1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
****
BÙI THỊ MƠ QUAN NIỆM CỦA NHO GIÁO KHỔNG – MẠNH
VỀ “TRÍ” VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG
NHẬN THỨC CÁC QUAN HỆ XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Triết học
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Triết học
Mã số:60.22.03.01
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Nguyên Việt
Hà Nội - 2015
i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp
đỡ về nhiều mặt của các thầy cô giáo, bạn bè và người thân.
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới
thầy giáo – PGS.TS Trần Nguyên Việt – người hướng dẫn khoa
học – đã tận tình hướng dẫn tôi phương pháp nghiên cứu trong
quá trình thực hiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Khoa
Triết học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội; Các lãnh
đạo, quản lý cùng các thầy, cô giáo trường Cao đẳng Nông nghiệp
và phát triển nông thôn Bắc Bộ và bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá
trình học tập, cũng như trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành
luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình đã tạo mọi điều kiện
thuận lợi và là nguồn động viên tinh thần cho tôi trong suốt quá
trình hoàn thành luận văn.
iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 10
CHƢƠNG 1: SỰ HÌNH THÀNH QUAN NIỆM CỦA NHO GIÁO KHỔNG –
MANH VỀ “TRÍ” 10
1.1. Những tiền đề cơ bản cho sự ra đời quan niệm của Nho giáo Khổng –
Mạnh về “Trí” 10
1.2. Quan niệm của Nho giáo Khổng – Mạnh về nguồn gốc của “Trí” 18
CHƢƠNG 2: MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA “TRÍ” TỪ PHƢƠNG DIỆN
NHẬN THỨC CÁC QUAN HỆ XÃ HỘI 35
2.1. Trí là tri trong sự hiểu biết về con ngƣời (trí giả tri nhân) 35
2.2. Trí là một trong ba phẩm chất của ngƣời quân tử: Nhân, Trí, Dũng 42
2.3. Trí trong mối quan hệ mật thiết với một số phạm trù đạo đức khác trong
tứ đức: Nhân, Nghĩa và Lễ 52
2.4. Trí để ứng xử đạo đức đúng đắn theo “nhân luân” và “ngũ luân” 59
2.5. Một số giá trị và hạn chế trong quan niệm của Nho giáo Khổng – Mạnh
về “Trí” từ góc độ nhận thức các quan hệ xã hội 72
KẾT LUẬN 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
các nhiệm vụ chính trị. Đó là một thực tế lịch sử cho đến nay không thể phủ
nhận. Chính vì vậy, việc nghiên cứu nội dung tƣ tƣởng của Nho giáo nói
chung, nghiên cứu các phạm trù đạo đức của Nho giáo nói riêng, từ đó làm rõ
những giá trị tích cực cũng nhƣ những hạn chế của nó là hết sức cần thiết.
Việc nghiên cứu các phạm trù đạo đức của Nho giáo, đặc biệt là Nho
giáo Khổng - Mạnh không thể không chú ý đến phạm trù “Trí” nhƣ là một
trong những phạm trù đạo đức cơ bản bởi nó vừa là mục đích, vừa là phƣơng
tiện để nhận thức các quan hệ giữa các cá nhân con ngƣời với nhau và với xã
2
hội. Mặc dù Nho giáo ít bàn đến vấn đề nhận thức luận, song làm rõ tính đa
nghĩa của “Trí” sẽ giúp chúng ta nắm bắt đƣợc mục đích cuối cùng của Nho
giáo Khổng - Mạnh là con ngƣời phải có hiểu biết nhất định để điều chỉnh
hành vi đạo đức của mình cho phù hợp với yêu cầu của xã hội, tức góp phần
vào việc củng cố trật tự ổn định xã hội.
Xuất phát từ việc xác định vai trò của phạm trù “Trí” của Nho giáo
Khổng - Mạnh, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Quan niệm của Nho giáo
Khổng - Mạnh về “Trí” và vai trò của nó trong nhận thức các quan hệ xã
hội” cho luận văn thạc sĩ triết học của mình với hy vọng rằng, những kết quả
nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần làm sáng tỏ phạm trù “Trí” trong hệ thống
các phạm trù đạo đức của học thuyết này.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nho giáo là học thuyết triết học và chính trị - xã hội ra đời ở Trung
Quốc thời cổ đại. Nho giáo gắn bó với tên tuổi của ngƣời sáng lập là Khổng
Tử (551 – 478 tr.CN), sau đó đƣợc Mạnh Tử (372 – 289 tr.CN) và các thế hệ
nhà Nho về sau kế thừa và làm phong phú thêm. Từ trƣớc đến nay, đã có
nhiều công trình trong và ngoài nƣớc nghiên cứu về Nho giáo nói chung và
phạm trù “Trí” nói riêng. Do nội dung nghiên cứu của luận văn là phạm trù
“Trí” với tƣ cách là phạm trù đạo đức trong học thuyết của Nho giáo Khổng –
Mạnh và vai trò của nó trong nhận thức các mối quan hệ ngƣời, cho nên ngoài
khá khiêm tốn, chỉ dƣới 50 trang. Liên quan đến đề tài chỉ có 7 trang, bàn về
"giáo hóa với nhân tính", ở đó “Trí” không đƣợc bàn tới một cách trực tiếp.
Đây cũng là tình hình chung của các công trình khoa học về Nho giáo, nghĩa
là vấn đề về “Trí” không đƣợc nghiên cứu một cách chuyên biệt, mà chỉ xem
nó nhƣ một trong các phạm trù mang tính chuẩn mực đạo đức.
Hướng thứ hai, đó là những công trình ít nhiều đề cập đến “Trí” mang
tính lý luận nhận thức của Nho giáo. Cụ thể nhƣ Nguyễn Tài Thƣ trong “Vấn
đề con người trong Nho học sơ kỳ” đã đi sâu phân tích các vấn đề tính ngƣời,
4
con ngƣời trong các quan hệ với tự nhiên và xã hội, các nhân cách lý tƣởng
trong Nho học sơ kỳ. Trong đó, ông đã tập trung làm rõ các nhân cách lý
tƣởng nhƣ “sĩ”, “quân tử”, “thánh”, “hiền”, đặc biệt là ngƣời quân tử, hình
tƣợng con ngƣời tiêu biểu nhất trong quan niệm của đạo Nho. Tác giả cho
rằng: “Ngƣời quân tử phải trau rồi các phẩm chất đạo đức mà Nho gia đã xây
dựng nên, họ phải có nhân, nghĩa, lễ, trí, tín… phải thực hiện trung, hiếu…”
[45, tr. 135], ngƣời quân tử phải tu luyện thƣờng xuyên để đạt đƣợc các phẩm
chất đạo đức cao quý nhƣ “nhân”, “trí”, “dũng” [xem 45, tr. 138].
Công trình “Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc” do Doãn Chính
chủ biên đã phân tích một cách khá sâu sắc toàn bộ hệ thống tƣ tƣởng của các
trƣờng phái triết học nói chung, các nhà tƣ tƣởng nói riêng. Đặc biệt, khi phân
tích tƣ tƣởng của hai đại biểu lớn của Nho gia là Khổng Tử và Mạnh Tử, tác
giả cũng đã đề cập đến phạm trù “Trí”. Tác giả khẳng định: “Trí đƣợc hiểu là
sự minh mẫn nói chung để phân biệt, đánh giá con ngƣời và tình huống, qua
đó tự xác định cho mình cách ứng xử cho phải đạo” [10, tr. 67].
Nhà nghiên cứu Trần Đình Hƣợu trong cuốn “Các bài giảng về tư
tưởng phương Đông” (sách do học trò ghi chép, biên tập lại sau khi ông mất)
cũng đề cập đến phạm trù “Trí” với tƣ cách là một trong ba đạt đức của ngƣời
quân tử, cùng với “Nhân” và “Dũng”: Nhân là “không lo”, trí là “không lầm”,
dũng là “không sợ” [xem 19, tr. 63].
phạm trù “Trí” trong quan hệ mật thiết của nó với các phạm trù đạo đức khác.
Ngoài những công trình nghiên cứu đã đƣợc xuất bản trong nƣớc, các
công trình của nƣớc ngoài cũng đƣợc dịch thuật và phổ biến ở nƣớc ta. Điều
đáng chú ý là trong số các công trình dịch thuật, có khá nhiều công trình dịch
thuật các tƣ liệu gốc của các dịch giả nhƣ Đoàn Trung Còn, Ngô Tất Tố, Phan
Bội Châu, v.v. Gần đây, Viện nghiên cứu Hán Nôm đã xuất bản các bộ sách
dịch “Tứ Thư” và “ Ngũ Kinh”. Tuy nhiên, hai bộ sách này chủ yếu phục vụ
6
cho công tác dạy và học chữ Hán, với việc diễn giải quá ngắn, vì vậy, nếu chỉ
sử dụng hai bộ sách này trong việc nghiên cứu tƣ tƣởng triết học sẽ gặp phải
những hạn chế nhất định, đặc biệt là đối với những ngƣời ít hiểu biết về Hán
ngữ nhƣ chúng tôi. Chính vì vậy, chúng tôi tham khảo thêm tác phẩm “Tứ thư
tập chú” của Chu Hy, do Nguyễn Đức Lân dịch và chú giải và đã chọn tài
liệu này làm tài liệu chính phục vụ cho đề tài nghiên cứu của mình.
Tóm lại, các công trình nghiên cứu nói trên, ở nhiều khía cạnh, mức độ
khác nhau đều đề cập đến phạm trù “Trí” của Nho giáo nói chung, của Nho
giáo Khổng – Mạnh nói riêng. Tuy nhiên, các công trình ấy lại chƣa nghiên
cứu một cách đầy đủ và có hệ thống về nội hàm rộng lớn của phạm trù “Trí”
cũng nhƣ chƣa làm rõ đƣợc vai trò to lớn của “Trí” trong nhận thức các quan
hệ xã hội.
Từ thực tế đó, trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu của những
học giả đi trƣớc, tác giả luận văn mong muốn đi sâu phân tích, làm rõ hơn nội
dung của phạm trù “Trí” trong quan niệm của Nho giáo Khổng - Mạnh và vai
trò của nó trong nhận thức các quan hệ xã hội.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích: Luận văn trình bày một cách hệ thống quan niệm của Nho
giáo Khổng - Mạnh về “Trí”, trên cơ sở đó làm rõ vai trò của “Trí” trong nhận
thức các quan hệ xã hội.
- Nhiệm vụ: Để đạt đƣợc mục đích trên, luận văn cần giải quyết những
chuyên sâu và có hệ thống phạm trù “Trí” với tƣ cách phạm trù đạo đức của
Nho giáo Khổng – Mạnh, từ đó chỉ ra vai trò to lớn của “Trí” trong việc nhận
thức các quan hệ xã hội. 8
7. Ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần vào việc làm sáng tỏ quan
niệm của Nho giáo Khổng - Mạnh về “Trí” và vai trò của nó trong nhận thức
các quan hệ xã hội cũng nhƣ những giá trị và hạn chế trong quan niệm đó. Vì
vậy, luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên
cứu, giảng dạy và học tập môn lịch sử triết học phƣơng Đông.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 02 chƣơng, 07 tiết.
9
NỘI DUNG
Chƣơng 1: SỰ HÌNH THÀNH QUAN NIỆM CỦA NHO GIÁO
KHỔNG - MẠNH VỀ “TRÍ”
1.1. Những tiền đề cơ bản cho sự ra đời quan niệm của Nho giáo
Khổng – Mạnh về “Trí”
Quan niệm về “Trí” của Nho giáo Khổng – Mạnh là một trong những
quan niệm có nhiều yếu tố tích cực, trong đó xuất phát điểm của nó thể hiện ở
chỗ cho rằng, con ngƣời phải có hiểu biết, nhất là hiểu biết về những nguyên
thƣơng nhân giàu có và ngày càng có thế lực. Tiền đồng ra đời vào cuối thời
Xuân Thu, đến thời Chiến Quốc, nó đƣợc sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh
vực kinh tế. Hình thức cho vay nặng lãi của các thƣơng nhân lớn cũng đã xuất
hiện. Qúy tộc cũng noi theo thƣơng nhân kinh doanh buôn bán và cho vay
nặng lãi.
Trên cơ sở sự phát triển của lực lƣợng sản xuất, quan hệ sản xuất chiếm
hữu nô lệ với chế độ “tỉnh điền” bóc lột nhân dân theo kiểu của thiên tử, quý
tộc nhà Chu trƣớc đây đã trở nên lạc hậu, không còn phù hợp nữa, đòi hỏi
phải thay thế bằng phƣơng thức bóc lột khác. Nếu nhƣ trƣớc đây tƣ liệu sản
xuất (trong đó có ruộng đất) đều thuộc quyền sở hữu của nhà vua, thì đến giai
đoạn này đã có sự thay đổi. Bắt đầu từ thời Xuân Thu, chế độ ruộng đất của
nhà nƣớc dần dần tan rã, ruộng tƣ xuất hiện ngày càng nhiều. Thời Tây Chu,
thiên tử nhà Chu phong đất cho các chƣ hầu trên cơ sở họ hàng và những
ngƣời có công. Đến thời Xuân Thu, quan hệ họ hàng đã trở nên mờ nhạt, hơn
nữa nhà Chu với tƣ cách là tôn chủ không còn đủ thế và lực để bắt những
ngƣời đƣợc thừa kế đất phong phải thực hiện nghĩa vụ của họ. Vì vậy, trên
thực tế, các chƣ hầu đều coi lãnh địa đƣợc phong là thuộc quyền sở hữu của
họ. Ngoài lãnh địa đƣợc phong, các nƣớc lớn còn thôn tính các nƣớc nhỏ và
xâm chiếm đất đai của các nƣớc khác, bộ phận đất đai này trở thành sở hữu
11
riêng. Trong các nƣớc chƣ hầu do sự suy yếu của nhà vua, do sự tranh giành
đất đai của nhau, thái ấp của các khanh đại phu cũng biến dần thành ruộng đất
tƣ. Bọn quý tộc có quyền thế cũng chiếm dần ruộng của công xã làm ruộng
tƣ. Chế độ “tỉnh điền” dần tan rã, chế độ tƣ hữu về ruộng đất dần dần hình
thành. Sau đó, chế độ tƣ hữu ruộng đất còn đƣợc pháp luật nhà nƣớc thừa
nhận và bảo vệ. Đến thời Chiến Quốc, chế độ ruộng tƣ ngày càng phát triển
mạnh mẽ, chế độ “tỉnh điển” đang đi đến chỗ tan dã hoàn toàn. Trong hoàn
cảnh ấy, ruộng đất ngày càng tập chung vào tay các địa chủ lớn, nông dân
nhiều ngƣời bị mất ruộng đất phải đi cày thuê, cấy mƣớn trở thành tá điền, cố
đƣợc một trăm mẫu ruộng nhƣ trƣớc kia, cộng với ruộng đất khai khẩn thêm
trở thành nông dân tự canh, một bộ phận khác hoàn toàn không có tấc đất cắm
dùi buộc phải làm tá điền hoặc cày thuê cho địa chủ. Hệ quả tất yếu là những
mâu thuẫn vốn có và mới nảy sinh trong lòng xã hội ngày càng sâu sắc, trầm
trọng hơn. Đó là mâu thuẫn giữa giai cấp địa chủ, phong kiến mới nổi lên với
giai cấp quý tộc đang nắm quyền lực chính trị nhƣng địa vị và sức mạnh kinh
tế đã suy yếu; mâu thuẫn trong nội bộ giai cấp quý tộc; mâu thuẫn giữa nông
dân, nông nô với giai cấp địa chủ mới và quý tộc. Sang thời Chiến Quốc, mâu
thuẫn trên ngày càng gay gắt hơn, đã đẩy xã hội tới nguy cơ suy thoái. Thêm
nữa, chiến tranh giữa các nƣớc vẫn không ngừng xảy ra và ngày càng tàn bạo,
khốc liệt hơn. Mạnh Tử đã phải thốt lên rằng: “Chiến tranh để giành đất đã sát
hại ngƣời ta, thây nằm chật đất; chiến tranh để đoạt thành đã sát hại ngƣời ta,
thây nằm ngập thành” (Tranh địa dĩ chiến, sát nhân doanh dã. Tranh thành dĩ
chiến, sát nhân doanh thành – Mạnh Tử. Ly Lâu ) [20, tr. 1041 ]. Tình hình ấy
đã làm cho xã hội hết sức rối loạn, sản xuất bị đình trệ, ruộng vƣờn bị bỏ
hoang, đời sống nhân dân vô cùng khổ cực, gia đình ly tán. Trong xã hội
thƣờng xuyên diễn ra hiện tƣợng “bề tôi giết vua, con giết cha, em giết anh”,
thiên hạ trở nên “vô đạo”, trật tự, lễ nghĩa, cƣơng thƣờng của xã hội bị đảo
lộn, các mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời trở nên biến dạng. Cho
13
đến thời điểm này thì cảnh chia ly không chỉ dừng lại trong gia đình mà đến
cả đất nƣớc vì “ngũ luân” không đƣợc coi trọng nhƣ trƣớc nữa.
Trong khi chế độ tông pháp đã tỏ ra quá lạc hậu với thời đại nhƣ vậy,
thì những cơ sở cho sự định hình thể chế của xã hội mới lại mới chỉ manh
nha. Giữa cái cũ và cái mới, không cái nào đủ sức đại diện chân chính cho
lịch sử. Bị trói buộc trong trạng thái giao thời đó các chuẩn mực, giá trị xã hội
hầu nhƣ không đƣợc định hình.
Thực tiễn xã hội lúc bấy giờ đã đặt ra một vấn đề lớn là cách thức tổ
chức và quản lý xã hội theo mô hình nhà Chu không còn thích hợp nữa. Vậy,
thịnh trị. Sau khi Khổng Tử mất, tƣ tƣởng và đƣờng lối “đức trị” của ông
đƣợc nhiều nhà Nho về sau kế thừa và tiếp tục phát triển. Tiêu biểu nhất là
Mạnh Kha (372 - 289 tr.CN), tự là Dƣ, thƣờng đƣợc gọi là Mạnh Tử. Kế thừa
đƣờng lối “đức trị” của Khổng Tử, Mạnh Tử đã đề ra đƣờng lối “Nhân
chính”, lấy cơ sở đạo đức nhân nghĩa làm đầu.
Nhƣ vậy, để giải quyết đƣợc các vấn đề xã hội, Nho giáo sơ kỳ nói
chung, Nho giáo Khổng – Mạnh nói riêng đã dựa vào học thuyết đạo đức với
các chuẩn mực đạo đức nghiêm ngặt của nó nhƣ nhân, lễ, nghĩa, trí chứ không
phải bằng phƣơng tiện kinh tế. Đặc biệt theo quan niệm của Nho giáo Khổng
– Mạnh, “Trí” là một phƣơng tiện rất quan trọng để nhận thức các quan hệ
giữa các cá nhân con ngƣời với nhau và với xã hội. Có “Trí” con ngƣời mới
điều chỉnh đƣợc hành vi đạo đức của mình cho phù hợp với yêu cầu của xã
hội, tức góp phần vào việc củng cố trật tự xã hội, đƣa xã hội vào thế ổn định,
phát triển.
Tóm lại, trong hoàn cảnh lịch sử xã hội Trung Quốc thời Xuân Thu –
Chiến Quốc đầy biến động, phức tạp đã làm nảy sinh nhiều học thuyết của các
học giả kiệt xuất nhằm mục đích giải quyết các vấn nạn của xã hội. Cũng
trong thời kỳ này học thuyết của Nho gia Khổng – Mạnh với nhiều nội dung,
trong đó có quan niệm về phạm trù đạo đức “Trí” cũng đƣợc hình thành. Khác
15
với các học phái khác, Nho giáo Khổng – Mạnh đặc biệt đề cao đạo đức, coi
đạo đức là công cụ, phƣơng tiện để điều chỉnh hành vi đạo đức của con ngƣời
cho phù hợp với yêu cầu của xã hội, tức góp phần vào việc củng cố ổn định
trật tự xã hội.
1.1.2. Tiền đề tư tưởng cho sự ra đời quan niệm về “Trí” của Nho
giáo Khổng – Mạnh
Nói đến sự ra đời quan niệm về “Trí” của Nho giáo Khổng – Mạnh,
không thể không làm rõ cơ sở lý luận mà các nhà sáng lập Nho giáo tiếp thu,
kế thừa từ đời sống văn hóa tƣ tƣởng (tôn giáo, chính trị, đạo đức) của Trung
“Hiếu” làm nòng cốt. Từ quan niệm chính trị - tôn giáo về “trời và ngƣời hợp
nhất” (“thiên nhân hợp nhất”), nhà Chu khẳng định rằng, vì các bậc tiên
vƣơng nhà Chu có “Đức” mà đƣợc sánh cùng Thƣợng đế, đƣợc Thƣợng đế
cho hƣởng nƣớc, hƣởng dân, cho nên các vua đời sau phải biết kính cái đức
đó, phải biết bồi dƣỡng nó để cho con cháu đƣợc hƣởng nƣớc, hƣởng dân lâu
dài. “Hiếu” là thờ phụng tổ tiên, phải nhớ công ơn tổ tiên mà giữ gìn phép tắc
tổ tiên để lại. Có cái đức “Hiếu” nhƣ vậy mới nhận đƣợc mệnh trời mà đƣợc
hƣởng nƣớc, hƣởng dân mãi mãi. Đây là một quan niệm đạo đức nhằm củng
cố và tuyên truyền sự tồn tại vĩnh viễn địa vị thống trị của tầng lớp quý tộc
nhà Chu và nhà nƣớc quý tộc Chu.
Dƣới thời đại nhà Chu, địa vị và uy quyền của trời, mệnh trời đã đƣợc
vận dụng vào việc chống lại nhà Ân vào việc luận giải để biện hộ cho sự tồn
tại vĩnh viễn của nhà Chu. Nhƣng đến đầu thời Xuân Thu, sự suy yếu về mọi
mặt của nhà Chu cho thấy sự linh thiêng và bất khả xâm phạm của thần quyền
trên thực tế đã bị xâm phạm; nó báo hiệu sự áp đảo của quyền lực trần thế
trƣớc quyền lực thần thánh. Đến cuối thời Xuân Thu với sự suy đồi của tầng
lớp thống trị, trật tự, kỷ cƣơng xã hội theo mô hình nhà Chu ngày càng thêm
rối loạn, đời sống nhân dân ngày càng cùng cực đã làm lay chuyển gốc rễ địa
17
vị thống trị của thần quyền. Bởi vậy, môt thực tiễn đặt ra cho các nhà tƣ
tƣởng, các học phái, các tầng lớp thống trị là phải tìm ra những công cụ,
những phƣơng thức cai trị mới.
Sự xuất hiện của Nho giáo Khổng – Mạnh cũng nhằm giải đáp những
nhu cầu mà thực tiễn của xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ đặt ra. Nhƣng để cai
trị đƣợc dân chúng, những con ngƣời thuộc tầng lớp thống trị phải là những
ngƣời có “Trí”. Ngƣời có “Trí” mới biết ứng xử đúng đắn theo đúng địa vị,
trách nhiệm, bổn phận của mình.
1.2. Quan niệm của Nho giáo Khổng - Mạnh về nguồn gốc của “Trí”
1.2.1. Khái niệm về “Trí” và đặc điểm của nó trong học thuyết của
vấn đề của thế giới tự nhiên, do đó nếu có đề cập đến lĩnh vực này, chúng ta
thƣờng thấy khái niệm "Trời" vừa đƣợc dùng để chỉ giới tự nhiên, vừa chỉ
giới siêu nhiên có sức mạnh siêu việt, ban tính, mệnh cho con ngƣời, đồng
thời chi phối mọi hoạt động của còn ngƣời. Vấn đề này đƣợc Đổng Trọng
Thƣ (179 – 104 tr.CN) luận chứng cho mục đích chính trị của Nho giáo, đó là
đƣờng lối trị nƣớc bằng đạo đức (hay còn gọi là đức trị) kết hợp với thần
quyền. Nói tóm lại, Nho giáo Khổng – Mạnh với mục đích chính trị thực dụng
đã xác nhận "Trí" là một phạm trù đạo đức dùng để chỉ năng lực phán đoán,
suy lý và ứng xử đạo đức của con người. Đó cũng là đặc điểm nổi bật của
"Trí" trong hệ thống các phạm trù đạo đức của Nho giáo nói chung, Nho giáo
Khổng – Mạnh nói riêng.
Ngoài phạm trù "Trí", chúng ta còn gặp một khái niệm khác cũng đƣợc
sử dụng khá phổ biến trong Nho giáo là "tri" theo nghĩa "tri thức", tức là
những điều hiểu biết do từng trải và học tập mà thu đƣợc. Nhƣ vậy, so với
"Trí" thì "tri" ở mức tiếp nhận kiến thức (cấp 1), còn "Trí" là năng lực xử lý
các kiến thức đó vào hoạt động sống và sáng tạo (cấp 2). Tri là hiểu biết, do
đó Khổng Tử yêu cầu con ngƣời ta phải có lòng thành thực: "Hiểu biết thì nói
là hiểu biết, không hiểu biết thì nói là không hiểu biết, thế mới gọi là biết".
19
Xét về tƣợng hình thì hai chữ này chỉ khác nhau bộ nhật, tức là trong chữ
"Trí" ( ) có bộ nhật ở dƣới, ý nói "tri" ( ) đƣợc ánh sáng mặt trời soi tỏ.
1.2.2. Nho giáo Khổng – Mạnh về nguồn gốc của "Trí".
Khổng Tử là ngƣời sáng lập nên học thuyết Nho gia. Ông chủ trƣơng
xây dựng một học thuyết chính trị - xã hôi lấy Nhân làm tƣ tƣởng chỉ đạo, lấy
Lễ và Chính danh để điều chỉnh xã hội, dùng giáo hóa để cai trị dân. Trong
học thuyết của mình ông cũng bàn về phạm trù “Trí” với tƣ cách là một trong
những chuẩn mực đạo đức cơ bản.
Khổng Tử rất trọng đức “Trí”, cho nên trong Luận ngữ, “Trí” đƣợc đề
cập khá nhiều ở những tình huống khác nhau. Theo Khổng Tử, “Trí” đƣợc
thông minh trí tuệ là bậc “thượng trí”. Còn những kẻ sinh ra vốn ngu dốt, đần
độn là hạng “hạ ngu”. Đây là quan điểm có tính chất duy tâm tiên nghiệm đề
cao bậc thánh nhân, quân tử. Quan điểm này còn cho thấy, Khổng Tử không
chỉ có sự phân biệt hạng ngƣời mà còn có sự phân biệt về trình độ nhận thức.
Cả hai hạng ngƣời đó đều là số ít. Do đó, ông cũng nhấn mạnh đến vai trò của
giáo dục, sự cố gắng nỗ lực học tập, tu dƣỡng của cá nhân, coi đó là nguồn
gốc của “Trí” và đồng thời là cách thức nâng trí tuệ con ngƣời lên. Nếu không
khổ công rèn luyện chí và không có phƣơng pháp học tập đúng thì dù có thiện
tâm đến đâu cũng bị cái ngu muội, phóng đãng, phản loạn, cƣờng bạo ngăn
cản, che lấp làm cho lầm lạc. Ông đã lý giải điều này cho Tử Lộ: “Chuộng
điều nhân mà không ham học thì mối che lấp là ngu muội. Chuộng nết trí mà
không ham học thì mối che lấp là phóng đãng. Chuộng chữ tín mà không ham
học thì mối che lấp là sự tổn hại. Chuộng sự ngay thẳng mà không ham học
thì mối che lấp là ƣa phản loạn. Chuộng tính cứng cỏi mà không ham học thì
mối che lấp là tính cƣờng bạo” (Hiếu nhân bất hiếu học, kỳ tệ dã ngu. Hiếu trí
bất hiếu học, kỳ tệ dã đãng. Hiếu tín bất hiếu học, kỳ tệ dã tặc. Hiếu trực bất
hiếu học, kỳ tệ dã loạn. Hiếu cương bất hiếu học, kỳ tệ dã cuồng – Luận Ngữ.
Dương Hóa) [20, Luận ngữ, tr. 622]. Nhân, trí, tín, trực, dũng, cƣơng đều là