BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHAN THỊ MỸ TIÊN
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG SỬ DỤNG NGÔN
NGỮ ĐỂ TẠO LẬP VĂN BẢN TỰ SỰ
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ Chuyên ngành :
Lý luận và phương pháp dạy học môn Văn
Mã số : 60 14 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
PGS.TS. ĐẶNG NGỌC LỆ
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT GV : giáo viên
HS : học sinh
Nxb : nhà xuất bản
SGK : sách giáo khoa
SL : số lượng
TLV : tập làm văn
TL : tỉ lệ
THCS : Trung học sơ sở
VBTS : văn bản tự sự MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Đổi mới phương pháp dạy học là cuộc cách mạng trong ngành giáo dục từ
nhiều thập niên qua nhằm phát huy tính chủ động, tích cực của HS, góp phần đào tạo
những con người năng động, sáng tạo, những người chủ tương lai đất nước. Đổi mới
phương pháp dạy học bộ môn Ngữ văn cũng nằm trong quỹ đạo chung ấy, nhất là từ
chương trình và SGK mới thực hiện từ năm
2002 đến nay.
Phương pháp dạy làm văn đã được trang bị trong quá trình đào tạo tại các
trường sư phạm, được tập huấn trong các đợt bồi dưỡng thay SGK nhưng việc dạy
TLV ở cấp THCS còn gặp rất nhiều khó khăn. GV tỏ ra lúng túng trong quá trình tổ
chức, thiết kế giờ dạy, giải quyết việc phân tích mẫu để hình thành khái niệm, luyện
tập rèn kĩ năng tạo lập văn bản cho HS… Đối với HS, thực tế cho t
hấy các em rất
Từ những lí do trên, tìm hiểu các đặc điểm ngôn ngữ của văn tự sự để rèn luyện
cho HS kĩ năng sử dụng ngôn ngữ trong tạo lập VBTS trở thành nhu cầu cấp thiết
góp phần đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng học tập bộ m
ôn, hoàn
thành tốt mục tiêu của môn học.
2. Lịch sử vấn đề
2.1 . Sách giáo khoa
SGK chương trình cũ (chương trình cải cách (1986), chương trình chỉnh lí
(1995)) : TLV được coi là một phân môn trong môn Tiếng Việt, nhưng vẫn có SGK
riêng mang tên TLV bên cạnh SGK Văn và Tiếng Việt. Phân
phối chương trình quy
định dạy TLV về Kể chuyện ở lớp 7, sau khi HS đã được học về Trần thuật, Miêu tả
(lớp 6) Tường thuật (lớp 7). Các kiểu bài miêu tả, trần thuật, tường thuật, kể chuyện
chỉ tập trung vào hai khối lớp đầu cấp 6, 7.
Chương trình và SGK mới THCS (2002) được xây dựng trên quan điểm tích
hợp ba phân môn Văn học, Tiếng Việt và TLV. Theo tinh thần này, cả ba phân môn
có mối liên hệ hết sức chặt chẽ, phụ thuộc vào nhau, hỗ trợ lẫn nhau trong mỗi bài
học và xuyên suốt với các bài học khác trong chương trình. Phương châm của việc
tích hợp là nhằm hướng cho HS hệ thống các tri thức riêng của từng phân m
ôn Văn,
Tiếng Việt, Làm văn và gắn kết những tri thức có quan hệ với nhau giữa các phân
môn, giúp HS biết vận dụng những kiến thức đã học vào việc cảm nhận, thẩm định
cái hay, cái đẹp của văn bản, tạo lập văn bản, phục vụ cho hoạt động gi
ao tiếp trong
đời sống hàng ngày. Chương trình THCS được chia thành hai vòng, theo vòng tròn
đồng tâm. Vòng một (lớp 6, 7) sẽ giữ vai trò cung cấp các kiến thức cơ bản. Vòng hai
(lớp 8, 9), HS sẽ được học các kiến thức mới trên cơ sở những điều đã học một cách
R. Barthes và tự sự học (Lời giới thiệu của Đỗ Lai Thuý, Tôn Quang Cường
dịch từ bản tiếng Nga - http
://vanhoanghethuat.org.vn/sach/sudongdanh/rbathes.htm) [73] : Đỗ Lai Thuý giới
thiệu về Roland Barthes (1915 –1980) là một nhà phê bình văn học, nhà văn hoá học,
một trong những đại biểu nổi tiếng nhất của trường phái kí hiệu học Pháp. Tự sự học
cấu trúc của R. Barthes được xác định như là sự phân tích các thành tố và những cơ
chế của truyện kể, nó trình bày một câu chuyện qua hành động kể, sự kể. Tự sự học
quan tâm đến truyện kể như một phương thức trình bày bằng ngôn từ. Nó trả lời câu
hỏi : ai kể cái gì và như thế nào ? Tác phẩm tự sự học tiêu biểu của R. Barthes và của
cả tự sự học cấu trúc nói chung là Đường vào phân tích cấu trúc truyện kể. Sau phần
nhập m
ôn phân tích cấu trúc truyện kể, mục một trình bày ngôn ngữ các VBTS với
đặc điểm chủ yếu là vượt ra giới hạn của câu. Theo quan điểm cấu trúc, bất cứ VBTS
nào cũng đều được xây dựng theo mô hình của câu, bất cứ một truyện nào cũng là
một câu lớn và câu kể chính là một sự tỉnh lược của một câu nhỏ. Các “chủ thể” lẫn
cụm chủ vị trong VBTS cũng đều tuân thủ quy tắc cấu tạo câu. Nhưng giữa câu ngôn
bản tồn tại các mối q
uan hệ đồng đẳng khi lưu ý đến mặt hình thức của chúng. Những
mục tiếp theo về chức năng, hành động, tường thuật, hệ thống VBTS đã được đề cập
chi tiết. Barthes đã đi tìm định nghĩa cấu trúc về nhân vật, vấn đề chủ thể, tình huống
kể,…và đưa ra các cấp độ của từng đơn vị nghiên cứu. Các vấn đề mà Barthes đặt ra
có giá trị phương pháp luận khi nghiên cứu về VBTS và rèn luyện các kĩ năng tạo lập
VBTS.
Văn miêu tả và kể chuyện – Vũ Tú Nam - Phạm Hổ - Bùi Hiển - Nguyễn
Quang Sáng – Nxb GD 2001 [39]
. Sách ghi lại những kinh nghiệm quý báu của các
nhà văn có sở trường về miêu tả và kể chuyện. Những đặc điểm của bài văn kể
chuyện như nhân vật,
cốt truyện, tình huống, tình tiết đã được các tác giả cụ thể hóa
ý, viết bài văn… Ở phần viết bài văn, các tác giả đã có chú ý đến mở đầu và kết thúc
câu chuyện, đến viết lời kể (giới thiệu, thuyết minh) về nhân vật và sự việc, mi
êu tả
trong văn kể chuyện và chú ý đến ngôi kể. Các phương pháp này nhằm phục vụ cho
việc giảng dạy văn kể chuyện trong chương trình của nhà trường hiện hành lúc bấy
giờ. Những vấn đề về lý thuyết được đề cập khá chi tiết. Vấn đề rèn luyện kĩ năng sử
dụng ngôn ngữ cho HS chưa được đề cập.
Ngữ pháp văn bản và việc dạy làm văn – Nguyễn Trọng Báu – Nguyễn Quang
Ninh – Trần Ngọc Thêm, Nxb Giáo Dục, Hà Nội (1985) [7]
trình bày một cách tinh
giản những vấn đề và kết quả nghiên cứu hiện có trong lĩnh vực ngữ pháp văn bản và
dạy làm văn như một ứng dụng và thiết thực nhất của ngữ pháp văn bản. Các tác giả
đã đưa ra một số vấn đề cơ bản của ngữ pháp văn bản như lĩnh vực trên câu, sự ra đời
của ngữ phá
p văn bản, liên kết câu, chỉnh thể trên câu đoạn văn. Đặc biệt trong “Thay
phần kết luận, các tác giả đã “thử ứng dụng ngữ pháp văn bản vào việc dạy làm văn
và giảng văn”. Phần ứng dụng này còn trình bày còn dè dặt và sơ lược [7, tr.144-151]
một số ứng dụng, việc ứng dụng các kiến thức tiếng Việt trong dạy T
LV chưa đặt
thành trọng tâm.
Phương pháp dạy học tiếng Việt - Lê A chủ biên, Nguyễn Quang Ninh, Bùi
Minh Toán, NXB GD, 2003, chương 7 trình bày phương pháp dạy học Làm văn [2,
tr.185-238]. Các tác giả đã cung cấp một số tiền đề lý thuyết của việc dạy làm văn.
Phương pháp dạy học Làm văn đề cập đến phương pháp dạy lý thuyết, phương pháp
dạy thực hành, phương pháp ra đề làm văn, phương pháp chấm và trả bài làm văn.
Phần cuối chương là một số kĩ năng làm
văn cần rèn luyện cho HS gồm sáu kĩ năng.
Đó là kĩ năng xác định nội dung, yêu cầu của đề bài và phương hướng triển khai bài
viết, kĩ năng lập ý, kĩ năng viết đúng theo dàn ý, kĩ năng lập luận, kĩ năng hành văn,
và giao tiếp… được dẫn giải dễ hiểu. Tập sách chưa đặt vấn đề về rèn luyện và phát
triển kĩ năng sử dụng ngôn ngữ trong một phương thức tạo lập văn bản, cụ thể là
VBTS.
Các sách tham khảo khác : Những bài làm văn tự sự và Miêu tả 6 –Nguyễn
Quang Ninh – Nxb Giáo dục 2005 [44] ; Hướng dẫn TLV 6 - Vũ Nho chủ bi
ên –
Nguyễn Thúy Hồng, Trần Thị Nga, Trần Thị Thành –– Nxb Giáo dục 2004 [41] ; Rèn
kĩ năng làm văn tự sự và miêu tả 6 - Đoàn Thị Kim Nhung, Phạm Thị Nga –Nxb Đại
học quốc gia TP Hồ Chí Minh 2006 [42] ; Tư liệu dạy Ngữ văn 6, 7, 8, 9 - Đỗ Ngọc
Thống– Nxb Giáo dục 2003 – 2006 [61] ; Các dạng bài TLV và cảm thụ thơ văn 6, 7,
8 , 9 - Cao Bích Xuân –– Nxb Giáo dục 2003- 2006 [69] ; Một số kiến thức, kĩ năng
và bài rập nâng cao Ngữ văn 6, 7, 8, 9 - Nguyễn Thị Mai Hoa – Đinh Chí Sáng –
Nxb Giáo dục 2003 – 2006 [23] và các tác giả khác với các qu
yển những bài làm văn
chọn lọc, những bài làm văn hay các lớp 6, 7, 8, 9,…Đây là các sách bài tập và tham
khảo theo chương trình SGK mới 2002. Nội dung trình bày của các sách trên có
những điểm chung là tìm hiểu khái quát về tự sự và đặc điểm của văn tự sự, các kiểu
bài tự sự thường gặp, những điều cần lưu ý, phương pháp làm
bài văn tự sự, các bài
tập rèn luyện và một số bài văn mẫu. Tuy nhiên cũng có rất nhiều sách chỉ cung cấp
cho HS, GV và phụ huynh những bài văn mẫu mà không định hướng phương pháp
cũng như rèn những kĩ năng hình thành năng lực viết VBTS cho HS.
Qua các tài liệu tham tham khảo, khái niệm và đặc điểm về văn tự sự được
trình bày khá thống nhất, luận văn kế thừa thành quả nghiê
n cứu vào việc tìm hiểu
đặc điểm của VBTS. Việc rèn luyện về kĩ năng sử dụng ngôn ngữ được trình bày
lồng ghép trong các yêu cầu, phương pháp làm bài văn tự sự, chưa đặt thành vấn đề
cụ thể để hướng dẫn HS rèn luyện.
Đặc trưng của VBTS được xếp vào loại các văn bản nghệ thuật, bản thân nó
bài dạy TLV tự sự, chú trọng rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ cho HS THCS. Để
thực hiện nhiệm vụ trên, tác giả luận văn đã tiến hành dự giờ, khảo sát thực tế giảng
dạy và học tập về VBTS của GV và HS
ở Quận 6 thành phố Hồ Chí Minh, tìm hiểu
những thuận lợi khó khăn từ chương trình SGK, từ GV, HS,… đối với việc dạy tạo
lập VBTS ; thiết kế giáo án và ghi nhận những việc đã làm được và chưa làm được
trong việc dạy thể nghiệm đồng thời đề xuất các phương pháp giảng dạy tạo lập
VBTS có chú trọng rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ cho HS.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là các bài dạy trong SGK và sách GV lớp 6, 7, 8, 9 về
tạo lập VBTS cấp THCS, các tiết dạy của GV về tạo lập VBTS và các bài viết TLV
tự sự của HS một số trường ở Quận 6 thành phố Hồ Chí Minh.
- Phạm vi nghiên cứu là chương trình TLV tự sự THCS, cụ thể ở các lớp 6, 7,
8, 9 phân bố trong học kì I.
5. Phương pháp nghiên cứu
Từ mục đích, nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu nghiên cứu trên, chúng tôi vận
dụng các p
hương pháp sau trong luận văn :
5.1 Phương pháp nghiên cứu liên ngành : vận dụng và kế thừa thành tựu
nghiên cứu của nhiều ngành : ngôn ngữ học, nghiên cứu văn học, giáo dục học, lý
luận văn học, tâm lý học,… trong đó đặc biệt chú ý đến việc vận dụng phương pháp
giảng dạy TLV và Tiếng Việt trong tạo lập VBTS. Luận văn tìm hiểu chương trình
giảng dạy về TLV tự sự trong nhà trường, tham
khảo các tài liệu về lý thuyết văn tự
sự, về phương pháp giảng dạy TLV và Tiếng Việt qua các sách, báo, tạp chí chuyên
ngành ngôn ngữ, tạp san, báo cáo chuyên đề…
5.2 Phương pháp quan sát, điều tra, phỏng vấn : dự giờ GV giảng dạy các tiết
7. Cấu trúc luận văn :
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn gồm 3 chương :
Chương I : Đặc trưng VBTS và việc rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ trong
tạo lập VBTS cho HS THCS.
Chương II : Vấn đề dạy học tạo lập VBTS ở chương trình THCS.
Chương III : Phương pháp rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ cho HS THCS
trong tạo lập VBTS.
Tài liệu tham
khảo.
Phụ lục.
▪
Phiếu điều tra GV.
▪
Thống kê kết quả điều tra.
CHƯƠNG 1. ĐẶC TRƯNG VĂN BẢN TỰ SỰ VÀ VIỆC TẠO LẬP VĂN BẢN
TỰ SỰ CHO HỌC SINH THCS
1.1. Khái niệm, đặc điểm VBTS
1.1.1. Khái niệm văn bản
Văn bản trong ngôn ngữ học được định nghĩa rất phức tạp. Theo Từ điển thuật
ngữ văn học, với nghĩa rộng : 1) Bản ghi bằng chữ viết hoặc in, một phát ngôn hoặc
một thông báo ngôn từ (phân biệt với việc thực hiện phát ngôn hoặc thông báo ấy
bằng nói m
iệng) ; 2) Phương diện tri giác của tác phẩm được biểu đạt và ghi nhận
bằng các kí hiệu ngôn ngữ ; 3) Đơn vị nhỏ nhất (có tính thống nhất tương đối và tính
độc lập tương đối) của giao tiếp bằng ngôn từ. Với nghĩa hẹp : văn bản là một chỉnh
thể nghĩa, một khối thống nhất có tổ chức của các th
ành tố hợp thành, một thông báo
chính. Một kiểu văn bản có thể bao chứa trong nó các phương thức biểu đạt khác.
1.1.3. Phương thức tự sự
Khi muốn tái hiện lại một câu chuyện đã xảy ra nhằm g
iải thích sự việc, tìm
hiểu con người, nêu vấn đề và bày tỏ thái độ khen chê thì người viết phải trình bày
một chuỗi sự việc liên quan đến nhau, sự việc này dẫn đến sự việc kia, cuối cùng có
một kết thúc. Đó chính là phương thức tự sự.
Khái niệm phương t
hức tự sự trình bày các sự việc (sự kiện) có quan hệ
nhân quả dẫn đến kết cục, biểu lộ ý nghĩa. Khái niệm tự sự ở đây bao gồm các nội
dung kể chuyện, tường thuật, trần thuật trong chương trình TLV trước đây. Hình
thức văn bản cụ thể của VBTS là bản tin báo chí, bản tường thuật, tường trình, tác
phẩm lịch sử, t
ác phẩm văn học nghệ thuật : truyện, tiểu thuyết, kí sự. Từ “kể
chuyện” khá tiêu biểu cho tự sự, cho nên nhiều khi được dùng để thay thế tự sự.
“Tự sự là phương thức trình bày một chuỗi các sự việc, sự việc này dẫn đến
sự việc kia, cuối cùng dẫn đến một kết thúc, thể hiện một ý nghĩa.” [47, tr.28].
Phương thức tự sự ở TLV tập trung vào hành động kể việc, thuật việc, trình bày diễn
biến sự việc.
Thể loại tự sự là
phương thức tái hiện đời sống, bên cạnh hai phương thức
khác là trữ tình và kịch được dùng làm cơ sở để phân loại tác phẩm văn học. [21,
tr.263]. Thể loại tự sự bao hàm cả kể và miêu tả sự việc, sự vật.
VBTS lớn hơn phương thức tự sự vì có chứa nhiều phương thức biểu đạt.
1.1.4. Mục đích giao tiếp của tự sự
Mục đích kể chuyện là để biết, để nhận thức con người cũng như ngoại giới
và phương thức kể là kể từng việc, lần lượt có đầu có đuôi, có tính liên tục, có
nguyên nhân, kết quả. Kể không theo trình tự đầu cuối, sắp xếp các tình tiết không
sở” của truyện chứ chưa phải là truyện. Gorki coi cốt truyện là hệ thống các quan hệ
qua lại của các nhân vật, là “lịch sử phát triển và sự tổ chức một tính cách nào đó”.
Cái dệt nên cốt truyện là hành động của các nhân vật (hành động là sự thể hiện các
cảm xúc, ý nghĩa, ý định của con người vào các hành vi, hoạt động, lời nói, cử chỉ,
nét mặt … của họ). Chương trình giảng dạy tự sự cấp THCS đưa vấn đề cốt truyện
vào sự việc, nhân vật và xác định đây là hai yếu tố then chốt của VBTS.
- Sự việc
“Sự việc là yếu tố quan trọng, cốt lõi của tự sự.” [47, tr.79]
, là “cái xảy ra được
nhận thức có ranh giới rõ ràng, phân biệt với những cái tồn tại khác” [70, tr.846]. Sự
việc là những việc xảy ra và những việc do con người làm ra. Muốn tự sự phải chọn
sự việc và tổ chức sự việc sao cho thể hiện được điều m
uốn nói. Sự việc tạo thành
chuyện phải tiêu biểu, có vai trò dẫn dắt câu chuyện, khắc họa đặc điểm tính cách
nhân vật tác động của sự việc phải gây biến đổi, nhằm bộc lộ bản tính, nguyên nhân
gì bên trong của con người hay sự vật thì mới tạo thành chuyện.
Trong VBTS có thể chỉ một sự việc được kể cùng một số chi tiết làm ra sự việc
đó. Nhưng thường thì câu chuyện được kể là một chuỗi sự việc từ khởi đầu, phát
triển đến cao trào và kết thúc. Truyền t
huyết Sơn Tinh, Thủy Tinh có các sự việc sau
[61, tr.33-34] :
Sự việc khởi đầu : Vua Hùng kén rể.
Sự việc phát triển : Sơn Tinh, Thuỷ Tinh cầu hôn, Vua Hùng ra điều
kiện.
Sự việc cao trào : Sơn Tinh được vợ, Thuỷ Tinh tức giận đánh Sơn Tinh.
Sự việc kết thúc : Th
uỷ Tinh thua và thường xuyên trả thù.
Sự việc trong văn tự sự phải được kể cụ thể : do ai làm, việc xảy ra ở đâu, lúc
Quang Sáng),… có thể không có tên như anh thanh niên, ông hoạ sĩ, cô kĩ sư (Lặng lẽ
Sa Pa - Nguyễn Thành Long),
ông giáo (Lão Hạc - Nam Cao),… Hiểu theo nghĩa
rộng, nhân vật là tất cả những chủ thể tạo nên hành động trong tác phẩm. Theo nghĩa
này, nhân vật có thể là người, có thể không phải là người, có thể là vật, có thể là đồ
vật.
Nhân vật có thể là thần (Gióng trong Thánh Gióng - truyền t
huyết), là người
(ông Hai trong Làng – Kim Lân)), là vật (Dế Mèn trong Dế Mèn phiêu lưu kí – Tô
Hoài). Trong văn tự sự nhiều khi có nhân vật xưng “tôi”. Nhân vật này có khi là
người dẫn chuyện, người chứng kiến việc xảy ra và kể lại cho ta nghe, người như biết
hết mọi chuyện trong tác phẩm, cứ thấp thoáng khi ẩn khi hiện trong câu chuyện. Có
khi nhân vật “tôi” này là một trong những người tham gia, đóng vai nhất định t
rong
truyện như nhân vật “tôi” trong Tôi đi học của Thanh Tịnh, hoặc “tôi” trong Trong
lòng mẹ của Nguyên Hồng… Nhân vật, đó là cá thể làm ra sự việc và là sản phẩm của
lời kể. Có nhiều cách thể hiện nhân vật và phân loại nhân vật như nhân vật chính diện
và nhân vật phản diện (Thạch Sanh, Lí Thông), nhân vật chính và nhân vật phụ (Đôn
Ki-hô-tê, Xan-chô Pan-xa). Ngoài ra còn có nhiều cách phân loại nhân vật như nhân
vật tích cực (Nho, Phương Định – Những ngôi sao xa xôi – Lê Minh Khuê), nhân vật
tư tưởng (Nhĩ - Bến quê – Nguyễn Minh Châu)… Nhân vật được thể hiện qua các
mặt : tên gọi, lai lịch, hình dáng, tính nết, việc làm, suy nghĩ, hành động, tâm
trạng
(Thúy Kiều - Truyện Kiều - Nguyễn Du),…
Trong các VBTS nghệ thuật, sự việc và nhân vật không tách rời, vì nhân vật là
kẻ làm ra sự việc và nhân vật chỉ có thể hiện lên trong các sự việc đó qua lời kể.
Tương tự, mỗi sự việc đầy ắp chi tiết về nhân vật.
1.2.2. Chủ đề và dàn bài trong văn tự sự
chuyện. (Cũng có khi nêu kết quả của sự việc, số phận nhân vật trước.)
▪
Thân bài : kể diễn biến của sự việc theo một trình tự nhất định nhằm thể
hiện chủ đề. (Trả lời các câu hỏi : Câu chuyện diễn ra ở đâu? Khi nào? Với
ai? Như thế nào?…)
Trong khi kể, người viết thường phải kết hợp miêu tả sự việc, con
người và thể hiện tình cảm, thái độ của mình trước sự việc và con người
được miêu tả.
▪
Kết bài : kể kết cục của sự việc, cảm nghĩ của người trong cuộc
(người kể chuyện hay một nhân vật nào đó) hoặc khẳng định chủ đề
của truyện.
“Dàn bài là sự sắp xếp bên ngoài, mà chủ đề là mối liên hệ bên trong. Chủ đề
có lúc thể hiện ở những câu then chốt trong phần mở bài hoặc kết bài, có lúc thể hiện
ở chi tiết, hành động.” [53, tr.49]. Dàn bài chỉ nêu l
ên một cách chung nhất sự sắp
xếp cơ bản của bài văn tự sự. Thực tế bài văn tự sự hoàn chỉnh rất linh hoạt, nhất là
phần mở bài và kết bài.
Truyện ngắn Tôi đi học của Thanh Tịnh [49] đã diễn tả những kỉ niệm trong
sáng của tuổi học trò trong buổi tựu trường đầu tiên. Trình tự diễn tả những kỉ niệm
của nhà văn trong tác phẩm :
▪
Mở bài : từ hiện tại mà nhớ về dĩ vãng : biến chuyển của trời đất cuối
thu và hình ảnh mấy em nhỏ rụt rè núp dưới nón là mẹ lần đầu tiên đi
đến trường gợi cho nhân vật “tôi” nhớ lại mình ngày ấy cùng những kỉ
niệm trong sáng.
▪
Thân bài : diễn biến tâm trạng của nhân vật “tôi” :
Tâm trạng, cảm giác trên con đường cùng mẹ tới trường.
đến đặc th
ù về ngôn ngữ mà đề tài luận văn hướng đến.
1.3.1. Lời văn tự sự
“Lời văn là hình thức diễn đạt bằng ngôn ngữ được viết thành văn” [71,
tr.566]. Lời văn tự sự là hình thức diễn ngôn tự sự. Lời giới thiệu, kể sự việc, miêu tả,
đối thoại, độc thoại, bình luận là các bộ phận tạo thành lời văn tự sự.
Lời văn tự sự hết sức phong phú, đa dạng. Có thể phân làm 2 loại lớn là lời
giới thiệu nhân vật và lời văn kể việc.
Lời giới thiệu nhân vật là yếu tố rất cơ bản của lời văn tự sự. Bất kì
VBTS nào cũng có lời giới thiệu nhân vật. Đó là những thông tin về nhân vật, từ tên,
họ, lai lịch, quan hệ cho đến tính tình, tính cách, tài năng, ý nghĩa của nhân vật, sự
ảnh hưởng của nhân vật trong tiến trình phát triển của truyện. Lời giới thiệu cũng bao
gồm cả sự bày tỏ thá
i độ khen chê của người viết. Ví dụ, lời giới thiệu nhân vật trong
truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh [31, tr.45] :
Hùng Vương thứ mười tám có một người con gái tên là Mị Nương,
người đẹp như hoa, tính nết hiền dịu. Vua cha yêu thương nàng hết mực, muốn
kén cho con một người chồng thật xứng đáng.
Một hôm
có hai chàng trai đến cầu hôn. Một người ở vùng núi Tản Viên
có tài lạ : vẫy tay về phía đông, phía đông nổi cồn bãi ; vẫy tay về phía tây,
phía tây mọc lên từng dãy núi đồi. Người ta gọi chàng là Sơn Tinh. Một người
ở miền biển, tài năng cũng không kém : gọi gió, gió đến ; hô mưa, mưa về.
Người ta gọi chàng là Thủy Tinh. Một người là chúa vùng non cao, một người
là chúa vùng nước thẳm,
cả hai đều xứng đáng làm rể vua Hùng.
Hai đoạn văn trên giới thiệu về vua Hùng và Sơn Tinh, Thủy Tinh. Cách giới
thiệu đầy đủ, cô đọng :
- Lời văn kể việc
Ngoài giới thiệu nhân vật, văn tự sự còn kể việc. Thông thường, trong lời kể có
lời dẫn dắt cốt truyện, giới thiệu thời gian, không gian, lời kể về sự kiện diễn ra trong
truyện.
Khi kể việc thì kể các hành động, việc làm của nhân vật, những thay đổi do các
hành động ấy đem
lại cũng như kết quả của hành động, câu chuyện. Lời văn kể việc
thường là lời thông báo, thuyết minh về sự việc. Yếu tố kể sự việc bao gồm thứ tự,
quan hệ của hành động, sự việc và cách dùng động từ. Lời văn kể việc trong t
ruyện
Thánh Gióng[47, tr.20] :
Giặc đã đến chân núi Trâu. Thế nước rất nguy, người người hoảng hốt.
Vừa lúc đó, sứ giả đem ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt đến. Chú bé vùng dậy,
vươn vai một cái bỗng biến thành một tráng sĩ mình cao hơn trượng, oai
phong, lẫm liệt. Tráng sĩ bước lên vỗ vào mông ngựa. Ngựa hí dài mấy tiếng
vang dội. Tráng sĩ mặc áo giáp, cầm roi, nhảy lên m
ình ngựa. Ngựa phun lửa,
tráng sĩ thúc ngựa phi thẳng đến nơi có giặc, đón đầu chúng đánh giết hết lớp
này đến lớp khác, giặc chết như rạ. Bỗng roi sắt gãy. Tráng sĩ bèn nhổ những
cụm tre cạnh đường quật vào giặc. Giặc tan vỡ. Đám tàn quân giẫm đạp lên
nhau chạy trốn, tráng sĩ đuổi đến chân núi Sóc (Sóc Sơn). Đến đấy, một mình
một ngựa, tráng sĩ lê
n đỉnh núi, cởi giáp sắt bỏ lại, rồi cả người lẫn ngựa từ từ
bay lên trời.
▪
Các sự việc được kể tuần tự :
Sự việc 1 : Giặc đã đến chân núi Trâu, thế nước nguy cấp. (Câu 1, 2)
điều xấu. Đó là
sự thất vọng và sụp đổ niềm tin vào con người của ông giáo. Lời văn thể hiện tình
cảm của ông giáo cũng như lời bình luận, đánh giá về lão Hạc và cuộc đời.
Về hình thức ngữ pháp, câu sử dụng trong VBTS cũng rất đa dạng. Các câu
đơn, câu ghép, câu phức, câu rút gọn, câu đặc biệt,… đều được sử dụng. Đoạn trích
mở đầu truyện Những ngôi sao xa xôi – Lê Minh Khuê ở SGK Ngữ văn 9 tập 2 :
Chúng tôi có ba người. Ba cô gái. Chúng tôi ở trong một hang dưới chân
cao điểm. Con đường qua trước hang, kéo lên đồi, đi đến đâu đó, xa ! Đường
bị đánh lỡ loét, màu đất đỏ, trắng lẫn lộn.
Hai bên đường không có lá xanh. Chỉ
có những thân cây bị tước khô cháy. Những cây nhiều rễ nằm lăn lóc. Những
tảng đá to. Một vài cái thùng xăng hoặc thành ô tô méo mó, han gỉ nằm trong
đất.
Trong đoạn văn, tác giả đã dùng nhiều câu đơn, có dùng một số câu đặc biệt
nhằm miêu tả cảnh chiến trường bị bom cày xới ác liệt. Nhiều câu ngắn nhưng không
gây cảm giác nhàm chán cho người đọc vì phù hợp với không khí khẩn trương trên
chiến trường.
1.3.2. Đoạn văn tự sự :
Những vấn đề về đoạn văn trong ngữ pháp văn bản đã được giải quyết tương
đối thỏa đáng. Trong chương trình giáo dục phổ t
hông môn Ngữ văn [9, tr.9], kiến
thức đoạn văn được quy định giảng dạy từ lớp 2 cho đến lớp 12 – nghĩa là xuyên suốt
trong các cấp lớp. Khái niệm về đoạn văn trong chương trình THCS được quan niệm
như sau :
Đoạn văn là đơn vị trực tiếp tạo nên văn bản, bắt đầu từ chữ viết hoa lùi
đầu dòng, kết thúc bằng dấu chấm x
uống dòng và thường biểu đạt một ý tương
đối hoàn chỉnh. Đoạn văn có thể do một hoặc nhiều câu tạo thành.