1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TAEKKHAM INTHAXAY NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN
ĐẠI HỌC QUỐC GIA LÀO VỀ SỐNG THỬ
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Mã số: 60 31 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS. Mai Thị Kim Thanh Hà Nội – 2014 3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn Thạc sĩ Khoa học Ngữ văn: “Nhận thức của sinh viên
Đại học Quốc gia Lào về sống thử” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi.
Hà Nội, ngày 29 tháng 12 năm 2014
Tác giả luận văn 5
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ĐHQG
ĐẠI HỌC QUỐC GIA
CĐ
CAO ĐẲNG
ĐH
ĐẠI HỌC
SV
SINH VIÊN
PVS
PHỎNG VẤN SÂU
6
MC LC
TRONG SINH VIấN HIN NAY 38
2.1. Quan nim v tỡnh yờu v sng th 38
7
2.1.1. Quan niệm về tình yêu, tình dục 39
2.1.2. Quan niệm về sống thử của sinh viên 44
2.1.3. Quan niệm về quan hệ giữa tình yêu và tình dục trong sống thử 46
2.2. Nhận thức của sinh viên Đại học Quốc gia Lào về hiện tượng sống thử trong sinh
viên 50
2.2.1. Hiểu biết của sinh viên Đại học Quốc gia Lào về thực trạng sống thử trong
sinh viên 50
2.2.2. Nhận thức của sinh viên ĐHQG Lào về nguyên nhân sống thử trong sinh
viên 54
2.2.3. Nhận thức của sinh viên ĐHQG Lào về hệ quả của sống thử trong sinh viên59
2.3. Thái độ của sinh viên trước hiện tượng công khai sống thử trong sinh viên
ĐHQG Lào 62
CHƯƠNG 3: NHỮNG NHÂN TỐ CƠ BẢN ẢNH HƯỞNG
TỚI NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN ĐHQG LÀO
VỀ VẤN ĐỀ SỐNG THỬ VÀ XU HƯỚNG SỐNG THỬ
TRONG SINH VIÊN LÀO THỜI GIAN TỚI 67
3.1. Quan điểm sống của sinh viên: Sự hình thành những quan niệm mới và xu hướng
hành vi. 67
3.2. Vai trò của Nhà Trường, Đoàn, Hội sinh viên 70
3.4. Vai trò của hệ thống truyền thông 73
3.5. Xu hướng sống thử trong sinh viên thông qua nhận thức của họ về vấn đề này 81
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
8
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
72
Bảng 3.3: Đánh giá của sinh viên về vai trò của Đoàn trường trong việc truyền
thông về sức khoẻ sinh sản và định hướng đúng đắn cho sinh viên
về tình yêu chân chính
75
Bảng 3.4: Các hoạt động ngoại khoá do Đoàn trường tổ chức
76Biểu đồ 2.1: Kênh thông tin mà sinh viên biết đến hiện tượng sống thử
51
Biểu đồ 2.2: Nhận thức của sinh viên Đại học Quốc gia Lào về nguyên nhân của
hiện tượng sống thử trong sinh viên (%)
56
Biểu đồ 2.3: Nhận thức của sinh viên Đại học Quốc gia Lào về hệ quả của hiện
tượng sống thử trong đời sống sinh viên
60
Biểu đồ 2.4: Thái độ của sinh viên đối với hiện tượng công khai sống thử
nhân và tỷ lệ này gia tăng với tốc độ rất nhanh [5, tr. 2]. Qua bảng số liệu điều
tra về tỷ lệ các cặp đôi chung sống không kết hôn trên tổng số các cặp đôi
sống chung tại một số nước trên thế giới cho thấy: Tại New Zealand, vào thập
niên đầu của thế kỷ 21, tỷ lệ các cặp đôi chung sống không kết hôn tăng
59,1% so với những năm 90 của thế kỷ 20. Thấp hơn một chút, con số này tại
Anh, Mỹ, Úc lần lượt là 52,2%, 49%, 48,2%. Trong đó ở Anh, dữ liệu công
bố cho thấy rằng 12% dân chúng ở tuổi từ 18 đến 24 là đang sống chung
không có đăng ký kết hôn với nhau
Ở Mỹ trong các cuộc điều tra dân số đều có chỉ số về các cặp chung sống
trước hôn nhân (cohabiting), đồng nghĩa rằng họ xem việc chung sống trước
hôn nhân cũng là một chỉ báo của hệ thống gia đình. Hiện nay, tỷ lệ kết hôn
của Mỹ đã giảm xuống còn 43% năm 1960. Cùng với đó, số cặp đôi nam nữ
chung sống không kết hôn ở Mỹ tăng gấp 6 lần vào thập niên 60 của thế kỷ
XX và đã tăng thêm 48% nữa vào giữa những năm 1990 và 1998. Theo báo
10
cáo năm 2001 của Cục thống kê Mỹ, 50% số người tuổi từ 25 đến 40 là sống
chung với nhau không kết hôn [5, tr. 45]. Theo số liệu công bố của dự án
quốc gia nghiên cứu về hôn nhân của Mỹ cho thấy: năm 1960 có 439000 cặp
đôi sống chung không kết hôn, năm 1970 là 523000 cặp đôi, năm 1980 là
1.589.000 cặp đôi, đến năm 2007 con số này là 6.445.000 cặp đôi [5, tr. 7].
Như vậy, từ năm 1960 đến năm 2007 số cặp đôi nam nữ chung sống không
kết hôn đã tăng 15 lần. Trong đó tính riêng số lượng cặp đôi nam nữ chung
sống trước hôn nhân có con dưới 15 tuổi từ năm 1960 đến năm 2005 đã tăng
9,9 lần. (Năm 1960 là 197.000 cặp, năm 2005 là 1.954.000 cặp).
Nếu như một nghiên cứu năm 1989 tại Mỹ đã chỉ ra rằng khoảng 60%
các cặp chung sống trước hôn nhân đã kết thúc bằng cuộc hôn nhân thực sự
[5, tr. 8] thì cũng tại quốc gia này đã có cuộc nghiên cứu kéo dài 3 năm, kết
quả được công bố vào tháng 8 năm 2002 cho thấy 86% cuộc sống thử kết thúc
bằng chia tay. Khi tiến hành điều tra tiếp 14% đã tiến đến hôn nhân thì những
những điều này cho thấy sống thử thực sự đang là vấn đề nóng trong giới sinh
viên và nó thu hút được sự quan tâm của nhiều đối tượng khác nhau.
Cũng có ý kiến đồng tình với sống thử, cũng có ý kiến phản đối kịch liệt
lối sống này, còn những người trung lập thì không hưởng ứng cũng không
phản đối. Mỗi bên đều có những lý lẽ, những biện giải cho suy nghĩ của mình.
Nhưng một thực tế không thể phủ nhận, việc sống thử trước hôn nhân đã ảnh
hưởng sâu sắc đến lối sống của sinh viên nói riêng và giới trẻ nói chung. Điều
này đòi hỏi phải có một định hướng rõ ràng, cụ thể hơn để sinh viên trẻ có
được những nhận thức, hiểu biết về thực tế trong cuộc sống và tìm ra con
đường đi tốt nhất cho chính bản thân mình. Sống thử trước hôn nhân có thực
sự là một lối sống mới cần được ủng hộ của sinh viên nói riêng và giới trẻ nói
chung hay không? Sống thử mang lại những lợi ích gì và để lại hậu quả thế
nào cho những người trong cuộc? Cuộc sống này có gì giống và khác với
cuộc sống gia đình không ?
12
Tất cả những vấn đề trên gợi nên trong tôi hướng nghiên cứu đề tài
“Nhận thức của sinh viên Đại học Quốc gia Lào về sống thử” với hi vọng
giúp sinh viên, các thế hệ tương lai ở Lào có cái nhìn đúng đắn nhất về vấn đề
này.
2. Ý nghĩa nghiên cứu
2.1. Ý nghĩa lý luận
Nghiên cứu này được thực hiện trên cơ sở vận dụng một số khái niệm
và lý thuyết xã hội học như: khái niệm nhận thức, khái niệm sinh viên, sống
thử và quan điểm của một số lý thuyết như: lý thuyết kiểm soát xã hội, lý
thuyết trao đổi xã hội, lý thuyết sự lựa chọn hợp lý…để tìm hiểu và giải thích
những quan niệm, nhận thức của sinh viên Lào về quan niệm tình yêu, quan
niệm về tình yêu và tình dục trong sống thử, quan niệm về sống thử liên quan
tới những vấn đề nhân cách và đạo đức; kinh tế; sức khỏe; học tập…Đồng
thời đề tài được coi như là một luận chứng góp phần làm sáng tỏ hơn cho
lịch sử thời hiện đại - với sự sụp đổ của những giá trị đạo đức có nguồn gốc từ
di sản tôn giáo và sự bùng phát của quan niệm tự do trong tình dục, tình yêu
trên toàn thế giới. Nam nữ sống chung với nhau không kết hôn, vị thành niên
được quyền có đời sống tình dục với bất kỳ người nào mà họ ưng thuận.
Theo báo cáo tổng hợp được công bố vào tháng 2 năm 2009 của dự án
quốc gia điều tra về tình trạng hôn nhân của Mỹ (The national marriage
Project) thì xu hướng ngày càng nhiều các cặp đôi nam nữ chung sống trước
hôn nhân và tỉ lệ này gia tăng với tốc độ rất nhanh. Qua số liệu điều tra về tỉ lệ
các cặp đôi chung sống không kết hôn trên tổng số các cặp đôi sống chung tại
một số nước trên thế giới cho thấy, quốc gia cao nhất là New Zealand , con số
này ở các nước Anh, Mỹ, úc cũng cho thấy tình trạng đang sống chung không
hôn nhân với nhau cũng không phải là ít. Ở đây, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra
ba lý do tại sao chung sống trước hôn nhân là nguy hiểm. Một là, các cặp đôi
chung sống trước hôn nhân có tỷ lệ ly hôn cao hơn các cặp đôi chưa từng
14
chung sống. Hai là, so với các cặp vợ chồng, chất lượng cuộc sống của các
cặp đôi này thấp hơn, điều này thể hiện ở mức độ hài lòng về quan hệ tình dục
thấp; sự thiếu hụt trong các quan hệ với các bậc phụ huynh; cảm xúc về hạnh
phúc rất ít; tỷ lệ bị trầm cảm cao hơn ba lần; trong cuộc sống chung không
hôn nhân, phụ nữ dễ bị khổ về vật chất và bị lạm dụng tình dục nhiều hơn các
phụ nữ có kết hôn. Ba là, chung sống như vậy sẽ không đảm bảo để dẫn đến
hôn nhân. Một trong mười lý do mà nam giới không thích kết hôn là vì họ có
thể dễ dàng chung sống với một người phụ nữ, không cần kết hôn mà vẫn
được hưởng cùng một quyền lợi như cuộc sống độc thân.
Trong khi ở Anh là xã hội có xu hướng bảo thủ hơn so với xã hội một số
nước phương Tây khác, gần đây việc cá nhân có hành vi tham gia sống thử
trước hôn nhân vẫn được xem là điều tai tiếng. Mặc dù vậy, tỷ lệ sống chung
trước hôn nhân vẫn tăng mạnh theo từng giai đoạn. “Chỉ có 19% phụ nữ sinh
năm 1940 sống chung, nhưng tỷ lệ đó ở những phụ nữ sinh năm 1960 là gần
nhiều nhà khoa học, các chuyên gia, và giới trẻ nói chung quan tâm. Tại
Trung Quốc, các cuộc tranh luận của sinh viên trên một số báo điện tử về
quyền được quan hệ tình dục, quyền được chung sống trước hôn nhân đã dấy
lên phong trào sống chung và trở thành một của giới trẻ Trung Quốc, đặc biệt
là tầng lớp sinh viên. “Thanh niên Trung Quốc hiện đại không còn gò ép theo
những giá trị truyền thống nữa. Tỷ lệ thanh niên có quan hệ tình dục trước
hôn nhân tăng đáng kể và vấn đề này trở thành chủ đề chính cho những cuộc
tranh luận. Các chuyên gia và giới lãnh đạo rất đau đầu về hiện tượng này và
cho rằng đây là một hiện tượng không lành mạnh” (Lưu Phương Thảo (2007),
tr.18).
Sống chung trước hôn nhân cũng đang gia tăng ở hai quốc gia Đông
Nam Á là Indonesia và Philipine - nơi xã hội có nền văn hóa và tôn giáo
truyền thống chống lại hành vi sống chung trước hôn nhân. Chẳng hạn,
Indonesia là quốc gia có số lượng tín đồ theo đạo hồi lớn nhất thế giới. Hệ
16
thống giáo lý hồi giáo không cho phép nam, nữ sống chung khi chưa có sự
chứng kiến của đấng tối cao. Mặc dù vậy, làn sóng sống chung trước hôn
nhân vẫn không ngừng tăng nhanh trong giới trẻ. Nó được nhiều người biết
đến nhưng vẫn không được xã hội chấp nhận [8]. Chính phủ Indonesia đã lên
tiếng và phản kháng bằng cách trừng phạt thẳng tay đối với người tham gia
sống chung. Phát biểu nhân ngày Gia đình Quốc gia, ngày 3 tháng 7 năm
2005, Tổng thống Indonesia Susilo Bambang Yudhoyono kêu gọi thanh niên
nước này “đừng bắt trước kiểu sống của nước ngoài”: nam, nữ sống chung mà
không có hôn nhân. Ông nhấn mạnh lối sống này vẫn được xem là “hành vi ô
nhục” đi ngược lại chuẩn mực xã hội và tôn giáo của đất nước. “Tôi vẫn giữ ý
kiến rằng chúng ta nên bảo vệ và duy trì những nguyên tắc và giá trị gia đình
mãi mãi” (Lưu Phương Thảo (2007), tr.18).
Ở quốc gia láng giềng như Việt Nam hiện nay, có rất nhiều bài báo phản
ánh các chiều cạnh khác nhau. Tác giả luận văn đã tìm đọc hơn 60 bài báo
giả Nguyễn Thị Quỳnh Hoa đăng trên Tạp chí nghiên cứu Gia đình và Giới,
số 2/2007 đã đưa ra bức tranh khái quát về xu hướng sống thử đang trở nên
phổ biến trong giới thanh niên Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích số
liệu của các cuộc khảo sát, các diễn đàn và các bài viết trên báo điện tử nhằm
thu thập ý kiến, quan niệm của thanh niên về vấn đề sống thử. Đứng trên quan
điểm nhìn nhận sống thử như một trào lưu tiêu cực mang lại nhiều hậu quả
nghiêm trọng cho bản thân thanh viên và cho xã hội, tác giả cho rằng, cần có
sự hạn chế, điều chỉnh, can thiệp và quan tâm từ phía gia đình, nhà trường và
cộng đồng.
Nghiên cứu về “Nhận thức của sinh viên về vấn đề sống thử” (nghiên
cứu trường hợp Đại học Tây Bắc) của An Thị Hồng Hoa (2013), Luận văn
Thạc sỹ Xã hội học đã tiếp cận nghiên cứu nhận thức của sinh viên về sống
thử trên các khía cạnh về quan niệm của sinh viên về vấn đề sống thử; nguyên
18
nhân dẫn đến sống thử trong sinh viên; các yếu tố tác động đến nhận thức của
sinh viên về vấn đề này bao gồm các yếu tố thuộc về cá nhân, gia đình và từ
phía xã hội. Trên cơ sở của nghiên cứu này, tác giả đã đưa ra một số khuyến
nghị có định hướng đến các môi trường như gia đình, nhà trường, chủ nhà trọ,
các cơ quan quản lý trong việc nâng cao nhận thức cho sinh viên về sống thử
cũng như những hệ quả đi kèm của nó. Trong đó, đặc biệt nhấn mạnh đến vai
trò của nhà trường, các cấp đoàn, hội trong việc giáo dục, định hướng và cung
cấp những kiến thức cần thiết và cơ bản về sức khỏe sinh sản, giáo dục giới
tính, các giá trị của tình yêu và hôn nhân cho các bạn sinh viên.
Nghiên cứu “Sống chung trước hôn nhân của nam nữ sinh viên hiện
nay” (nghiên cứu trường hợp Đại học Nông nghiệp Hà Nội) của Nguyễn Đức
Chiện (2011), Luận án Tiến sỹ Xã hội học đã tiếp cận nghiên cứu định tính
trên những khách thể là sinh viên nam, nữ đã từng hoặc đang chung sống với
bạn tình của mình như vợ chồng. Đề tài lần lượt làm rõ quan niệm về tình
yêu, tình dục và sống chung trước hôn nhân của xã hội Việt Nam, sự biến đổi
báo Vientiane Time. Trong bài viết này tác giả đề cập đến sự khác nhau trong
nhân thức của thanh niên Thành phố và nông thôn, vấn đề trước kết hôn và
công việc trước khi kết hôn.
TS. Sengduane Vayyakone với bài viết “Laoteen magazine” nói về vấn
đề kết hôn của 1 số dân tộc thiểu số ở Lào như dân tộc LaoTheung trong đó,
tác giả đề cập đến phong tục tập quán của dân tộc này trong việc kết hôn. Ở
đây, con trai muốn kết hôn cần phải được sự đồng ý của gia đình hai bên.
Việc sống sống thử chỉ xảy ra khi nhà gái đã đồng ý và cho đến ở tại nhà gái
trong một thời gian ngắn (khoảng 1-5 tháng tùy thuộc vào những ứng xử của
chàng trai với gia đình nhà gái. Tuy nhiên việc sống thử ở đây được coi là
thử thách đối với người con trai chứ không phải sống chung như quan niệm
của sinh viên hiện nay là ăn và ngủ chung phòng.
20
TS. Sengduane Vayyakone cũng có một nghiên cứu khác “Thái độ về
hành vi tình dục trong thanh niên độ thị” . Nghiên cứu này đã chứng minh
rằng thanh niên đô thị đã có thái độ rất cởi mở về tình dục nói chung và tình
dục trước hôn nhân nói riêng. Có 50,2% thanh niên đô thị tán thành quan hệ
tình dục trước hôn nhân, 25,7% thanh niên đô thị trong nghiên cứu này có
quan hệ tình dục. Nghiên cứu này cũng chỉ ra quan hệ tình dục của thanh niên
đô thị có nhiều cung bậc và hình thức khác nhau.
Nghiên cứu “Hành vi tình dục” (2007) của Giáo sư Kabmanivanh
Phouxay đã khẳng định thái độ của sinh viên về quan hệ tình dục trước hôn
khá thoáng, sinh viên có đời sống tình dục khá phong phú và hiện nay chủ yếu
là hành động tình dục ngoài giao hợp.
Như vậy, những chuyên khảo trên đã cùng nhau góp phần tạo nên một
bức tranh về nghiên cứu gia đình khá đa diện với nhiều mảng màu sắc khác
nhau. Tuy nhiên, dù một cách khách quan hay do chủ quan thì vấn đề sống
thử của thanh niên nói chung và sinh viên nói riêng vẫn còn vắng bóng trong
đó và các nhà nghiên cứu Lào chưa thực sự đưa “sống thử” vào một trong các
của toàn xã hội này. Từ đó tạo cơ sở các các nhà quản lý, gia đình, nhà
trường, các tổ chức đoàn thể và toàn xã hội có những biện pháp nhằm nâng
cao nhận thức cho sinh viên về các giá trị trong tình yêu, hôn nhân, qua đó
định hướng cho giới trẻ nói chung và sinh viên nói riêng một lối sống lành
mạnh và đúng đắn.
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu với mục đích làm sáng rõ định nhận thức của sinh
viên về hiện tượng sống thử trong sinh viên hiện nay. Đặc biệt là tìm hiểu rõ
hơn nhận thức của sinh viên về sống thử với hệ quả của nó có liên quan đến
nhân cách, đạo đức; sức khỏe; học tập; sự kiểm soát của gia đình và xã hội
22
của nhóm đối tượng này. Những nhân tố cơ bản đã ảnh hưởng tới nhận thức
này ở họ, từ đó đề xuất những khuyến nghị mang tính khả thi.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu quan niệm của sinh viên về tình yêu: quan niệm về tình yêu,
quan niệm về mối quan hệ giữa tình yêu và tình dục, quan niệm về sống thử.
- Tìm hiểu thái độ và hành vi của sinh viên trước tình trạng sống thử
trong sinh viên đại học hiện nay.
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới nhận thức của sinh viên về sống
thử.
- Đề xuất các giải pháp mang tính khả thi.
5. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Nhận thức của sinh viên về sống thử.
5.2. Khách thể nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu là sinh viên đang theo học tại Đại học Quốc gia
Lào có độ tuổi 18 đến 24.
5.3. Phạm vi nghiên cứu
sinh viên về tình yêu, tình dục, sống thử, hệ quả của sống thử mà còn xem xét
đến các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức của sinh viên về sống thử. Trong đó,
đặc biệt chú trọng đến tác động của yếu tố gia đình và nhà trường.
6.2. Phương pháp nghiên cứu xã hội học
6.2.1. Phân tích tài liệu
Phương pháp này được sử dụng để tìm hiểu khái quát những vấn đề
liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài thông qua các nghiên cứu về
sống thử. Đồng thời, qua đó có được sự so sánh, đối chiếu làm phong phú nội
dung đang tiến hành tìm hiểu.
24
6.2.2. Phỏng vấn sâu
Mục đích của phương pháp này nhằm thu thập thông tin định tính bổ trợ
và minh họa cho kết quả nghiên cứu định lượng. Phương pháp này giúp cho
có những lý giải sâu hơn về vấn đề nghiên cứu. Trong đề tài này sử dụng 10
phỏng vấn sâu. Trong đó có 5 phỏng vấn sâu đối với nam sinh viên và 5
phỏng vấn sâu đối với nữ sinh viên. Đồng thời có sự phân chia tương đối
đồng đều giữa các khoa
6.2.3. Phương pháp trưng cầu ý kiến
Đây là phương pháp định lượng được sử dụng chủ yếu trong các nghiên
cứu Xã hội học. Do hạn chế về điều kiện thời gian và nhân lực, vì thế trong
nghiên cứu này chúng tôi chỉ lựa chọn khảo sát ở 4 khoa bao gồm: Khoa khoa
học Xã hội; Khoa Nông lâm; Khoa Bách khoa; Khoa Nông nghiệp. Trong
cuộc phỏng vấn này, chúng tôi phát ra 250 bảng, hỏi thu về được 200 bảng
hỏi hợp lệ và được xử lý qua chương trình SPSS 16.0. Với số lượng mẫu
nghiên cứu được lựa chọn theo quy trình chọn mẫu ngẫu nhiên thuận tiện. Do
đặc thù của đối tượng nghiên cứu nên việc chọn mẫu sẽ lựa chọn ngẫu nhiên
hệ thống các lớp khi sinh viên đi học. Đây là cách chọn mẫu thuận tiện cho
người nghiên cứu về mặt thời gian, chi phí và công tác phát bảng hỏi cũng
được diễn ra dễ dàng hơn nhưng vẫn đảm bảo được tính đại diện của mẫu.
7.2. Giả thuyết nghiên cứu
1. Phần lớn, quan niệm về tình yêu, tình dục, sống thử và về hệ quả của
sống thử trong sinh viên ĐHQG Lào hiện nay không chịu ảnh hưởng từ
những quan niệm truyền thống, mà là du nhập từ các nước ngoài vào.
2. Có sự khác biệt trong quan niệm về mối quan hệ tình yêu, tình dục
và sống thử giữa nam sinh viên so với nữ sinh viên.
3. Nhà trường đóng vai trò quan trọng trong nhận thức về sống thử còn
hạn chế trong sinh viên
4. Trong thời gian tới sinh viên Lào vẫn còn sống thử và có xu hướng
tăng lên.