BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
TRẦN ĐÌNH KHUÊ
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TẠI CHI CỤC THUẾ
HUYỆN GIA BÌNH - TỈNH BẮC NINH CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ: 60.34.01.02 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. KIM THỊ DUNG HÀ NỘI - 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin được bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các cá nhân và tập thể đã
tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong học tập và nghiên cứu.
Trước hết em xin nói lời cảm ơn chân thành nhất tới PGS.TS Kim Thị
Dung, cô đã giúp đỡ tận tình và trực tiếp hướng dẫn em trong suốt thời gian em
thực hiện đề tài.
Học viên xin chân thành cảm ơn các ý kiến đóng góp và hướng dẫn của
các Thầy, Cô giáo trong khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh - Học viện
Nông nghiệp Việt Nam trong suốt thời gian học tập.
Tôi xin chân thành cám ơn lãnh đạo Cục thuế tỉnh Bắc Ninh, UBND
huyện Gia Bình, Chi cục thuế huyện Gia Bình, các ban ngành cùng với các
doanh nghiệp trên địa bàn huyện đã giúp tôi trong suốt quá trình thực hiện
Luận văn.
Tôi xin cảm ơn sự động viên, giúp đỡ của bạn bè và gia đình đã giúp
tôi thực hiện luận văn này.
Tôi xin chân thành cám ơn./.
Hà Nội, tháng 10 năm 2014
Học viên Trần Đình Khuê
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục viết tắt vii
3.1.6 Đặc điểm giáo dục – đào tạo – Y tế 39
3.1.7 Đặc điểm cơ sở hạ tầng kỹ thuật 39
3.2 Đặc điểm cơ bản về chi cục thuế huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh 41
3.2.1 Vị trí, chức năng nhiệm vụ và quyền hạn của chi cục thuế huyện
Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. 41
3.2.2 Cơ cấu tổ chức, nhân lực và trang thiết bị tại Chi cục thuế huyện
Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. 44
3.2.3 Kết quả thu NSNN của chi cục thuế huyện Gia Bình giai đoạn
2011-2013. 48
3.3 Phương pháp nghiên cứu 49
3.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 49
3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 50
3.3.3 Phương pháp phân tích 51
3.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 51
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 53
4.1 Thực trạng công tác quản lý thuế các doanh nghiệp tại chi cục
thuế huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh. 53
4.1.1 Thực trạng doanh nghiệp tại chi cục thuế huyện Gia Bình. 53
4.1.2 Quản lý công tác đăng ký, kê khai, nộp thuế, ấn định thuế 55
4.1.3 Quản lý thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế. 58
4.1.4 Quản lý xoá nợ tiền thuế, tiền phạt; Quản lý công tác cưỡng chế
thi hành quyết định hành chính thuế 60
4.1.5 Quản lý công tác kiểm tra thuế. 63
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page v
4.1.6 Quản lý giải quyết khiếu, nại tố cáo về thuế: 68
4.2 Đánh giá tình hình quản lý thuế đối với doanh nghiệp tại chi cục
thuế huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh. 69
4.2.1 Những kết quả đã đạt được 69
Hành chính – Nhân sự - Tài vụ - Ấn chỉ
8. NNT: Người nộp thuế
9. NQD: Ngoài quốc doanh
10. NSNN: Ngân sách nhà nước
11. TNCN: Thu nhập cá nhân
12. TNDN: Thu nhập doanh nghiệp
13. TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
14. TTHT: Tuyên truyền hỗ trợ
15. UBND: Ủy ban nhân dân
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page viii
DANH MỤC BẢNG
STT Tên bảng Trang
2.1 Mức thuế Môn bài phải nộp 12
Biểu đồ 3.1 Biến động cơ cấu kinh tế huyện Gia Bình năm 2005 – 2011 36
Biểu đồ 4.1 Kết quả thu thuế của các doanh nghiệp tại chi cục thuế Gia
Bình giai đoạn 2011 – 2013 54
Sơ đồ 3.1 Cơ cấu tổ chức củc chi cục thuế huyện Gia Bình 44
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 1
1. MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Thuế là một trong những chính sách kinh tế - xã hội hết sức quan trọng
của Đảng và Nhà nước ta, là công cụ điều tiết nền kinh tế phát triển theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất kinh doanh
phát triển. Các khoản thu từ thuế là nguồn đóng góp quan trọng của ngân
sách Nhà nước và là một công cụ quan trọng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế
của mỗi quốc gia. Công cụ thuế được Chính phủ sử dụng để tạo sự ổn định
môi trường kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, khai thác, phân phối và sử dụng
các nguồn lực một cách có hiệu quả, khuyến khích tiết kiệm và tăng đầu tư,
ổn định tài chính tiền tệ, tạo ra sự đảm bảo an toàn về tài chính cho các hoạt
động kinh tế xã hội . Với tầm quan trọng như vậy chính phủ đã có đề án xây
dựng và được thông qua “Chiến lược cải cách thuế đến năm 2020”. Thuế là
một khoản đóng góp có tính pháp lý cao, với yêu cầu bắt buộc và có thể
cưỡng chế. Trong nền kinh tế, các doanh nghiệp đóng góp nghĩa vụ chủ yếu
với Nhà nước bằng nguồn tiền thuế nộp vào ngân sách Nhà nước. Trong giai
đoạn hiện nay, các doanh nghiệp (DN) chiếm tỷ trọng nhiều về số lượng và
nguồn thu nhập của toàn bộ các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Do vậy
doanh nghiệp đóng góp phần quan trọng trong việc duy trì và phát triển hoạt
động kinh tế cũng như đóng góp nguồn thu ngân sách tại địa phương. Trong
thực tế, việc quản lý thuế của các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất nói chung
1.2.1. Mục tiêu chung
Trên cơ sở phản ánh và đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế trong
những năm qua đối với các doanh nghiệp tại chi cục thuế huyện Gia Bình -
tỉnh Bắc Ninh để có cơ sở đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm hoàn thiện công
tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp cho chi cục thuế huyện Gia Bình – tỉnh
Bắc Ninh.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 3
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về
thuế và quản lý thuế đối với doanh nghiệp.
- Phản ánh và đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế đối với các
doanh nghiệp tại Chi cục thuế Gia Bình , tỉnh Bắc Ninh trong thời gian từ
năm 2011-2013.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với
các doanh nghiệp tại chi cục thuế huyện Gia Bình - tỉnh Bắc Ninh trong giai
đoạn tới.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề liên quan đến quản lý thuế
của Chi cục thuế Gia Bình đối với các doanh nghiệp ở huyện Gia Bình - tỉnh
Bắc Ninh.
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu.
- Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu tại Chi cục thuế Gia Bình và
các doanh nghiệp đóng trên địa bàn huyện Gia Bình - tỉnh Bắc Ninh.
- Phạm vi về thời gian: Các số liệu và tài liệu nghiên cứu tập trung vào
giai đoạn 2011 - 2013.
- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý thuế đối
với doanh nghiệp tại chi cục thuế huyện Gia Bình tập trung chủ yếu vào 4 nội
phạm pháp luật của quốc gia đó. (Phan Thị Cúc - Trần Phước - Nguyễn Thị
Mỹ Linh, 2007;)
2.1.1.2. Khái niệm về quản lý.
Khái niệm quản lý Một cách tổng quát nhất, quản lý được xem là quá
trình "tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”
Quản lý là sự tác động có hướng của con người nhằm mục đích biến
đổi đối tượng quản lý từ trạng thái này sang trạng thái khác bằng các phương
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 5
pháp tác động khác nhau.
Công tác quản lý cần có ba yếu tố: nhà quản lý, các công cụ quản lý, đối
tượng quản lý. Sản phẩm của quản lý là các quyết định, các biện pháp, các chỉ
thị, các mệnh lệnh để kích thích tăng trưởng và phát triển với hiệu quả cao hơn.
Nền kinh tế quốc dân cũng như bất cứ một đơn vị kinh tế nào khác đều
có thể coi là một hệ thống quản lý bao gồm hai bộ phận là: Chủ thể quản lý và
đối tượng quản lý (hay nhiều khi còn được gọi là bộ phận quản lý và bộ phận
bị quản lý).
Hai bộ phận này có liên quan mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn
nhau, tạo nên một chỉnh thể thống nhất. Chủ thể quản lý trên cơ sở các mục
tiêu đã xác định tác động đến đối tượng quản lý bằng những quyết định của
mình và thông qua hành vi của đối tượng quản lý - mối quan hệ ngược có thể
giúp chủ thể quản lý có thể điều chỉnh các quyết định đưa ra.
2.1.1.3. Khái niệm về quản lý thuế.
Quản lý thuế là quá trình hoạch định kế hoạch thuế cũng như chương
trình mục tiêu, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá kết quả thực
hiện so với mục tiêu đề ra, phát hiện những sai sót và gian lận để uốn nắn,
chỉnh sửa trong công tác quản lý ở những kỳ tiếp theo.
Quy trình quản lý thuế luôn gắn với quá trình nhà quản lý thuế (chủ thể
quản lý) sử dụng các chức năng quản lý tác động tới khách thể quản lý (đối
quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh
bao gồm các loại hình : Công ty hợp danh, công ty TNHH (1 thành viên hoặc
từ 2 thành viên trở lên), công ty cổ phần và doanh nghiệp tư nhân. Các doanh
nghiệp này có sự đa dạng về chủ sở hữu, hoặc là sở hữu tư nhân bởi một cá
nhân, tổ chức hoặc là đồng chủ sở hữu, và trong đó có thể có phần sở hữu một
phần của Nhà nước (tuỳ vào tỉ lệ sở hữu phần vốn góp trong doanh nghiệp mà
Nhà nước có quyền chi phối hay không).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 7
2.1.2. Đặc điểm, chức năng quản lý thuế đối với doanh nghiệp
2.1.2.1. Đặc điểm của quản lý thuế đối với doanh nghiệp
Hoạt động quản lý thuế nói chung và đối với các doanh nghiệp nói
riêng có các đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất: Quản lý thuế là việc quản lý bằng pháp luật.
Hoạt động quản lý thuế được quy định rõ trong pháp luật quản lý thuế,
thông qua các văn bản quy phạm pháp luật như Luật quản lý thuế 2006, Nghị
định số 85/2007/NĐ-CP, Nghị định số 106/2010/NĐ-CP. Các văn bản này
quy định quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm của người nộp thuế cũng như
quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền quản lý.
Thứ hai: Quản lý thuế được thực hiện chủ yếu bằng phương pháp hành
chính.
Trong các phương pháp quản lý như phương pháp kinh tế, phương
pháp cưỡng chế, phương pháp giáo dục thuyết phục, phương pháp hành
chính thì phương pháp hành chính được sử dụng chủ yếu trong hoạt động
quản lý thuế. Phương pháp này chủ yếu được thể hiện ở việc tuân thủ mệnh
lệnh, quyết định đơn phương của cơ quan quản lý cấp trên. Đối tượng nộp
thuế phải chấp hành nghiêm chỉnh quyết định của cơ quan cấp trên trong lĩnh
vực nộp thuế. Cơ quan quản lý được ra những quyết định quản lý buộc đối
tượng nộp thuế phải thực hiện. Nếu không chấp hành thì đối tượng nộp thuế
- Chức năng hành thu: tổ chức, điều hành quá trình huy động nguồn thu
từ thuế vào ngân sách Nhà nước. Đây là chức năng quan trọng, thu hút đông
đảo nhân lực trong ngành thuế.
Chức năng này được thực hiện thông qua bộ máy thu thuế. Đó là tổng
thể các cơ quan hành chính có quan hệ hữu cơ với nhau trên cơ sở chức năng,
nhiệm vụ và quan hệ công tác được quy định để tổ chức thực thi các luật thuế.
Bộ máy thu thuế được phân chia thành các cấp khác nhau từ trung ương
đến tỉnh, huyện. Tổng cục thuế đề ra chế độ, chính sách về thuế; Cục thuế và
chi cục thuế tham gia trực tiếp vào việc thu thuế. Các cán bộ làm việc trong
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 9
bộ máy này cần phải có trình độ, chuyên môn nghiệp vụ để đảm bảo thực hiện
đúng quy trình quản lý thuế. Quy trình này bao gồm những công việc, thao
tác nghiệp vụ của cán bộ quản lý thuế đối với đối tượng nộp thuế, trách nhiệm
của từng bộ phận trong công việc quản lý, mối quan hệ phối hợp giữa các bộ
phận, thời hạn và thời điểm phải hoàn thành các bước công việc, yêu cầu phải
đạt được của công việc cụ thể. Đối với quản lý thuế, các phần việc phải được
quy định một cách khoa học, liên hoàn, thống nhất theo thứ tự yêu cầu quản
lý và thuận lợi cho người nộp thuế.
- Chức năng kiểm tra, giám sát: kiểm tra, giám sát đối tượng nộp thuế
và cán bộ thuế trong việc chấp hành các quy định của pháp luật thuế, các
chính sách thuế.
Chức năng này có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau:
kiểm tra hồ sơ thuế tại trụ sở cơ quan quản lý thuế, kiểm tra tại trụ sở của
người nộp thuế với mục đích đánh giá tính chính xác, đầy đủ của thông tin
chứng từ trong hồ sơ thuế và sự tuân thủ pháp luật của đối tượng nộp thuế.
Thanh tra thuế cũng được thực hiện dưới các hình thức khác nhau và các đối
tượng khác nhau để giải quyết các khiếu nại, tố cáo, ngăn chặn những dấu
hiệu vi phạm về thuế. Xử lý vi phạm pháp luật về thuế bằng biện pháp xử
Linh )
Thứ ba: Thuế góp phần tạo môi trường kinh doanh công bằng, bình
đẳng khuyến khích đầu tư phát triển kinh tế
Việc áp dụng chính sách thuế thống nhất đối với mọi thành phần kinh
tế trong phạm vi cả nước đã góp phần tạo nên sân chơi bình đẳng, thúc đẩy
cạnh tranh và khuyến khích phát triển mọi thành phần kinh tế trong phạm vi
cả nước góp phần tạo ra sân chơi bình đẳng thúc đẩy cạnh trạnh và khuyến
khích phát triển mọi thành phần kinh tế. Trong quá trình triển khai thực hiện,
chính sách thuế luôn được điều chỉnh linh hoạt, kịp thời, phù hợp với yêu cầu
thực tiễn và hội nhập kinh tế quốc tế. (Phan Thị Cúc - Trần Phước - Nguyễn
Thị Mỹ Linh)
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 11
Thứ tư: Thuế góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Thuế phục vụ định hướng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế phụ thuộc rất lớn vào mối quan hệ cung cầu
của thị trường. Có nhu cầu tất yếu đòi hỏi phải phát triển sản xuất, dịch vụ để
cung ứng đủ nhu cầu và ngược lại. Mục tiêu của chuyển dịch cơ cấu kinh tế là
làm tăng tổng cung gắn với kích cầu để quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
đạt kết quả tốt. Tổng cầu tăng hay giảm phụ thuộc vào nhiều yếu tố liên quan,
chủ yếu là thu nhập của các tầng lớp dân cư, giá cả từng sản phẩm, cơ cấu
hàng hoá trên thị trường.
Thuế góp phần phân bổ lại nguồn lực nhằm thực hiện tốt chương trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế. (Phan Thị Cúc - Trần Phước - Nguyễn Thị Mỹ Linh)
Thứ năm, hiện nay chúng ta đã hội nhập đầy đủ toàn diện với kinh tế
quốc tế; để đảm bảo yêu cầu phù hợp với các điều ước và thông lệ quốc tế về
chính sách tài chính, đồng thời tạo điều kiện tối đa cho cho người nộp thuế
trong việc kê khai nộp thuế thì đòi hỏi Nhà nước - đại diện là cơ quan thuế -
phải nâng cao vai trò của mình trong quản lý thuế.
Bậc 4 Dưới 2 tỷ 1.000.000
(Nguồn: Thông tư số 42/2003/TT-BTC ngày 07/5/2003 Bộ Tài chính;)
Thuế Giá trị gia tăng
Theo Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12 ngày 03/6/2008 thì Thuế giá
trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh
trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.
Giá tính thuế được quy định như sau: Đối với hàng hoá, dịch vụ do cơ
sở sản xuất, kinh doanh bán ra là giá bán chưa có thuế giá trị gia tăng. Đối
với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là giá bán đã có thuế tiêu thụ
đặc biệt nhưng chưa có thuế giá trị gia tăng. Đối với hàng hóa nhập khẩu là
giá nhập tại cửa khẩu cộng với thuế nhập khẩu (nếu có), cộng với thuế tiêu
thụ đặc biệt (nếu có). Giá nhập tại cửa khẩu được xác định theo quy định về
giá tính thuế hàng nhập khẩu. (Quốc hội, 2008)
Thuế suất: Có 3 mức 0% (cho các hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu); 5%
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 13
(nước sạch, thiết bị, dụng cụ y tế, hoạt động văn hoá, triển lãm); thuế suất
10% (cho các mặt hàng còn lại).
Phương pháp tính thuế giá trị gia tăng gồm: Phương pháp khấu trừ
thuế giá trị gia tăng và phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng.
+ Phương pháp khấu trừ thuế giá trị gia tăng được quy định như sau:
Số thuế giá trị gia tăng phải nộp theo phương pháp khấu trừ thuế bằng số thuế
giá trị gia tăng đầu ra trừ số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ. Số
thuế giá trị gia tăng đầu ra bằng tổng số thuế giá trị gia tăng của hàng hoá,
dịch vụ bán ra ghi trên hoá đơn giá trị gia tăng. Số thuế giá trị gia tăng đầu
vào được khấu trừ bằng tổng số thuế giá trị gia tăng ghi trên hóa đơn giá trị
gia tăng mua hàng hóa, dịch vụ, chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng của hàng
hóa nhập khẩu.
+ Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp được quy định cụ thể đối với
từng loại hình doanh nghiệp theo luật.
Phương pháp tính thuế: Số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong
kỳ tính thuế được tính bằng thu nhập tính thuế nhân với thuế suất; trường hợp
doanh nghiệp đã nộp thuế thu nhập ở ngoài Việt Nam thì được trừ số thuế thu
nhập đã nộp nhưng tối đa không quá số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp
theo quy định của pháp luật. (Quốc hội, 2008;)
Thuế Tiêu thụ đặc biệt
Tại Luật thuế TTĐB số 27/2008/QH12 ngày 14/11/2008 thì Thuế Tiêu
thụ đặc biệt là khoản thuế gián thu, chỉ thu đối với một số sản phẩm hàng hóa,
dịch vụ mà Nhà nước có chính sách định hướng tiêu dùng. Thuế Tiêu thụ đặc
biệt thường áp dụng thuế suất cao mục tiêu nhằm điều tiết thu nhập của những
cá nhân tiêu dùng các hàng hoá dịch vụ đặc biệt.
Căn cứ tính thuế: Căn cứ tính thuế tiêu thụ đặc biệt là giá tính thuế của
hàng hóa, dịch vụ chịu thuế và thuế suất. Số thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp
bằng giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt nhân với thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt.
Giá tính thuế: Giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng hoá, dịch vụ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 15
là giá bán ra, giá cung ứng dịch vụ chưa có thuế tiêu thụ đặc biệt và chưa có
thuế giá trị gia tăng.
Thuế suất: Thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng hoá, dịch vụ
được quy định theo Biểu thuế tiêu thụ cho từng loại hàng hoá, dịch vụ theo
quy định của Luật thuế TTĐB. (Quốc hội, 2008;)
Thuế Tài nguyên
Theo Luật thuế Tài nguyên số 45/2009/QH12 ngày 25/11/2009. Thuế
tài nguyên là loại thuế thu vào các hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên.
Căn cứ tính thuế tài nguyên: Là sản lượng tài nguyên thương phẩm
thực tế khai thác, giá tính thuế và thuế suất.
thuế do cơ quan quản lý thuế thực hiện theo quy định của Chính phủ.
- Hồ sơ khai thuế.
- Thời hạn, địa điểm nộp hồ sơ khai thuế: Chậm nhất là ngày thứ hai
mươi của tháng tiếp theo tháng phát sinh nghĩa vụ thuế đối với loại thuế khai
và nộp theo tháng.
- Trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế trong
việc tiếp nhận hồ sơ khai thuế.
- Ấn định thuế đối với người nộp thuế nộp thuế theo phương pháp kê
khai trong trường hợp vi phạm pháp luật về thuế.
- Thời hạn nộp thuế.
+ Trường hợp người nộp thuế tính thuế, thời hạn nộp thuế chậm nhất là
ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai thuế.
+ Trường hợp cơ quan quản lý thuế tính thuế hoặc ấn định thuế, thời
hạn nộp thuế là thời hạn ghi trên thông báo của cơ quan quản lý thuế.
- Đồng tiền nộp thuế: Đồng tiền nộp thuế là Đồng Việt Nam, trừ trường
hợp nộp thuế bằng ngoại tệ theo quy định của Chính phủ.
- Thứ tự thanh toán tiền thuế, tiền phạt.
+ Tiền thuế nợ;
+ Tiền thuế truy thu;