi khâu của
quá trình sản xuất nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội và cả những
lực lƣợng đang đƣợc chuẩn bị để sẵn sàng tham gia vào quá trình này. Do đó,
nguồn nhân lực bao gồm tổng thể các tham số phát triển thể xác và tinh thần

Nguồn nhân lực là dân số và chất lƣợng con ngƣời, bao gồm cả thể chất
và tinh thần, sức khỏe, trí tuệ, năng lực và phẩm chất. Với quan niệm trên về
khái niệm “nguồn nhân lực” ta có thể thấy rằng khái niệm “nguồn nhân lực”
có nội dung phong phú và khá rộng. Nó bao gồm rất nhiều phƣơng diện khác
13

nhau nhƣ số lƣợng dân cƣ và lao động, cơ cấu dân cƣ và cơ cấu lao động,
tổng thể các yếu tố quy định chất lƣợng dân cƣ, đặc biệt là chất lƣợng lao
động bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe, trí tuệ, năng lực, phẩm chất,
thái độ, phong cách làm việc… trong đó trí lực, thể lực, tâm lực là những yếu
tố quan trọng nhất quyết định sức mạnh của nguồn lực con ngƣời, góp phần to
lớn tạo nên những giá trị của nó. Khái niệm “nguồn nhân lực” còn chỉ ra rằng
con ngƣời đƣợc xem xét với tƣ cách là một nguồn lực, nguồn lực nội tại, cơ
bản trong hệ thống các nguồn lực của sự phát triển xã hội. Nguồn nhân lực
cũng giống nhƣ các nguồn lực khác nhƣ vốn, công nghệ, tài nguyên thiên
nhiên… nhƣng nó là một nguồn lực cơ bản quyết định đến sự thịnh suy của
các nguồn lực khác, nhờ nó các nguồn lực khác mới có thể phát huy đƣợc tác
dụng và có ý nghĩa tích cực với sự phát triển xã hội. Vì thế nó là nguồn lực
của mọi nguồn lực. Nó khác tất cả các nguồn lực khác ở chỗ nó vừa là mục
tiêu vừa là phƣơng tiện của chính sự phát triển xã hội. Con ngƣời với sức
mạnh thể lực và trí lực của mình quyết định mục tiêu, cách thức, nội dung và
hiệu quả khai thác các nguồn lực khác. Ngƣợc lại, quá trình khai thác trí lực
và thể lực ở con ngƣời luôn diễn ra trong quan hệ với các nguồn lực khác ở
các mức độ khác nhau. Và nhƣ vậy con ngƣời vừa là chủ thể vừa là khách thể,
vừa là động lực, vừa là mục tiêu của quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Và
do vậy, nguồn nhân lực giữ vị trí trung tâm không chỉ trong hệ thống các
nguồn lực của sự phát triển xã hội mà còn của chính sự phát triển xã hội.
Ở nƣớc ta, nguồn nhân lực bao gồm những ngƣời đang làm việc và dự
trữ (tạm thời chƣa làm việc). Nguồn nhân lực bằng lực lƣợng lao động (lao
động đang làm việc và ngƣời trong độ tuổi lao động có nhu cầu nhƣng chƣa

lượng con người biểu hiện chủ yếu trên các mặt: tư tưởng, đạo đức, lối sống,
trình độ chuyên môn nghiệp vụ, sức khỏe… tạo nên năng lực sáng tạo của con
15

người, của cộng đồng người có thể huy động, phát huy trong quá trình phát
triển xã hội theo hướng văn minh, tiến bộ.
Trƣớc hết, số lƣợng nguồn nhân lực là tổng số lực lƣợng lao động đang
và sẵn sàng tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Nó đƣợc quy
định bởi quy mô dân số (số lƣợng dân, mật độ dân số, tốc độ tăng dân số) và
lực lƣợng lao động (cơ cấu độ tuổi, giới tính, phân bố lao động theo lãnh thổ và
theo lĩnh vực ngành nghề). Trên thực tế, có hai nhóm yếu tố tác động ảnh
hƣởng đến số lƣợng nhân lực: nhóm yếu tố tự nhiên (tác động của nhu cầu và
quy luật sinh học đến tỷ lệ sinh đẻ và tử vong của con ngƣời, làm tăng hay
giảm dân số và lao động một cách tự nhiên) và nhóm yếu tố xã hội (di dân làm
tăng hay giảm dân số và lao động trong một không gian và thời gian nhất định).
Số lƣợng nguồn nhân lực quá lớn sẽ gây khó khăn trong giáo dục, đào
tạo để từng ngƣời lao động có chất lƣợng tốt; khó khăn trong việc tổ chức
quản lý và sử dụng lao động. Số lƣợng nguồn nhân lực quá ít sẽ không đủ
lao động để phân bố, sử dụng vào các lĩnh vực sản xuất đạt hiệu quả. Hơn
nữa, chất lƣợng tổng thể của nguồn nhân lực quan hệ mật thiết với số lƣợng
nguồn nhân lực. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, phải có một số
lƣợng nhất định mới có thể tạo nên chất lƣợng mới của sự vật. Bởi vậy, phải
có số lƣợng nguồn nhân lực thích hợp thì nguồn nhân lực mới có đƣợc chất
lƣợng tổng thể cao.
Chất lƣợng nguồn nhân lực là tổng hợp những phẩm chất, năng lực, sức
mạnh của ngƣời lao động tham gia vào quá trình lao động phát triển kinh tế -
xã hội. Nó đƣợc tạo nên bởi những yếu tố cơ bản nhƣ thể lực, trí tuệ, đạo đức,
năng lực văn hóa và khiếu thẩm mỹ của ngƣời lao động, trong đó, trí tuệ, đạo
đức, năng lực là những yếu tố quan trọng nhất.
Trí tuệ là biểu hiện và kết quả năng lực của nhận thức, năng lực tƣ duy

17

hợp lý trên tất cả các khu vực của nền kinh tế quốc dân, trong đó, tập trung
vào các ngành kinh tế trọng yếu, mũi nhọn, đảm bảo cho nền kinh tế phát
triển cân đối, đồng đều, tăng trƣởng nhanh, bền vững.
Cơ cấu chất lƣợng nguồn nhân lực, đó là tỷ lệ hợp lý của nguồn nhân
lực chất lƣợng cao, nguồn nhân lực có chất lƣợng trung bình giữa các ngành
kinh tế và trong nội bộ một ngành kinh tế. Cơ cấu này đảm bảo cho từng
ngành kinh tế phát triển ổn định, đủ sức giải quyết những vấn đề phức tạp đặt
ra trong quá trình phát triển; đảm bảo cho các ngành kinh tế phát triển đồng
đều, tạo nên sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế quốc dân. Đồng thời đảm
bảo sự kế thừa phát triển liên tục của nguồn nhân lực trong từng ngành kinh tế
và trong toàn bộ nền kinh tế.
Cơ cấu giới tính của nguồn nhân lực, tức là tỷ lệ lao động nam và lao
động nữ của nguồn nhân lực, đảm bảo hoạt động của các ngành, lĩnh vực kinh
tế phù hợp với lao động nữ và lao động nam làm việc ở những ngành, lĩnh
vực đó đạt kết quả cao. Đồng thời góp phần quan trọng trong thực hiện chính
sách của Đảng về bình đẳng giới.
Cơ cấu độ tuổi của nguồn nhân lực là tỷ lệ hợp lý giữa các nhóm lao
động tuổi cao, tuổi trung bình và tuổi trẻ, đảm bảo cho nhân lực phát triển
đồng đều, liên tục. Đó là nhân tố chủ yếu có tính quyết định để lực lƣợng lao
động trong từng ngành, từng lĩnh vực và trong toàn bộ nền kinh tế phát triển
liên tục, vững chắc, có sự kế thừa, không xảy ra hụt hẫng, đảm bảo giải quyết
tốt những nhiệm vụ kinh tế - xã hội hiện tại và trong tƣơng lai.
Trong cơ cấu nguồn nhân lực trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ nền
kinh tế tri thức trên thế giới và đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại ở nƣớc ta,
có một loại đặc biệt rất cần đƣợc quan tâm phát triển, là nguồn nhân lực khoa
học - công nghệ.

18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status