THÂN PHẬN THIÊN SỨ TRONG TÁC PHẨM CÙNG TÊN CỦA PHẠM THỊ HOÀI - Pdf 27

THÂN PHẬN THIÊN SỨ TRONG TÁC PHẨM CÙNG TÊN CỦA PHẠM THỊ HOÀI
Thế Thị Thùy Dương
Khoa Ngữ Văn – Đại học Sư phạm Huế
Tôi vẫn thường tâm niệm rằng các nghệ sĩ, đặc biệt là những nhà văn là những người
may mắn (theo một cách nào đó) vì luôn nhạy cảm nhận ra được sứ mệnh của mình, điều còn
lại là có đủ kiên nhẫn và dũng cảm theo đuổi nó hay không?
Phạm Thị Hoài có sứ mạng trở thành một nhà văn, một người đổi gió cho văn học. Nhà
văn ngay từ những sáng tác ban đầu đã thể hiện là một cây bút cá tính mạnh mẽ, luôn có ý thức
cách tân văn học một cách triệt để và quyết liệt.
Thiên sứ là tiểu thuyết đầu tay của nhà văn, ngay từ buổi đầu mới ra đời đã tạo sóng
gió. Cũng giống như các tác phẩm gây hấn khác như Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Ăn
mày dĩ vãng của Chu Lai, Bến không chồng của Dương Hướng, Tướng về hưu của Nguyễn
Huy Thiệp … Thiên sứ đã khuấy động văn đàn. Những dư luận trái chiều xuất hiện trong một
khoảng thời gian dài. Và càng về sau, những ý kiến, nhận định đều gần như thống nhất, khẳng
định đây là một trong những tiểu thuyết có giá trị của văn học hiện đại sau 75, thể hiện một lối
văn mở đường cho một khuynh hướng tiểu thuyết trong văn học mới.
Thiên sứ được dịch sang tiếng Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Ý, Đức và Phần Lan. Năm
1993, bản dịch Thiên sứ bằng tiếng Đức đã đoạt giải “Tiểu thuyết nước ngoài hay nhất” của
tổ chức Frankfurt Literaturpreis trao tặng hàng năm cho tiểu thuyết xuất bản tại Đức. Riêng bản
dịch tiếng Anh thì đoạt giải Dinny O'Hearn cho thể loại văn học dịch vào năm 2000. Những
đánh giá trong và ngoài nước đã cho thấy Thiên sứ là một tác phẩm có giá trị lớn, một bước
tiến của tiểu thuyết Việt Nam trên con đường giao lưu, tiếp biến với văn học thế giới.
Hiện nay đã có nhiều những công trình nghiên cứu, những bài viết tiếp cận tác phẩm
này từ nhiều khía cạnh khác khau. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi chỉ bàn về nhân vật
thiên sứ trong tác phẩm qua đó lí giải rõ hơn về quan niệm về con người, cái đẹp của nhà văn.
1. "Thiên sứ" trong mẫu gốc.
Thiên sứ (anges) hay còn gọi là thiên thần là một trong những mẫu gốc có ý nghĩa quan
trọng trong biểu tượng văn hoá nhân loại, đặc biệt là trong văn hoá phương Tây.
Thiên sứ được xem là "sinh linh môi giới giữa thượng đế và nhân thế, được hình dung
dưới nhiều dạng thức khác nhau trong văn bản Akkad, Ougarit, Kinh Thánh và trong các sách
thánh khác. Họ hoặc là những sinh linh thuần tuý tinh thần, hoặc là những thân thể bằng thanh

Tiểu thuyết Thiên sứ của Phạm Thị Hoài là tác phẩm được viết nhại lại kiểu tiểu thuyết
chương hồi, có kết cấu truyện lồng trong truyện và mỗi chương truyện lại có nhan đề riêng.
Mỗi chương là một câu chuyện kể xoay quanh những nhân vật khác nhau. Trong đó "Thiên sứ"
là chương truyện thứ 3 kể về hành trình cuộc đời của bé Hon.
Hành trình của Hon trong câu chuyện kể gắn với hành trình của một thiên sứ, bao gồm
3 giai đoạn: sự chào đời kì lạ (giáng thế), hành động kì lạ - ban phát yêu thương (cứu vớt) và ra
đi kì lạ (hóa thân).
2
Sự chào đời kì lạ của Hon gợi đến sự giáng thế của các "tướng nhà trời" trong văn hoá
phương Đông: " Bé Hon ra đời, khi mẹ tôi tưởng không thể sinh nở được nữa. Một nữa không
hiểu sao cả dây quần áo nhà phơi bị bỏ quên qua đêm ngoài trời. Kì lạ, chỉ riêng bộ đồ lót của
mẹ đẫm sương và loang lổ viết từa tựa như chàm (…) Không lâu sau, mẹ mang thai" (tr4)
1
Cách kể chuyện hướng mở cho người đọc liên tưởng đến sự hoài thai giữa con người và trời
đất, thiên nhiên trong các câu chuyện cổ quen thuộc ( Thánh Gióng, Chàng Cóc…).
Sự hiện diện của nhân vật gợi nhắc đến khoảnh khắc vĩnh hằng trong tâm thức của
nhân loại: chúa giáng trần. "Con bé lọt lòng, không chịu cất tiếng khóc, mà mỉm cười làm thân
với đủ 13 nữ hộ sinh đứng quanh bàn đẻ. Thế là 13, lúc đầu ngơ ngác, sau bật khóc như một
dàn đồng ca. mẹ tôi, hoảng hốt cực độ, bắt giọng lĩnh xướng. Họ im bặt khi bố xuất hiện, và
con bé lại mỉm cười với bố, khiến ông ngã phịch xuống 1 chiếc ghế"(tr5, 1) 13 nữ y tá gợi đến
hình ảnh 13 tông đồ của Chúa. Nụ cười của thiên sứ Hon có ý nghĩa như là nụ cười cứu rỗi linh
hồn, ban phát tình yêu thương cho nhân loại.
Lời nói và hành động của Hon kì lạ, mang ý nghĩa cứu rỗi linh hồn. Câu nói đầu tiên và
cũng là duy nhất của nhân vật là "thơm nào", thể hiện khao khát được trao gửi yêu thương.
Thơm trong ý niệm của loài người là " biểu tượng của sự hợp nhất là gắn kết với nhau (tr446,
11) với tư cách là giới chỉ của sự hoà hợp, của sự qui thuận, sự tôn kính của tình yêu. Trong
các lí lẽ của nữ thần Ceres nó chứng thực sự hoà hợp tâm linh của con người (tr447,11). Hon
luôn muốn được hoà hợp tâm hồn với những người xung quanh, đánh thức tình yêu và hàn gắn
nỗi đau trong mỗi linh hồn.
Nhà văn xây dựng nhân vật Hon theo motip trong các câu chuyện cố, viết theo lối văn

người ban phát yêu thương và người lớn là phía đón nhận và kẻ khước từ. Sự đảo lộn vai trao-
nhận thể hiện sự đổi thay của những giá trị cũ, những giá trị mới đang hình thành.
(2) Đặt vai nhận người lớn và con mèo trong sự đối sánh ta nhận ra một nghịch lí hài
hước mà chua chát. Con mèo với ý thức bản năng không bao giờ từ chối nụ hôn của đứa trẻ.
Con người đã đánh mất bản năng yêu thương của loài.
Như vậy, biểu tượng thiên sứ mang ý nghĩa mẫu gốc là sứ giả của thiên giới, mang vẻ
đẹp thánh thiện, sáng trong. Phạm Thị Hoài mở rộng trường nghĩa của thiên sứ, là phần thiện
mà con người đánh mất, có thể tạo lập những giá trị mới trong cuộc sống. Hon là mảnh ghép
còn khuyết trong tâm hồn của con người thời hiện đại. Nụ cười, nụ hôn mà Hon hào phóng ban
tặng cho bất cứ ai, không phân biệt theo bất cứ một tiêu chí nào cả là phần con người đang
(1) Đứa
trẻ chào đời mỉm
cười
13 nữ y tá, bà mẹ khóc, ông bố kinh hoàng
(2) Đứa
trẻ hào phóng ban
tặng nụ hôn
những thành viên trong gia đình chỉ đón nhận hào
hứng trong một thời gian đầu rồivà thẳng thừng chối từ.
Con mèo không bao giờ từ chối
4
thiếu thốn. Khi con người hoả thiêu cỗ quan tài thơm tho chứa đầy nụ cười cũng là lúc con
người tự tay đốt phần linh thể trinh khiết trong tâm hồn mình, chối bỏ chiếc cầu nối với bản
năng yêu thương mà chúa trời ban tặng. Sự câm lặng, hối lỗi của người mẹ, sự chấp nhận qui
luật được-mất, tuần hoàn sinh tử của người bố chỉ là sự nhìn lại sự việc đã qua, chấp nhận sự
thật mang tính chất lí tính. Chỉ có nhân vật Hoài là nhận ra phần nào ý nghĩa của sự xuất hiện
và ra đi của Hon. Như vậy, ý nghĩa cứu rỗi, lay tỉnh của thiên sứ trong nhận thức chung của con
người về thiên sứ đến nhân vật Hon đã rạn nứt. Thiên sứ dù mang sứ mạng cao cả nhưng chỉ là
một sinh linh lạc lõng không thể hoà với cuộc sống, bị chối từ quyết liệt.
2.2. Hoài- thiên sứ phải nhượng bộ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status