Liên ngành trong nghiên cứu khảo cổ học
Từ lý thuyết đến ứng dụng
"All Roads Lead to Archaeology | Interdisciplinary Crossroads"
1
(Mọi Ngả Đường Đều Dẫn đến Khảo Cổ Học / Giao lộ Liên ngành)
Lâm Thị Mỹ Dung
1. Đa dạng văn hóa với đa dạng của lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
khảo cổ học
Bắt đầu với tư cách là môn khoa học phụ trợ (thậm chí là kỹ thuật phụ trợ)
2
của sử
học, khảo cổ học đã phát triển không ngừng cả trên lĩnh vực thực tế và về lý
thuyết, trong khi các phương pháp đang ngày càng hoàn thiện mở ra những triển
vọng và chân trời mới cho các nhà nghiên cứu thì về phương diện lý thuyết cũng
không kém phần phức tạp. Cùng với xu thế hạ bệ hay phê phán không tiếc lời một
số trường phái và lý thuyết cũ là khuynh hướng hình thành vô vàn những những lý
thuyết, trường phái mới (mà đôi khi chỉ là những lý thuyết cũ được cải biên, hay
thay tên gọi ‘bình mới, rượu cũ”). Có thể nói chưa bao giờ nhà khảo cổ phải loay
hoay chọn lựa giữa một mê hồn trận lý thuyết và phương pháp nghiên cứu như
hiện nay và ít nhiều phải tham gia vào “những màn biểu diễn nhào lộn trí não điêu
luyện của các nhà lý thuyết”
3
Kiểu mẫu của một nhà khảo cổ học hiện đại được Derek Roe (1984)
diễn tả một cách di dỏm:
Tôi chính là một kiểu mẫu (của một nhà khảo cổ học) hiện đại:
Một nhà địa lý, dân tộc, khảo cổ, kinh tế, sinh vật học
Tôi có 17 bằng nghiên cứu của 15 trường đại học khác nhau, hầu hết ở Mĩ,
nơi tập trung tất cả những kiến thức cập nhật nhất
Tôi có thể chuẩn hoá các niên đại với tất cả biệt ngữ mới nhất.
Sử dụng các đồng vị của oxy,uranium hoặc argon
Tôi có thể lượng hoá những xu hướng đi xuống theo đường xiên.
(giải thích văn hóa vật thể và phi vật thể bằng những thuật ngữ nhân học), với tư
cách là khoa học nghiên cứu quá khứ, khảo cổ học là phần đáng kể của nghiên cứu
lịch sử.
5
Một số nhà khảo cổ luôn kiên trì khảo cổ học là khảo cổ học (Hà Văn
Tấn) hay khảo cổ học là khảo cổ học là khảo cổ học là khảo cổ học (David Clarke,
nhà khảo cổ học người Anh thuộc trường phái khảo cổ học quá trình).
6
Như vậy, bản chất của khảo cổ học là nghiên cứu quá khứ (văn hóa, lối sống…)
của con người bằng các tài liệu vật chất, tuy nhiên những nỗ lực và cố gắng của
khảo cổ học trong nghiên cứu văn hóa và những vấn đề liên quan đến văn hóa
nhân loại là phải đối mặt hay bị thách thức bởi tính chất lưỡng (hai mặt) của văn
hóa đó là phần vật chất và phi vật chất cũng như những thay đổi liên tục và mạnh
mẽ trong quan điểm của những người theo các trường phái khảo cổ học khác nhau.
Quá khứ nhân loại đa dạng bao nhiêu thì tính chất của các nghiên cứu khảo cổ học
cũng đa dạng bấy nhiêu. Tính chất này được thể hiện trong đối tượng, mục đích,
không gian và thời gian nghiên cứu. Ngày nay “Khảo cổ học được ví như một giáo
phái rộng lớn bao gồm nhiều “chi phái khảo cổ học” khác nhau, được liên kết với
nhau nhờ những phương pháp và hướng nghiên cứu”
7
. Khảo cổ học là một khoa
học liên ngành, phối hợp những lý thuyết, phương pháp vườn nhà (riêng của khảo
cổ học) cũng như những lý thuyết và phương pháp từ những khoa học xã hội và tự
nhiên, kỹ thuật, công nghệ khác.
Vào đầu thế kỷ 20 trong khảo cổ học diễn ra một xu hướng chuyên nghiệp hóa từ
trạng thái khoa học quy nạp [từ cơ sở dữ liệu để xác lập những mẫu hình (loại
hình hiện vật và chuỗi niên đại) hay tích lũy dữ liệu và để dữ liệu “tự nó nói” và
thiên về mô tả hiện vật quy hiện vật vào những đơn vị “văn hóa – lịch sử” của xã
hội loài người trong quá khứ] sang trạng thái khoa học suy luận, diễn giải [tái tạo
lối sống, lối ứng xử và văn hóa của con người trong quá khứ].
hội, mức độ thích nghi của các cộng đồng người với môi trường, giới,
tộc người, tư tưởng và cá nhân cùng các phương pháp luận liên quan
như Nghiên cứu Bối cảnh, Bản sắc và Tương đồng Mới)
9
.
iii. Những hậu duệ mới từ những tiếp cận của những giai đoạn trên như tiếp
cận dưới hình thức thuyết Chọn lọc, thuyết Trung gian, thuyết Phức hợp
(năm 80-90), một số trào lưu phương pháp luận đã mở ra những lĩnh
vực mới của nghiên cứu lý thuyết và đáp ứng thực tế. Đó là những phần
mềm máy tính giúp khám phá càng ngày càng nhiều hơn những mối
quan hệ phức tạp mà nếu chỉ sử dụng lời lẽ hay hình ảnh thì không thể
thực hiện được; chương trình GIS (hệ thống thông tin địa lý) cho phép
xử lý và phân tích số lượng lớn những dữ liệu và đo lường khoảng cách
di truyền đưa đến những đánh giá về giả thiết thế hệ về sự tiếp nối hay
đứt quãng về dân số, những yếu tố liên quan và ảnh hưởng đến sự thành
tạo và hủy hoại của di tích. Đó là những thành tựu trong áp dụng kết quả
8
Thuyết Tầm trung có nguồn gốc từ xã hội học, nơi mà Robert Merton cho rằng cần phải tạo ra những
nguyên tắc để nối kết những lý thuyết hợp nhất bậc cao với những mối quan hệ kinh nghiệm bậc thấp được
sản sinh từ nhiều nghiên cứu xã hội học. Những lý thuyết tầm trung sau đó một cách lô gic có thể được gộp
vào bởi các thuyết bậc cao và ngược lại, có thể gộp những quy tắc kinh nghiệm. Khái niệm lý thuyết tầm
trung được Raab và Goodyear đưa vào khảo cổ học. Còn theo Binford thuyết Tầm trung là một tập hợp
toàn thể của những nguyên tắc mà những nhà khảo cổ dùng để chuyển những sự kiện tính được từ tư liệu
khảo cổ vào những đánh giá về động cơ của những hệ thống văn hóa - xã hội cổ hỗ trợ một số công đoạn
cho phép các nhà khảo cổ chuyển chứng cứ thành suy luận (dẫn theo Michael B. Schiffer. The Structure of
Archaeological Theory, American Antiquity, Vol. 53, No. 3. (Jul., 1988), tr. 462-463.
9
Tương đồng mới (New Analogy) là một khuynh hướng mới trong so sánh tài liệu khảo cổ học với tài liệu
dân tộc học với mục đích đưa ra những mẫu so sánh chung dựa trên các mẫu đại diện và điển hình từ những
trường hợp dân tộc học và khảo cổ học từ những vùng khác nhau và giai đoạn khác nhau (xem thêm phần
of Archaeological Theory. American Antiquity, Vol.53, N.3 (Jul.1988), hình 1)
5
2. Mức độ liên ngành và sự hình thành của một số chuyên ngành liên khảo cổ
học với một hay vài ngành khoa học khác (trường hợp của dân tộc học khảo
cổ - ethnoarchaeology)
Như phần trên đã đề cập đối tượng nghiên cứu của khảo cổ học là văn hóa con
người (hiểu theo nghĩa rộng nhất của khái niệm này) trong quá khứ. Nếu nghiên
cứu văn hóa sử dụng quan điểm tổng thể (totalité) và toàn cục (global) với phương
pháp tiếp cận liên ngành, xuyên ngành theo khuynh hướng tư duy phức hợp và
kiến thức đồng bộ để xây dựng khung lý thuyết và khung phân tích để tiếp cận đối
tượng thì nghiên cứu khảo cổ cũng vậy.
Phương pháp nghiên cứu liên ngành có ba mức độ:
i. Dùng khái niệm và phương pháp của ngành này áp dụng cho ngành
khác;
ii. Vận dụng quy luật của ngành này vào các ngành khác để định hướng
và tìm các giải pháp mang tính phổ quát và
iii. Xác định điểm giao thoa giữa các ngành để phát hiện các quy luật
chung
11
.
Nghiên cứu liên ngành trong khảo cổ học cũng tuân theo những mức độ như vậy,
có thể lấy ví dụ về những mức độ áp dụng khác nhau của thuật toán học và các
phương pháp hình thức khác như biểu đồ, mô hình vào thu thập và xử lý hiện vật
hay vào quá trình thành tạo của di tích theo cả hai bối cảnh lịch đại và khu vực
12
.
Từ thế kỷ 19 đến nay, các nhà hoạch định chiến thuật và chiến lược nghiên cứu
khảo cổ mượn rất nhiều khái niệm, phương pháp nghiên cứu của các ngành khoa
học xã hội nhân văn, tự nhiên và kỹ thuật khác và thực sự họ đã “vượt gộp”nhuần
nhuyễn những vay mượn đó thành phương pháp và tiếp cận riêng của khảo cổ học.
Cổ nhân loại học
Khoa học lịch sử
Nhân loại thể chất học
Hiện tại Động vật học Dân tộc học
Thực vật học
Địa lý học
Hình 2. Mối quan hệ của khảo cổ học với các khoa học khác
Khảo cổ học có liên quan chặt chẽ với dân tộc học (xem hình 2), dân tộc học
nghiên cứu các xã hội hiện tại qua điều tra hoặc quan sát, còn khảo cổ học thì
nghiên cứu các xã hội quá khứ qua điều tra và khai quật các di tích vật chất. Hai
khoa học này - cùng nằm chung trong Khoa học Lịch sử - bổ sung lẫn cho nhau
như một bài mô tả và một biểu đồ
14
. Ví dụ, nhiều nghiên cứu khảo cổ học tiền sử
đã áp dụng biểu đồ tiến hóa của các xã hội loài người do Tylor và Morgan đưa ra,
đặc biệt là những so sánh dân tộc học mà Morgan trình bày trong tác phẩm Xã hội
cổ xưa của ông.
Với sự phát triển của khảo cổ học hiện đại và đặc biệt là sự hình thành của Khảo cổ
học Mới với mục tiêu nghiên cứu tập trung vào kết nối hiện vật và mẫu hình hiện
vật với ứng xử của con người đã làm nảy sinh một lĩnh vực nghiên cứu kết nối giữa
những dân tộc hiện đang sống với những cách thức diễn giải tài liệu khảo cổ. Cách
tiếp cận này, được gọi là “khảo cổ dân tộc học” (ethnoarchaeology) hay “khảo cổ
học sống”(living archaeology)
15
được coi là cách giải quyết vấn đề tồn lâu về
tương đồng dân tộc học (ethnographical analogy) và thực nghiệm dân tộc học khảo
cổ (experimental ethnoarchaeology) với diễn giải khảo cổ học.
Khảo cổ học kỹ thuật (Archaeology of Technology)
Khảo cổ học thương mại và trao đổi (Archaeology of Trade and Exchange)
Ở Mỹ, một số nhà nghiên cứu thuộc tổ chức khoa học quốc tế phi lợi nhuận
HRAF (viết tắt của Human Relations Area Files)
18
đã cố gắng đưa ra một
vài giải pháp khoa học nhằm loại trừ dần những bất cập này và để từng bước
hoàn thiện phương pháp cũng như lý thuyết của khảo cổ dân tộc học mà
trước hết là của cách tiếp cận so sánh văn hóa lịch đại
19
.
i. Đầu tiên HRAF đưa vào khởi động một mẫu phổ quát của các “ca” – trường hợp khảo
cổ với các “ca”-trường hợp so sánh. Một mẫu phổ quát như vậy cần đáp ứng một số tiêu
15
Peter N. Peregrine. Cross-Cultural Comparative Approaches in Archaeology, Annual Review of
Anthropology, Vol. 30. (2001), tr.2; R.A. Gould. New Studies in Archaeology – Living Archaeology. Press
Syndicate of the University of Cambridge 1980.
16
Có rất nhiều ví dụ về những nghiên cứu so sánh dân tộc học và khảo cổ học ở cấp độ cụ thể đến khái quát
trong văn liệu khảo cổ thế giới và Đông Nam Á. Xem thêm Pearson M.P., Archaeology of Death and
Burial. Texas A & M University Press, 2005; Earle TK. 1997. How Chiefs Come to Power. Sanford, CA:
Sanford University Press, năm 1997; Ember M, Ember CR. Cross – Cultural Research Methods. Walnut
Creek, CA: Alta Mira, năm 2001; Peregrine PN. Outline of Archaeological Traditions. New Haven, CT:
Hum. Rel.Area Files; Junker Laura Lee. Raiding, Trading and Feasting. The Political Economy of
Phillippine Chiefdoms. University of Hawai''i Press. Honolulu….
17
Xem Peter N. Peregrine. Cross-Cultural Comparative Approaches in Archaeology, Annual Review of
Anthropology, Vol. 30. (2001), tr. 1-18 để tìm hiểu thêm về khả năng ứng dụng và hạn chế của tiếp cận liên
văn hóa và so sánh tương đồng dân tộc học trong diễn giải khảo cổ học
18
HRAF. Thành lập năm 1949, trụ sở tại New Haven bao gồm trên 300 thành viên là các viện nghiên cứu ở
Mỹ và hơn 20 của các nước. Sứ mệnh của HRAF là khuyến khích và tạo điều kiện cho các nghiên cứu so
Khảo cổ
học sinh thái và khảo cổ học môi trường cũng đạt được nhiều thành tựu đáng kể
23
3. Liên ngành trong nghiên cứu khảo cổ học ở Việt Nam
Việt Nam là một đất nước phát triển muộn về khảo cổ học, khoa học khảo cổ ở
nước ta được hình thành từ thời Pháp thuộc với ảnh hưởng mạnh của trường phái
19
Peter N. Peregrine. Cross-Cultural Comparative Approaches in Archaeology, Annual Review of
Anthropology, Vol. 30. (2001), tr. 10-12.
20
Peter N. Peregrine. Outline of Archaeological Traditions. New Haven, CT: Hum.Relat. Area Files.
21
Peregrine PN, Ember M., (chủ biên). Encyclopedia of Prehistory, New York: Kluwer Acad./Plenum, 9
tập, năm 2001.
22
Xem Carol Kramer.Ceramic Ethnoarchaeology, Annual Review of Anthropology, Vol. 14 (1985), tr.
77-102; Margaret E. Becka,Mark A. Neupert. Identifying pottery clay from rice fields: an example from
southern Luzon, the Philippines, Journal of Archaeological Science 36 (2009) 843–849; Diệp Đình Hoa.
Nghiên cứu đồ gốm bằng phương pháp dân tộc học so sánh, NPHMVKCN 1975, Hà Nội, năm 1976;
Hà Văn Tấn. Mô hình gỗ với thời đại đá ở Việt Nam và Đông Nam Á// Tạp chí Khoa học, Đại học Tổng
hợp Hà Nội, số 1, 1985; Trần Quốc Vượng, Hayden Brian 1996. Tài liệu về kiểm soát chính trị của người
Tà Ôi (Quảng Trị). Báo cáo sơ bộ (Tài liệu riêng của tác giả); Lâm Thị Mỹ Dung và nhóm cộng sự. Nghiên
cứu quá trình chuyển biến từ So sử sang Lịch sử sớm ở Trung và Nam Trung bộ Việt Nam. ĐTNCKH
Trọng điểm cấp ĐHQG (mã số QGTĐ. 06.07) Hà Nội, năm 2008…
23
Dena F. Dincauze. Environmental Archaeology: Principles and Practice. Cambridge University Press.
Cambridge 2000; Bruce Trigger, Archaeology and Ecology. World Archaeology, Vol.2, No.3, Subsistence
(Feb., 1971), tr.321-336; Hà Văn Tấn. Những hệ sinh thái nhiệt đới trong thời tiền sử Việt Nam và Đông
Nam Á. Nghiên cứu Việt Nam, số 474, 1984; Hà Văn Tấn. Khí hậu cách tân muộn ở Đông Nam Á: số liệu
kiến trúc đóng kín hay các hầm mộ lớn (kim tự tháp, lăng mộ, các mộ
quách…) có thể sử dụng các robot tinh xảo cùng những camera cực nhỏ
để thám sát bên trong chúng mà không làm hỏng cấu trúc của di tích.
Nhiều thiết bị lặn và các camera đặc biệt giúp nghiên cứu khảo cổ học
dưới nước (tìm, dò, thám sát, trục vớt hiện vật khảo cổ trong các con tàu
bị đắm thời cổ, các đô thị bị ngập chìm…) Ở Việt Nam các nhà khảo
cổ học thường sử dụng ảnh viễn thám, ảnh vệ tinh… để khoanh vùng và
nghiên cứu những yếu tố địa hình, địa mạo, tự nhiên có tác động đến sự
hình thành và phá hủy của di tích, mối quan hệ của di tích với ngoại
cảnh. Hiệu quả của ứng dụng này được đánh giá cao và rất hữu ích đặc
biệt đối với các công trình thành cổ, đô thị cổ, nhưng do chưa có kinh
phí tổ chức chụp ảnh viễn thám hay máy bay dành riêng cho mục đích
này cũng như trả tiền mua quyền sử dụng bản đồ vệ tinh chuyên nghiệp
nên mức độ tiếp cận còn rất hạn chế. Những ứng dụng của các phương
pháp đo từ trường, điện từ để xác định mức độ bảo tồn và quy mô, mật
độ phân bố di tích, di vật khảo cổ gần như chỉ khoanh lại trong các
chương trình, dự án nghiên cứu phối hợp với nước ngoài. Nguyên nhân
không chỉ là do “khó khăn trong đầu tư thiết bị thăm dò này thường rất
đắt, việc phổ cập các kiến thức về các phương pháp khoa học tự nhiên
chưa được chú ý nhiều và việc đào bới các di tích chưa được cân nhắc
24
Trần Quốc Vượng Khảo cổ học Việt Nam - nơi hội tụ của khoa học, lịch sử và văn hóa.
/>10
và quản lý một cách chặt chẽ”
25
mà còn ở sức ì của quan điểm và sự rời
rạc trong quan hệ giữa các ngành khoa học ở Việt Nam.
ii. Áp dụng các phương pháp khoa học kỹ thuật và tự nhiên và liên
ngành khác trong khai quật và xử lý di tích, di vật khảo cổ ngoài
hiện trường: Để áp dụng được những tiếp cận và lý thuyết của khảo cổ
nguồn gốc nguyên liệu, tổ chức sản xuất và trao đổi sản phẩm…
26
. Hạn
25
Nguyễn Quang Miên. Ứng dụng các phương pháp khoa học tự nhiên trong khảo cổ học Việt Nam – Vấn
đề và giải pháp. Trong “Một thế kỷ khảo cổ học Việt Nam”, tập I, NxbKHXH, Hà Nội, năm 2004, tr. 687.
26
Nguyễn Quang Miên. Ứng dụng các phương pháp khoa học tự nhiên trong khảo cổ học Việt
Nam – Vấn đề và giải pháp. Trong “Một thế kỷ khảo cổ học Việt Nam”, tập I, NxbKHXH, Hà Nội, năm
2004, tr.695; Nguyễn Kim Thủy. Áp dụng khoa học tự nhiên trong nghiên cứu nhân học Việt Nam. Trong
“Một thế kỷ khảo cổ học Việt Nam”, tập I, NxbKHXH, Hà Nội, năm 2004, tr.225-237; Nguyễn Trường Kỳ
1994, Kết quả phân tích quang phổ đồ trang sức bằng thuỷ tinh ở một số địa điểm khảo cổ học Việt Nam.
NPHMVKCH 1993: 140-141; Phạm Lý Hương, Phạm Thị Ninh và Nguyễn Xuân Hòa. Xác định thành
11
chế lớn nhất của những ứng dụng này không phải chỉ là “chưa có sự kết
hợp chặt chẽ giữa các nhà gửi mẫu và người phân tích nên chưa phát
huy được hiệu quả sử dụng của các phương pháp trong các phân tích
mẫu khảo cổ…và số liệu phân tích từ các phòng thí nghiệm khác nhau
chưa được nghiên cứu đối sánh liên kết”
27
mà chủ yếu là nhiều người
làm khảo cổ không biết đọc/ giải mã và dùng số liệu phân tích để diễn
giải khảo cổ và do mẫu gửi phân tích còn rất hạn chế về số lượng và
không hệ thống nên chưa có những bộ số liệu chuẩn cho từng giai đoạn,
từng văn hóa dùng làm dữ liệu so sánh dẫn đến hiện tượng số liệu phân
tích chỉ mang tính hình thức.
iv. Những chuyên ngành khảo cổ học khác nhau có những phương pháp
nghiên cứu và cách tiếp cận chuyên biệt đòi hỏi sự tham gia của chuyên
gia từ nhiều ngành khoa học và trang thiết bị hiện đại, đắt tiền (ví dụ
những trang thiết bị cho những trung tâm và phòng thí nghiệm C14,
pháp kỹ thuật và công nghệ hiện đại.
29
Lâm Thị Mỹ Dung Sử dụng phương pháp và lý thuyết của khảo cổ học hiện đại trong nghiên cứu khảo
cổ học Việt Nam HTKH “Phương pháp liên ngành trong nghiên cứu Khoa học Xã hội & Nhân
văn”, Trường ĐHKHXH & NV, Hà Nội, tháng 12 năm 2009.
12
Nhận thức tầm quan trọng của giảng dạy lý thuyết và phương pháp
Xây dựng các chuyên đề, các sinh hoạt ngoại khóa
Xây dựng hệ thống tài liệu digital, cung cấp tài liệu khảo cổ và văn hóa trên trang
web. và liên kết với các trang web về khảo cổ
trong nước và nước ngoài.
Phát huy vai trò của cơ sở nghiên cứu Bảo tàng Nhân học trong đào tạo nghiên
cứu liên ngành trong Khảo cổ học và các ngành khoa học Lịch sử, Nhân học…
Liên kết đào tạo với viện nghiên cứu, bảo tàng. Tăng cường gửi cán bộ đi đào tạo
sau đại học ở nước ngoài hay tổ chức hợp tác đào tạo lý thuyết và thực hành
30
.
Trở ngại: Hiện nay giờ chuyên đề giảm, học liệu thiếu, ngoại ngữ kém và người
dạy không đủ trình độ, liên kết đào tạo và nghiên cứu còn rời rạc, thời vụ. Kiến
thức học được khó áp dụng vào thực tế…
31
4. Kết lại
Mọi nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn hiện nay đều theo xu hướng đa/liên
ngành, tuy nhiên nếu so sánh với một số ngành khoa học lịch sử và nhân học khác
khảo cổ học – từ đối tượng đến mục tiêu nghiên cứu của mình thì nhu cầu và sự
cần thiết của việc phải sử dụng các tri thức và phương pháp liên ngành xã hội nhân
văn,kỹ thuật, tự nhiên, công nghệ cấp thiết và ở mức độ cao hơn rất nhiều. “khảo
cổ học là ngành khoa học cần và không ngừng có sự cập nhật với các tiến bộ khoa
học kỹ thuật hiện đại để mở rộng và nâng cao nội dung và chất lượng nghiên cứu;
với cả xu hướng mới về tin học hóa, hiện đại hóa các hoạt động điền dã – giám
05.5/2010)
13
Tài liệu dẫn
Guy Bourdé, Hervé Martin. Các trường phái sử học Việt Nam. Viện Sử học. Hà
Nội năm 2001
Carol Kramer.Ceramic Ethnoarchaeology, Annual Review of Anthropology, Vol.
14 (1985), tr. 77-102;
Margaret E. Becka,Mark A. Neupert. Identifying pottery clay from rice fields: an
example from southern Luzon, the Philippines, Journal of Archaeological Science
36 (2009) 843–849
Kluwer Acad./Plenum, 9 tập, năm 2001.
Guy Bourdé, Hervé Martin. Các trường phái sử học Việt Nam. Viện Sử học. Hà
Nội năm 2001.
David J Meltzer, Don D. Fowler, Jeremy A. Sabloff. Khảo cổ học Mỹ Quá khứ và
Tương lai. Bản dịch của Lâm Thị Mỹ Dung và Chu Hương Ly. Tư liệu Khoa Lịch
sử và Bảo tàng Nhân học, Trường ĐHKHXH & NV. Hà Nội.
Colin Renfrew, Paul Bahn. Khảo cổ học Lý thuyết, Phương pháp và Thực hành.
Bản dịch của Đặng Văn Thắng, Lê Long Hổ và Trần Hạnh Minh Phương. Nxb
Trẻ. TP. Hồ Chí Minh năm 2007, tr.14-16
Hà Văn Tấn. Khảo cổ học lý thuyết – Giáo trình đào tạo sau đại học chuyên
ngành khảo cổ học. Hà Nội năm 1996.
Michael B. Schiffer. The Structure of Archaeological Theory, American Antiquity,
Vol. 53, No. 3. (Jul., 1988).
Hán Văn Khẩn (chủ biên). Cơ sở Khảo cổ học. Nxb ĐHQG, Hà Nội năm 2009
R.A. Gould. New Studies in Archaeology – Living Archaeology. Press Syndicate
of the University of Cambridge 1980.
Earle TK. 1997. How Chiefs Come to Power. Sanford, CA: Sanford University
Press, năm 1997
Ember M, Ember CR. Cross – Cultural Research Methods. Walnut Creek, CA:
Alta Mira, năm 2001
sang Lịch sử sớm ở Trung và Nam Trung bộ Việt Nam. ĐTNCKH Trọng điểm
cấp ĐHQG (mã số QGTĐ. 06.07) Hà Nội, năm 2008
Dena F. Dincauze. Environmental Archaeology: Principles and Practice.
Cambridge University Press. Cambridge 2000.
Bruce Trigger, Archaeology and Ecology. World Archaeology, Vol.2, No.3,
Subsistence (Feb., 1971), tr.321-336.Hà Văn Tấn. Những hệ sinh thái nhiệt đới
trong thời tiền sử Việt Nam và Đông Nam Á. Nghiên cứu Việt Nam, số 474, 1984
Hà Văn Tấn. Khí hậu cách tân muộn ở Đông Nam Á: số liệu mới từ Việt Nam.
Nghiên cứu mới về kỷ đệ tứ ở Đông Nam Á, tập 9, Rốt-téc-đam, 1985
Hà Văn Tấn. Sự chuyển biến từ Pléitocene đến Holocene ở Đông Nam Á: Môi
trường và văn hóa . Tạp chí Khảo cổ học, số 1, 1992.
Trần Quốc Vượng. Về những nhân tố tự nhiên – dân số – kĩ thuật – ý thức trong
văn minh nông nghiệp Việt Nam. Tạp chí Khảo cổ học, số 2, 1983
Trần Quốc Vượng. Con người – Môi trường và Văn Hóa. Nxb VHTT. Hà Nội
2005.
Hà Hữu Nga. Khảo cổ học Đông Bắc, Việt Nam: từ những hệ thống sinh thái nhân
văn tới cấu trúc xã hội Tiền Nhà nước. Trong Một thế kỷ Khảo cổ học Việt Nam.
Tập I. NxbKHXH, Hà Nội 2004, tr.117-139.
Trần Quốc Vượng Khảo cổ học Việt Nam - nơi hội tụ của khoa học, lịch sử và văn
hóa. />va-van-hoa/40053660/181/
Nguyễn Quang Miên. Ứng dụng các phương pháp khoa học tự nhiên trong khảo
cổ học Việt Nam – Vấn đề và giải pháp. Trong “Một thế kỷ khảo cổ học Việt
Nam”, tập I, NxbKHXH, Hà Nội, năm 2004
15
Nguyễn Kim Thủy. Áp dụng khoa học tự nhiên trong nghiên cứu nhân học Việt
Nam. Trong “Một thế kỷ khảo cổ học Việt Nam”, tập I, NxbKHXH, Hà Nội, năm
2004, tr.225-237
Nguyễn Trường Kỳ 1994, Kết quả phân tích quang phổ đồ trang sức bằng thuỷ
tinh ở một số địa điểm khảo cổ học Việt Nam. NPHMVKCH 1993: 140-141
Phạm Lý Hương, Phạm Thị Ninh và Nguyễn Xuân Hòa. Xác định thành phần