ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN LƢU THỊ HẢI YẾN
CẢM HỨNG LỊCH SỬ TRONG TÁC PHẨM
"BÁU VẬT CỦA ĐỜI" CỦA MẠC NGÔN LUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành: Châu Á học
Hà Nội - 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn với đề tài: “Cảm hứng lịch sử trong tác
phẩm Báu vật của đời của Mạc Ngôn” không chỉ là công sức của riêng
tôi, ngoài sự cố gắng, nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận đƣợc sự giúp đỡ
của các thầy cô giáo trong khoa Đông Phƣơng, Trƣờng Đại học KHXH &
NV, Đại học Quốc gia Hà Nội, lớp Cao học (Khóa 2010 – 2013) cùng gia
đình, bạn bè đã nhiệt tình giúp đỡ, động viên, khích lệ, tạo mọi điều kiện
giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc
tới thầy PGS. TS Lê Huy Tiêu – ngƣời đã nhiệt tình chỉ bảo và hƣớng dẫn
trong suốt quá trình thực hiện để tôi hoàn thành luận văn của mình.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhƣng luận văn của tôi sẽ không tránh
khỏi những thiếu sót, rất mong đƣợc sự chỉ bảo và đóng góp ý kiến của
các thầy cô giáo và các bạn.
Hà Nội, tháng 12/2013
Học viên Lưu Thị Hải Yến Nhà văn Mạc Ngôn trên trang chủ website Đại học Văn học mạng.
1.2.1. Bề dày lịch sử của đất nước Trung Quốc 12
1.2.2. Dấu ấn đậm nét của cảm hứng lịch sử trong văn học Trung Quốc 15
1.3. Khái quát về cảm hứng lịch sử trong những sáng tác của Mạc Ngôn 19
1.3.1. Vài nét về nhà văn Mạc Ngôn 19
1.3.2. Cảm hứng lịch sử xuyên suốt trong các tác phẩm của Mạc Ngôn 20
CHƢƠNG 2 : NHỮNG BIỂU HIỆN CẢM HỨNG LỊCH SỬ TRONG BÁU
VẬT CỦA ĐỜI CỦA MẠC NGÔN 24
2.1. Cảm hứng lịch sử đƣợc thể hiện qua số phận của quê hƣơng Cao Mật 24
2.1.1. Một quê hương Cao Mật đau thương mà hào hùng trong cuộc chiến
chống giặc ngoại xâm 24
2.1.2. Một quê hương Cao Mật đau thương trong cuộc nội chiến Quốc – Cộng 30
2.1.3. Một quê hương Cao Mật đau thương trong những sai lầm của Đảng
cộng sản 33
2.1.4. Một quê hương Cao Mật bước vào nền kinh tế thị trường 39
2.2. Cảm hứng lịch sử đƣợc thể hiện qua số phận của gia đình Thƣợng Quan 41
2.2.1 Hình tượng Lỗ Thị - hiện thân tiêu biểu của lịch sử Trung Quốc suốt thế
kỷ XX 41
2.2.2. Hình tượng những cô con gái của gia đình Thượng Quan 53
CHƢƠNG 3 : MỘT SỐ PHƢƠNG THỨC NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN CẢM
HỨNG LỊCH SỬ TRONG BÁU VẬT CỦA ĐỜI CỦA MẠC NGÔN 73
3.1. Yếu tố kì ảo 73
3.1.1. Khái niệm yếu tố kì ảo 73
3.1.2. Khái quát về yếu tố kì ảo trong văn học Trung Quốc 74
3.1.3. Yếu tố kì ảo – công cụ giúp Mạc Ngôn biểu hiện cảm hứng lịch sử 76
3.2. Kết cấu lắp ghép – lịch sử đƣợc nhìn qua một lăng kính mới 85
3.2.1. Khái niệm kết cấu lắp ghép 85
3.2.2. Sự biểu hiện cảm hứng lịch sử qua kết cấu lắp ghép 87
3.3. Nghệ thuật trần thuật đa thanh tái hiện lịch sử một cách toàn diện, sâu sắc 91
3.3.1. Sự đa bậc của người kể chuyện và sự di động điểm nhìn 91
3.3.2. Ngôn ngữ trần thuật đa sắc, độc đáo 95
hiện thực bề sâu của lịch sử hiện đại nƣớc ông. Bằng cái nhìn nghệ thuật – lịch sử
tỉnh táo và sắc sảo, Mạc Ngôn không nƣơng nhẹ và xuê xoa quá khứ mà dám nói
thẳng, nói thật. Mạc Ngôn đem cuộc sống và hiện thực lịch sử phơi bày trần trụi
trên từng trang giấy. Máu thịt, mồ hôi, nƣớc mắt và những trăn trở của con ngƣời
lần lƣợt đƣợc phác hoạ rõ nét dƣới ngòi bút tác giả. Và những gì ông viết ra đã đƣợc
độc giả chấp nhận, đón nhận. Có thể nói, Mạc Ngôn giữ một vai trò, vị trí không
2
nhỏ trong bức tranh văn học Trung Quốc đƣơng đại. Gần đây, với giải Nô-ben văn
học 2012, Mạc Ngôn càng khẳng định rõ hơn vai trò to lớn của mình đối với nền
văn học của đất nƣớc đông dân nhất thế giới này.
1.3. Trong sự nghiệp sáng tác đồ sộ của Mạc Ngôn, tiểu thuyết Báu vật của
đời (nguyên tác: Phong nhũ phì đồn) có một vị trí rất quan trọng, nói theo lời của
ông thì đó là “viên đá nặng nhất trong lâu đài văn học của tôi, một khi viên đá ấy rút
ra thì toà lâu đài sẽ sụp đổ” [49, tr.146]. Ông cũng không ngần ngại khẳng định với
độc giả rằng : “Bạn có thể không đọc tất cả những cuốn sách khác của tôi, nhƣng
không thể không đọc cuốn Báu vật của đời” [ 49, tr.122]. Đƣợc xuất bản ở Trung
Quốc vào tháng 9 – 1995 và ngay trong năm, tác phẩm đã đƣợc trao giải thƣởng cao
nhất về truyện, nhanh chóng trở thành hiện tƣợng best-seller. Báu vật của đời đã
khái quát cả một giai đoạn lịch sử hiện đại đầy bi tráng của đất nƣớc Trung Hoa
thông qua số phận của các thế hệ trong gia đình Thƣợng Quan. Từ những số phận
cụ thể và khác nhau, lịch sử đƣợc tiếp cận dƣới nhiều góc độ, nhiều khía cạnh hiện
lên thật chân thực và toàn diện, góp phần tạo nên sức sống, sức thuyết phục cho tác
phẩm. Trong danh sách “10 cuốn sách hay nhất về Trung Quốc” do nhà báo Paul
Mason (Guardian) lập ra hồi tháng 2/2012, “tiểu thuyết Báu vật của đời của Mạc
Ngôn đƣợc xếp thứ 2, chỉ sau truyện vừa kinh điển AQ chính truyện của văn hào Lỗ
Tấn” (44). Điều đó chứng tỏ Báu vật của đời của Mạc Ngôn không chỉ giữ vị trí
quan trọng đối với sự nghiệp sáng tác của Mạc Ngôn mà còn đối với cả nền văn học
Trung Quốc.
1.4. Khảo sát việc nghiên cứu, giới thiệu văn học Trung Quốc ở Việt Nam là
thì toà lâu đài sẽ sụp đổ” [ 49, tr 146].
Trong cuốn Bình luận tác giả đương đại Trung Quốc《当代作家评论》kỳ 6,
tác giả Trình Quang Vỹ có nói: “Hơn 20 năm nay trên diễn đàn văn học Trung
Quốc, các bài bình luận về Mạc Ngôn nhiều không kể xiết”. Theo thống kê trong
phụ lục Tư liệu nghiên cứu Mạc Ngôn do Dƣơng Dƣơng biên soạn, số lƣợng bài
viết về Mạc Ngôn có khoảng hơn 350 bài. Con số trên chƣa bao gồm các bài báo
mang tính chất địa phƣơng, các trang mạng, các bài viết trong các trƣờng đại học.
4
Nói nhƣ thế để thấy tình hình nghiên cứu về Mạc Ngôn chƣa bao giờ có dấu hiệu
giảm bớt độ “nóng”. Ngày 12/08/2006, “Hội nghiên cứu Mạc Ngôn Cao Mật” đƣợc
thành lập với mục đích chuyên nghiên cứu về các tác phẩm của ông. “Bảo tàng văn
học Mạc Ngôn”, Website “Cao lƣơng đỏ” là những diễn đàn chuyên bình luận, đi
sâu tìm hiểu về “nhân vật khai phá của thế kỷ XXI”. Bên cạnh đó, các công trình
nghiên cứu luận văn thạc sĩ, nghiên cứu sinh về Báu vật của đời nhiều không kể xiết.
Phần lớn các công trình nghiên cứu đều tập trung vào nghệ thuật “tự sự”, “tính chất
dân gian”, “tính nữ” của tác phẩm nhƣ: tác giả Trương Ái Bình: Nghiên cứu về
ngôn ngữ trong tiểu thuyết Mạc Ngôn(作者张爱萍: 莫言小说语言研究), tác
giả Tống Khiết: Từ Báu vật của đời đến “thiếu nữ mộng mơ” (作者宋洁: 从“丰乳
肥臀”到“梦幻少女) , tác giả Hàn Hiện Quảng: Bàn về điểm nhìn trẻ thơ trong tiểu
thuyết Mạc Ngôn (作者韩现广: 论莫言小说创作中儿童视角) … Tuy nhiên, có
thể thấy, cảm hứng lịch sử và giá trị lịch sử trong tác phẩm Báu vật của đời chỉ
đƣợc các tác giả nhắc đến rải rác trong các công trình nghiên cứu.
2.2. Tình hình nghiên cứu về “Báu vật của đời” và cảm hứng lịch sử trong
“Báu vật của đời” tại Việt Nam
Nói chung, Báu vật của đời là tác phẩm văn học cho đến nay vẫn còn nhiều
tranh cãi về giá trị tác phẩm. Chính vì thế, xoay quanh tác phẩm này, các nhà
nghiên cứu Việt Nam cũng dựa trên nhiều góc độ để đƣa ra những quan điểm,
những nhận xét riêng của mình.
PGS. TS Lê Huy Tiêu là nhà nghiên cứu đã có khá nhiều bài viết về Mạc
nhau ở tình yêu nƣớc và trách nhiệm của một ngƣời cầm bút.
Một số tác giả nghiên cứu nhƣ Vƣơng Trí Nhàn, Lê Huy Tiêu, Trần Trung
Hỷ lại dựa vào Báu vật của đời để tìm ra sự sáng tạo của Mạc Ngôn trong việc đƣa
hơi thở hiện đại vào đề tài lịch sử. Còn trong Tiểu luận Một số vấn đề văn học
Trung Quốc đương đại (2007), PGS.TS Hồ Sĩ Hiệp cũng đã điểm qua những nét
đặc sắc của Mạc Ngôn thông qua những tác phẩm đã đƣợc dịch. Năm 2012 Mạc
Ngôn đƣợc giải Nobel văn học, rất nhiều nhà văn nhƣ Trần Đăng Khoa, Võ Thị
Hảo có các bài viết xoay quanh vấn đề này.
Ngoài ra, phải kể đến rất nhiều những luận văn tiến sĩ, thạc sĩ, khoá luận tốt
nghiệp của sinh viên, học viên và nghiên cứu sinh cũng lấy Mạc Ngôn làm đề tài
6
nghiên cứu của mình. Có thể kể ra đây một vài những công trình tiêu biểu nhƣ: luận
án tiến sĩ Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn của tác giả Nguyễn Thị
Tịnh Thy, Viện Khoa học xã hội Việt Nam - Học viện Khoa học xã hội, 2010; luận
văn thạc sĩ Yếu tố kì ảo trong "Báu vật của đời" của Mạc Ngôn của tác giả Nguyễn
Thị Khánh Linh, Đại học Sƣ phạm Hà Nội, 2007; luận văn tốt nghiệp Huyền thoại
hoá trong tiểu thuyết “Báu vật của đời” của tác giả Lê Vũ Phƣơng Thuỷ, Đại học
Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội… Các công trình nghiên
cứu trên chủ yếu tập trung vào hai khía cạnh khá nổi bật trong các sáng tác của Mạc
Ngôn, đó là nghệ thuật tự sự và yếu tố kì ảo. Tác giả Nguyễn Thị Tịnh Thy chỉ ra
nghệ thuật tự sự của Mạc Ngôn một cách đầy đủ và công phu qua việc khảo sát các
khía cạnh nhƣ ngƣời kể chuyện và điểm nhìn tự sự, nghệ thuật tổ chức không gian,
thời gian và kết cấu tự sự, nghệ thuật kiến tạo ngôn ngữ và giọng điệu tự sự.
Nguyễn Thị Khánh Linh thì chỉ ra biểu hiện của yếu tố kì ảo trong Báu vật của đời
thông qua các khía cạnh: nhân vật, sự kiện và tổ chức nghệ thuật tác phẩm. Còn
sinh viên Lê Vũ Phƣơng Thuỷ trong khoá luận của mình lại khai thác một số yếu tố
mang tính huyền thoại hoá trong tác phẩm nhƣ: Kim Đồng và mô hình đứa trẻ
huyền thoại, Huyền thoại hoá trong một số nhân vật đàn ông, Bầu vú của ngƣời phụ
nữ và biểu tƣợng về ngƣời mẹ vĩnh cữu… Mỗi tác giả một hƣớng nghiên cứu khác
văn, H.2005.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn, chúng tôi sử dụng phối hợp các phƣơng pháp nghiên
cứu sau :
- Phƣơng pháp thống kê, khảo sát: Chúng tôi sử dụng phƣơng pháp này
để khảo sát, thống kê, phân loại những chi tiết lịch sử trong Báu vật của đời, tạo cơ
sở cho việc phân tích, khám phá tác phẩm.
- Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp: Trên cơ sở những dữ liệu đã thống kê
từ văn bản, chúng tôi đi sâu phân tích, lý giải, làm rõ vai trò của cảm hứng lịch sử
trong Báu vật của đời.
- Phƣơng pháp so sánh, đối chiếu: Trong quá trình phân tích, chúng tôi đặt
Báu vật của đời trong tƣơng quan so sánh với một số tác phẩm khác của Mạc Ngôn
8
và một số tác phẩm của các tác giả khác cũng có cảm hứng lịch sử để tìm ra những
điểm tƣơng đồng, khác biệt trong cảm hứng lịch sử đƣợc thể hiện ở các tác phẩm.
- Ngoài các phƣơng pháp trên, chúng tôi còn vận dụng một số phƣơng
pháp khác nhƣ phƣơng pháp tiếp cận văn hoá – lịch sử, phƣơng pháp thi pháp học,
phƣơng pháp nghiên cứu liên ngành… để tìm hiểu và nghiên cứu đề tài.
5. Đóng góp của luận văn
So với các công trình nghiên cứu khác về Mạc Ngôn và tiểu thuyết Báu vật
của đời, đây là công trình đầu tiên đề cập đến vấn đề cảm hứng lịch sử trong tiểu
thuyết Báu vật của đời của Mạc Ngôn một cách toàn diện và hệ thống. Từ những
nét khái quát về cảm hứng lịch sử trong văn học Trung Quốc nói chung và trong tác
phẩm của Mạc Ngôn nói riêng, luận văn sẽ chỉ ra những biểu hiện cụ thể của cảm
hứng lịch sử đƣợc Mạc Ngôn thể hiện trong Báu vật của đời nhƣ : đề tài, chủ đề,
nhân vật…đồng thời chỉ ra những phƣơng diện nghệ thuật biểu hiện cảm hứng lịch
sử ấy.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phần tài liệu tham khảo, nội dung luận
trình bày trong từ điển nhƣ trên, có thể thấy bản chất của cảm hứng là thái độ đặc
biệt của cá nhân đối với đối tƣợng nào đó vừa có ý nghĩa trong đời sống vừa có khả
năng mang lại khoái cảm. Tức là, để tạo đƣợc cảm hứng, ngoài yếu tố nhận thức,
đối tƣợng phải có khả năng hấp dẫn, tạo ra những khoái cảm, hứng thú, lôi cuốn
tình cảm con ngƣời về phía nó, tạo ra tâm lí khát khao tiếp cận và đi sâu tìm hiểu,
chinh phục nó. Điều đáng nói hơn là cảm hứng có một vai trò rất quan trọng đối với
đời sống của con ngƣời. Trƣớc hết, cảm hứng làm tăng hiệu quả của hoạt động nhận
thức và hoạt động trí tuệ. Khi có cảm hứng đối với một đối tƣợng nào đó, con ngƣời
10
dồn sự tập trung cao độ của nhận thức, tình cảm vào đối tƣợng khiến quá trình này
trở nên nhạy bén và sâu sắc. Cuối cùng, cảm hứng làm nảy sinh khát vọng hành
động và tạo điều kiện thúc đẩy con ngƣời sáng tạo. Nhờ vậy, khi có cảm hứng, con
ngƣời có thể phát huy một cách tối đa khả năng sáng tạo và hoạt động của mình.
Từ vai trò, động lực của cảm hứng đối với hoạt động sáng tạo của con ngƣời,
soi vào văn học, lĩnh vực sản xuất tinh thần theo phƣơng thức “cá thể”, chúng ta có
thể thấy cảm hứng là trạng thái tâm lí then chốt và bao trùm trong sáng tác của nhà
văn. Cảm hứng đƣợc biểu hiện rõ nhất khi nhà văn bắt đầu viết, nhƣng có thể bàng
bạc xuyên suốt quá trình sáng tác. Khác với thành phẩm của tất cả các ngành lao
động khác, thành phẩm của văn học nghệ thuật chứa đựng tình cảm chủ quan của
chủ thể sáng tạo, cho nên cảm hứng sáng tạo của ngƣời nghệ sĩ thƣờng rất mãnh liệt.
Nguyễn Quýnh đã khẳng định: “Ngƣời làm thơ không thể không có hứng, cũng nhƣ
tạo hoá không thể không có gió vậy… Tâm ngƣời ta nhƣ chuông nhƣ trống, hứng
nhƣ chày và dùi. Hai thứ đó gõ, đánh vào chuông trống khiến chúng phát ra tiếng,
hứng đến khiến ngƣời ta bật ra thơ, cũng tƣơng tự nhƣ vậy”[ 43, tr. 210]. Có thể
khẳng định, sáng tác văn học nghệ thuật không thể không có cảm hứng. Viết văn là
gan ruột, tâm huyết, chỉ bộc lộ những gì đã thật sự tràn đầy trong lòng, không thể
cho ra những sản phẩm của một tâm hồn bằng lặng, vô vị, miễn cƣỡng. Khi có cảm
hứng, sự căng thẳng của lí trí, cảm xúc, sự mãnh liệt của cảm xúc kết hợp dồi dào
với nhau làm cháy bùng lên ngọn lửa trong tƣ duy nghệ thuật của nhà văn, dẫn dắt
định, thống nhất tất cả các cấp độ và yếu tố của nội dung tác phẩm. Đây là cái mức
thăng hoa cảm xúc mà nhờ đó ngƣời nghệ sĩ khẳng định các nguyên tắc thế giới
quan của mình trong tác phẩm. Cảm hứng chủ đạo trong tác phẩm cụ thể là một
hiện tƣợng độc đáo, không lặp lại, gắn với tình cảm của tác giả.
1.1.2. Khái niệm cảm hứng lịch sử
Từ khái niệm cảm hứng và cảm hứng chủ đạo đã trình bày trên, chúng ta có
thể hiểu cảm hứng lịch sử là cảm hứng sáng tác đƣợc phát sinh từ cảm quan về hiện
thực lịch sử. Trong đó, nhà văn lấy lịch sử làm đề tài, chất liệu để tạo ra thế giới
hình tƣợng, xác lập cho mình một điểm nhìn trong quá khứ, tạo ra giọng điệu tác
phẩm phù hợp với điểm thời gian mà nó tái hiện. Các sự kiện đã từng xảy ra, đã
12
từng tồn tại và phát triển có ảnh hƣởng đến vận mệnh của quốc gia, dân tộc tạo nên
một trạng thái cảm xúc hƣng phấn thúc đẩy các nhà văn phát huy trí tƣởng tƣợng,
óc sáng tạo để viết nên những tác phẩm. Trong những tác phẩm ấy, lịch sử đƣợc
nhìn nhận, đánh giá và tiếp cận theo một hƣớng hoàn toàn mới.
Ở các loại hình tiểu thuyết khác, trong quá trình sáng tạo, nhà văn có thể tái
hiện một hiện thực hoàn toàn hƣ cấu nhƣng đối với tiểu thuyết lịch sử, một thể loại
viết về những nhân vật, những sự kiện có thật trong lịch sử thì yếu tố chân thực đòi
hỏi chiếm một phần quan trọng trong tác phẩm bên cạnh sự hƣ cấu, sáng tạo. Nhƣ
vậy có nghĩa là sự sáng tạo phải đƣợc thực hiện dựa trên cơ sở sử liệu xác thực
trong lịch sử, khi xây dựng hình tƣợng nghệ thuật tác giả phải tôn trọng lời ăn tiếng
nói, trang phục, tập quán, phù hợp với giai đoạn lịch sử ấy. Tác phẩm văn học lịch
sử thƣờng mƣợn chuyện xƣa nói chuyện đời nay, hấp thu những bài học của quá
khứ, bày tỏ sự đồng cảm với những con ngƣời và thời đại đã qua song không vì thế
mà hiện đại hoá ngƣời xƣa, phá vỡ tính chân thực lịch sử của thể loại này. Đặc điểm
này đòi hỏi khi chọn cho mình đề tài lịch sử là cảm hứng sáng tác thì các nhà văn
không chỉ cần đến khả năng tƣợng tƣợng, vốn ngôn ngữ, óc sáng tạo mà còn phải
thực sự am hiểu và say mê đối với những dữ liệu lịch sử khô khan, những hiện thực
đã hoá thạch, tìm ra sợi dây liên hệ giữa hôm qua và hôm nay. Nhiệm vụ đặt ra cho
đƣợc đế quốc rất rộng và tạo đƣợc một nền văn minh rực rỡ. Cuối đời nhà Hán, sự
tan rã lại xảy ra, Trung Quốc lại chìm trong loạn lạc thời Tam Quốc và Lục Triều
(cũng gọi là Nam Bắc Triều). Tuy nhiên, khác với đế quốc Hi Lạp, La Mã ở châu
Âu, đế quốc Trung Hoa không tan vỡ hoàn toàn mà đến năm 580 đƣợc thống nhất
lại dƣới đời Tuỳ. Nhƣng sau đó, nhà Tuỳ nhanh chóng sụp đổ. Một lần nữa, Trung
Hoa lại rơi vào thời kỳ loạn lạc. Bởi vậy chỉ nên coi nhà Tuỳ là một giao thời,
chuẩn bị cho thời thống nhất thực sự ở đời Đƣờng, cũng nhƣ nhà Tần đã chuẩn bị
cho nhà Hán. Quả là một sự trùng hợp ngẫu nhiên sau 8 thế kỉ. Trong các triều đại,
nhà Đƣờng đạt đƣợc rất nhiều thành tựu rực rỡ. Nhờ có lực lƣợng quân đội hùng
mạnh và các cuộc chinh chiến quân sự, lãnh thổ của nhà Đƣờng rất rộng lớn, lúc
cực thịnh đạt gấp rƣỡi lãnh thổ của nhà Hán. Các lĩnh vực khác nhƣ kinh tế, chính
trị, văn hoá nghệ thuật, xã hội… đều đạt tới đỉnh cao. Sau khi nhà Đƣờng sụp đổ,
14
Trung Quốc bƣớc vào thời kỳ Ngũ Đại Thập Quốc, một giai đoạn đầy biến động từ
năm 907 – 960/979 trong lịch sử Trung Quốc. Nhà Tống đã có công trong việc
thống nhất Trung Quốc thời kỳ này và cai trị Trung Quốc từ năm 960 đến 1279.
Nhà Tống đạt đƣợc những thành tựu nhƣ: là nhà nƣớc đầu tiên trên thế giới phát
hành ra tiền giấy, sử dụng thuốc súng, cũng nhƣ nhận thức về cách sử dụng la bàn.
Nhà Tống cuối cùng bị rơi vào tay quân xâm lƣợc Mông Cổ năm 1279. Đại
hãn Mông Cổ là Hốt Tất Liệt lập ra nhà Nguyên và bắt đầu một nƣớc Trung Quốc
Mông Cổ. Vào thời điểm đó, đế chế Mông Cổ là đế chế lớn nhất thế giới. Ngƣời
Mông Cổ hầu hết giành đƣợc chiến thắng trong mọi cuộc chinh phục. Vó ngựa
Mông Cổ đi đến đâu thì cỏ không mọc đƣợc, đến đâu thì bình địa đến đó, máu chảy
đầu rơi, xơ xác. Về sau, một thủ lĩnh nông dân là Chu Nguyên Chƣơng đánh đuổi
chính quyền ngƣời Mông Cổ năm 1368 và lập ra nhà Minh. Trong thơ
̀
i nha
̀
Mi nh,
là nhà nƣớc kế tục của Trung Hoa Dân Quốc trên Quảng trƣờng Thiên An Môn.
Thời kỳ hiện đại bắt đầu từ sau sự kiện này, chính quyền Trung Hoa Dân Quốc do
Tƣởng Giới Thạch lãnh đạo phải rút ra đảo Đài Loan. Còn về phía Đảng Cộng sản
Trung Quốc, khi đã nắm đƣợc đại lục Trung Quốc bắt đầu thực hiện những chính
sách xây dựng, phát triển đất nƣớc. Tuy nhiên vào thời kỳ đầu, Đảng Cộng Sản
Trung Quốc đã mắc phải một số sai lầm. Các sự kiện nhƣ Cải cách ruộng đất, Đại
nhảy vọt, Cách mạng Văn hoá đã gây thiệt hại nặng nề cho nền kinh tế, đồng thời
phá hoại nghiêm trọng di sản văn hoá Trung Hoa. Nhanh chóng nhận thức và sửa
chữa sai lầm, Đảng cộng sản đã tiến hành đổi mới. Từ khi tiến hành đổi mới kinh tế
năm 1978, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đã trở thành một trong những nền kinh tế
phát triển nhanh trên thế giới.
Thật khó để có thể tóm tắt toàn bộ lịch sử Trung Quốc trong một vài trang
ngắn gọn. Trên đây chỉ là một vài nét rất sơ lƣợc về lịch sử Trung Quốc. Có thể
thấy lịch sử Trung Quốc đã trải qua rất nhiều thăng trầm với rất nhiều biến động.
Hiếm có một nƣớc nào lại có dòng chảy lịch sử dài với bao nhiên sóng gió, bão táp
đến nhƣ vậy. Đối với bất kỳ một quốc gia nào, lịch sử cũng đóng vai trò rất quan
trọng và đối với Trung Quốc thì vai trò quan trọng của lịch sử còn tăng lên gấp bội
phần. Chính những trang sử vô cùng giàu có, phong phú ấy đã khơi nguồn cảm
hứng vô tận cho rất nhiều những tác phẩm nghệ thuật. Từ âm nhạc, hội hoạ, văn học
đến điện ảnh… đều lấy lịch sử làm đề tài, cơ sở. Đề tài lịch sử chƣa bao giờ cũ,
chƣa bao giờ vơi cạn. Qua đó, lịch sử đƣợc nhìn nhận, đánh giá dƣới đầy đủ mọi
góc cạnh, mọi phƣơng diện.
1.2.2. Dấu ấn đậm nét của cảm hứng lịch sử trong văn học Trung Quốc
Trong lịch sử, tình trạng văn – sử - triết bất phân là một hiện tƣợng mang
tính đặc thù của thế giới. Điều này có thể thấy rõ hơn trong nền văn hoá của phƣơng
Đông. Mối quan hệ này đƣợc thể hiện ở chỗ bóng dáng lịch sử luôn tồn tại trong
nhiều thể loại văn học. Đồng thời, tính văn học cũng có mặt trong các cuốn sử ký
của các nhà chép sử. Từ điển thuật ngữ văn học có nhắc đến thể loại văn học lịch
sử. Đó là “lĩnh vực văn học bao gồm các thể loại văn học khác nhau cùng viết đề tài
lịch sử” [ 22, tr.301].
17
chuyện xưa, sắp đặt lại các chuyện trong đời chứ có sáng tác đâu” (thiên Tam đại
thế biểu), song ẩn đằng sau câu chữ, ngƣời đọc nhận thấy một tâm hồn, tâm sự đau
xót của nhà thơ. Xuất phát từ lập trƣờng tiến bộ, Sử ký lên án sự tàn bạo của tầng
lớp thống trị (Tần Thuỷ Hoàng, Lƣu Bang và Vũ Đế), ca ngợi những nhà thơ yêu
nƣớc nhƣ Khuất Nguyên, đề cao các dũng sĩ khởi xƣớng khởi nghĩa nông dân đầu
tiên trong lịch sử Trung Quốc nhƣ Trần Thiệp. Tác phẩm xứng đáng là “một tập Ly
tao không vần” nhƣ lời đánh giá của Lỗ Tấn.
Sau đó, tiểu thuyết lịch sử Trung Quốc chính thức xuất hiện vào đời Nguyên
- Minh (thế kỷ XIV-XVI) với những bộ tiểu thuyết chƣơng hồi cỡ lớn nhƣ Tam
quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, Đông Chu liệt quốc của Phùng Mộng
Long, Thuỷ hử truyện của Thi Nại Am…
Tác phẩm Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung kể về thời kỳ hỗn loạn
trong ngót gần một thế kỷ (220 - 280), thời loạn lạc từ cuối đời Hán đến khi chia
làm ba nƣớc và cuối cùng thì nhà Tấn thống nhất lại, theo phƣơng pháp bảy thực ba
hư. Mặc dù một số tình tiết trong Tam quốc diễn nghĩa có khác với sự thật lịch sử
song về cơ bản, tiểu thuyết đƣợc xây dựng trên cơ sở chân thực của lịch sử. Đứng
trên quan điểm “ủng Lƣu phản Tào”, La Quán Trung ca ngợi Lƣu Bị, Quan Vũ,
Trƣơng Phi, Gia Cát Lƣợng và lên án Đổng Trác, Tào Tháo…, qua đó thể hiện sự
bất mãn của ông đối với hiện thực xấu xa và lí tƣởng mà ông theo đuổi. Bằng con
mắt sắc sảo, La Quán Trung đã vạch trần và miêu tả cái xã hội “dân đen chết đói nơi
thôn xóm, anh tài mai một nơi rừng sâu, ngƣời trung lƣơng chết oan dƣới gƣơm
giáo…”. Những cảnh mƣu quyền, chèn ép về chính trị, những cảnh chiến tranh dồn
dập, cảnh xã hội loạn lạc làm cho đời sống của nhân dân cực khổ, ly tán. Tác giả đã
thể hiện một cách khéo léo các sự kiện trọng đại của lịch sử bằng hình tƣợng nghệ
thuật.
Thủy hử truyện (Thi Nại Am) lại phản ánh cuộc đấu tranh giai cấp của nông
dân, khởi nghĩa nông dân và chiến tranh nông dân trong xã hội phong kiến một cách
chân thực, sinh động và đầy đủ. Những tên tham quan ô lại xấu xa nhƣ Cao Cầu,