Ứng dụng phương pháp hình thức hóa trong việc thẩm định tính logic của các mệnh đề trong các văn bản pháp luật - Pdf 28


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
*** NGUYỄN THỊ THU
ỨNG DỤNG PHƢƠNG PHÁP HÌNH THỨC HÓA
TRONG VIỆC THẨM ĐỊNH TÍNH LOGIC CỦA
CÁC MỆNH ĐỀ TRONG CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT
LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: Triết học
Hà Nội - 2014

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI


Học viên

Nguyễn Thị Thu LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc
nhất đến PGS. TS Nguyễn Thuý Vân, người đã hết lòng giúp đỡ tôi trong suốt
quá trình thực hiện luận văn thạc sỹ.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các quý thầy, cô trong và ngoài trường
đã tạo điều kiện, nhiệt tình giúp đỡ tôi. Đặc biệt,tôi xin cảm ơn các thầy cô
trong Khoa Triết học, trường Đại học Khoa học xã hội nhân văn đã cung cấp
cho tôi nền tảng kiến thức quý báu và sự giúp đỡ tận tình để tôi có thể hoàn
thành luận văn của mình.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình và cơ quan đã
luôn tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học cũng như thực hiện
luận văn.
Hà Nội, ngày 31 tháng 10 năm 2014

Học viên

Nguyễn Thị Thu 1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1. Tính cấp thiết của đề tài 3
2. Tình hình nghiên cứu đề tài 5

ĐỀ ĐÓ 64
2.1. Tính logic của các mệnh đề trong văn bản pháp luật 64
2.1.1. Yêu cầu gắn kết hình thức của các mệnh đề văn bản pháp luật
với nội dung cần phản ánh 64
2.1.2. Yêu cầu đảm bảo tính nhất quán, tính không mâu thuẫn, tính xác
định và tính có căn cứ trong các văn bản pháp luật. 70
2.2. Các bƣớc dùng phƣơng pháp hình thức hoá để thẩm định tính
logic của mệnh đề trong các văn bản pháp luật 78
2.2.1. Chuyển đổi nội dung của các mệnh đề trong văn bản pháp luật
sang hình thức tư tưởng và mã hoá chúng 78
2.2.2. Dùng lý thuyết của phương pháp hình thức để kiểm tra tính đúng
đắn của nội dung và hình thức thể hiện của văn bản 82
Tiểu kết chƣơng 2 100
KẾT LUẬN 101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103 3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thế kỷ XXI, thế giới bước vào giai đoạn phát triển cao của tri thức khoa học
và công nghệ. Cùng với sự xâm nhập lẫn nhau giữa các lĩnh vực kinh tế, chính
trị, văn hóa… trong quá trình toàn cầu hóa thì một sự xâm nhập khác cũng đang
diễn ra giữa các khoa học, các ngành khoa học khác nhau, giữa các lĩnh vực tri
thức khác nhau của nhân loại. Sự xâm nhập này một mặt giúp các khoa học gạt bỏ
những biên giới tuyệt đối giữa chúng, mặt khác nó giúp cho con người khắc phục
được những hạn chế của mỗi một ngành khoa học khi giải quyết những vấn đề hoàn
toàn mới mà bản thân mỗi một ngành khoa học không thể giải quyết được. Xu thế
liên kết giữa các lĩnh vực tri thức, hay nghiên cứu liên ngành là một xu thế tất
yếu của thời đại. Nó phản ánh đúng sự phát triển khách quan của lịch sử và tư

không rõ ràng dẫn đến những cách hiểu và áp dụng khác nhau. Đây chính là
những “lỗ hổng” của pháp luật, là cơ hội để những người thực hiện pháp luật có
thể lách luật theo cách có lợi để đạt được mục đích của mình… Điều đó cho thấy
hệ thống văn bản pháp luật ở nước ta hiện nay còn kém hiệu quả, chưa toàn diện,
chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn. Vậy làm thế nào để tạo ra được
những văn bản pháp luật có tính chuyên nghiệp cao, đảm bảo tính hiệu quả khi đi
vào cuộc sống? Một trong những cách thức để giải quyết vấn đề này là vận dụng đúng
đắn các phương pháp và quy luật logic vào việc xây dựng và thẩm định tính logic của
các văn bản pháp luật, cụ thể là ứng dụng phương pháp hình thức hóa. Việc hình thức
hoá các văn bản pháp luật có tác động rất quan trọng, nó vừa giúp kiểm tra sự tường
minh, chính xác về mặt nội dung của các văn bản pháp luật, đồng thời nó đảm bảo sự
cụ thể hóa các văn bản luật thành các văn bản dưới luật được chính xác, cụ thể và nhờ
thế đảm bảo tính hiệu quả trong quá trình ban hành và thực hiện.
Vì những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Ứng dụng phương pháp hình thức hoá
trong việc thẩm định tính logic của các mệnh đề trong các văn bản pháp luật” để
nghiên cứu. Theo chúng tôi, đây không chỉ là một nhu cầu cấp thiết về mặt lý luận
mà còn là một đòi hỏi có tính nguyên tắc của thực tiễn xây dựng pháp luật ở nước ta
hiện nay. Điều này sẽ ảnh hưởng quan trọng tới quá trình xây dựng và hoàn thiện
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong thời kỳ phát triển mới. 5
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Việc ứng dụng phương pháp hình thức hoá vào việc thẩm định tính logic của
các mệnh đề trong các văn bản pháp luật là một nhu cầu cấp thiết. Nhưng đây là
lĩnh vực khá mới mẻ ở Việt Nam nên chưa có công trình nào nghiên cứu trực tiếp
về vấn đề này, chỉ có những công trình nghiên cứu có khả năng hỗ trợ gián tiếp
nằm rải rác trong hai lĩnh vực nghiên cứu:
- Những công trình nghiên cứu trong lĩnh vực luật pháp và các văn bản
pháp luật

trách nhiệm của nhà soạn thảo luật, nhwungx yếu tố cần quan tâm trong trình tự
lập pháp, quy trình xây dựng dự luật một cách khoa học… Cuốn sách đã trình
bày những kỹ năng soạn thảo văn bản cụ thể giúp các nhà làm luật có thể xây dựng
được một đạo luật có hiệu quả.
+ “Góp phần bàn về cải cách pháp luật ở Việt Nam hiện nay” của Tiến sĩ Luật
học Ngô Huy Cương. Trong công trình này, tác giả đã trình bày khá toàn diện
các vấn đề lớn liên quan đến công cuộc cải cách pháp luật. Chúng ta có thể tìm
thấy trong cuốn sách này các quan niệm về cải cách pháp luật, kinh nghiệm của
một số công cuộc cải cách pháp luật lớn trên thế giới, sự cần thiết cải cách pháp
luật, các khiếm khuyết của hệ thống pháp luật của nước ta và các nguyên nhân,
các định hướng lớn, cách thức cải cách, chiến lược lập pháp, các quan điểm cải
cách cụ thể trong cả lĩnh vực luật tư và luật công.
- Những công trình nghiên cứu trong lĩnh vực lôgíc học, toán học nghiên
cứu về phương pháp hình thức hoá và sự ứng dụng tư duy logic trong một số
lĩnh vực của đời sống xã hội:
+ Giáo trình Lôgíc học đại cương của Vương Tất Đạt; Giáo trình Lôgíc hình
thức do GS. Bùi Thanh Quất làm chủ biên; Lôgíc học đại cương của PGS.TS.
Nguyễn Anh Tuấn và PGS.TS. Nguyễn Thuý Vân. Trong những giáo trình này,
các tác giả đã trình bày đầy đủ, sâu sắc những vấn đề cơ bản của Lôgíc học hình
thức, phương pháp hình thức hoá cũng như những hình thức tư duy lôgíc. Từ đó,
người đọc được cung cấp đầy đủ, chi tiết những kiến thức cơ bản về các hình
thức của tư duy như: khái niệm, phán đoán, suy luận cũng như những cách suy
diễn để đạt được tri thức đúng đắn phù hợp với thực tiễn khách quan.

7
+ “Mấy vấn đề về logic trong giảng dạy toán học” của tác giả Hoàng Chúng.
Cuốn sách này đề cập đến mấy vấn đề đại cương về khái niệm, phán đoán, suy
luận và chứng minh diễn dịch dành cho giáo viên dạy toán học. Đặc biệt, cuốn
sách đã lý giải nguyên nhân vì sao logic toán lại đóng vai trò quan trọng trong
việc trình bày logic hình thức và ý nghĩa thực tiễn cực kỳ quan trọng của logic

Nguyễn Thanh Tân. Luận án đã phân tích các quy luật và chiều hướng có tính
quy luật hợp thành logic chủ yếu của sự vận động khái niệm trong tư duy lý luận,
làm rõ thêm lập trường duy vật biện chứng trong việc giải đáp những vấn đề lý
luận nhận thức và logic học về tư duy và khái niệm góp phần tìm hiểu cơ sở logic
của sự đổi mới, phát triển khái niệm và tư duy lý luận như một chiều cạnh khác
của hình thức tư duy dưới góc độ tư duy biện chứng
+ Nghiên cứu về nội dung cơ bản của tư duy hình thức, cần phải kể đến
những bài viết của tác giả Vũ Văn Viên như:
“Logic hình thức và tư duy chính xác”, in trên tạp chí Triết học số 4, tháng 12,
năm 1991. Trong bài báo này, tác giả đã trình bày vai trò của logic hình thức – khoa
học về tư duy chính xác và sự cần thiết phải học tập và nghiên cứu logic hình thức.
“Logic hình thức và phương pháp toán học ”, in trên tạp chí Triết học số 9
tháng 9 năm 2000. Trong bài viết này, tác giả đã phân tích quan hệ giữa logic
hính thức và phương pháp toán học, từ đó làm rõ bản chất của phương pháp toán
học với tư cách là công cụ của tư duy duy lý và những biểu hiện của phương
pháp hình thức hóa thông qua mối quan hệ này.
“Vấn đề chính xác hóa các quy luật của logic học hình thức”, in trên tạp chí
Triết học số 6, tháng 12 năm 1997. Trong bài viết này, tác giả đã xem xét một số
vấn đề liên quan đến tính chính xác khi trình bày các quy luật cơ bản của logic
học hình thức trong các hình thức của tư duy.
“Tư duy logic bộ phận hợp thành của tư duy khoa học”, in trên tạp chí Triết
học số 12 tháng 12 năm 2006. Trong bài viết này, tác giả đã luận giải để làm rõ
tư duy logic là một bộ phận hợp thành của tư duy khoa học. Tư duy logic cùng
thống nhất với tư duy biện chứng tạo ra tư duy khoa học chính xác, trong đó, tư
duy tư duy biện chứng là phương pháp luận chỉ đạo còn tư duy logic là tổng hợp

9
các thao tác logic. Trên cơ sở luận chứng vai trò của tư duy logic trong tư duy
khoa học, tác giả khẳng định ý nghĩa quan trọng của việc học tập logic học –
giúp con người không những nắm vững, mà còn rèn luyện các ký năng, kỹ xảo tư

văn bản pháp luật.
- Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích trên, luận văn phải thực hiện những nhiệm
vụ sau:
+ Thứ nhất: Khái quát những vấn đề lý luận cơ bản của phương pháp hình
thức hoá, văn bản pháp luật và tầm quan trọng của việc ứng dụng phương pháp
hình thức hóa trong xây dựng văn bản pháp luật.
+ Thứ hai: Phân tích tính logic của các mệnh đề trong các văn bản pháp luật
+ Thứ ba: Phân tích việc ứng dụng phương pháp hình thức hoá vào thẩm định
tính logic của các mệnh đề trong các văn bản pháp luật ở Việt Nam.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: là quan điểm mácxít về lý luận nhận thức và lôgíc học, về
mối quan hệ giữa triết học và các khoa học cụ thể, cụ thể là mối quan hệ giữa
lôgíc học và luật học.
- Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và các
phương pháp nghiên cứu khác như: phân tích, tổng hợp, logic - lịch sử, so sánh,
đối chiếu, diễn dịch, quy nạp…
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quá trình ứng
dụng phương pháp hình thức hoá để thẩm định tính logic của các mệnh đề trong
các văn bản pháp luật.
- Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu là phương pháp hình thức hoá trong
logic học hình thức và các văn bản pháp luật ở Việt Nam hiện nay (thể hiện qua một
số văn bản luật cụ thể như: Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự, Luật đất đai…)
6. Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa lý luận: Luận văn mong muốn từ việc phân tích tác dụng của việc
ứng dụng phương pháp hình thức hoá trong thẩm định tính logic của các mệnh đề
trong các văn bản pháp luật để từ đó góp phần xây dựng các văn bản pháp luật
chặt chẽ, logic, đảm bảo tính hiệu quả trong thực tiễn.

11

đặc thù của khoa học triết học là gì? Nói một cách khác, phương pháp biện chứng
hay phương pháp siêu hình chưa cho phép khái quát thành phương pháp triết học
chung nhất cho mọi trường phái triết học. Theo nhận định của nhiều nhà nghiên
cứu, đối với khoa học triết học, phương pháp duy nhất mang tính đặc thù của nó
phải gắn liền với tính khái quát, trừu tượng của tri thức triết học, cũng như thao
tác tư duy truy cập tới nó. Đó là phương pháp được áp dụng với một quy mô
rộng lớn bao quát toàn bộ các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy.

13
Là khoa học sinh ra từ triết học, đồng thời cũng là một bộ phận của triết học,
lôgíc học hình thức không thể không áp dụng phương pháp trừu tượng hoá và
khái quát hoá của triết học. Nhưng khi tồn tại với tư cách là khoa học độc lập
tương đối so với triết học, với những nội dung phản ánh và phương pháp phản
ánh đặc thù, nên có thể khẳng định rằng, phương pháp hình thức hoá chính là
phương pháp đặc trưng của lôgíc hình thức.
Trong sự tồn tại của mình, nội dung của đối tượng bất kỳ được hiểu là tổng
thể các bộ phận và quá trình liên hệ với nhau một cách xác định và tạo nên đối
tượng hoặc hiện tượng. Tương ứng thì nội dung của tư duy là những hiểu biết, tri
thức của con người về thế giới xung quanh được cấu thành từ những ý nghĩ, tư
tưởng. Còn hình thức của tư duy hay hình thức logic là kết cấu của tư tưởng, là
phương thức liên hệ các bộ phận của tư tưởng. Đó là cái mà các tư tưởng cho dù
khác nhau bao nhiêu về nội dung cụ thể, thì ở đó vẫn tương tự nhau. Trong logic
hình thức, rõ ràng việc nghiên cứu mặt hình thức được ưu tiên hơn mặt nội dung
của tư duy, song không có nghĩa là mặt nội dung của tư duy không có vai trò gì,
vì trong bất kỳ tư duy nào cũng có một nội dung nhất định.
Cũng vì lẽ đó, trong logic học, chúng ta luôn thấy có hai khái niệm song hành
nhau: tính đúng đắn (chính xác) hay không đúng đắn và tính chân thực hay giả
dối của tư duy. Khi nói đến tính đúng đắn hay không đúng đắn tức là nói đến
hình thức của tư duy, còn khi nói đến tính chân thực hay giả dối là nói đến nội
dung phản ánh của tư duy có phù hợp với hiện thực hay không. Trong logic hình

thứ ngôn ngữ riêng, đó là lý do cốt yếu để các nhà vật lý học không thể bỏ qua
toán học, logic học. Toán học và logic học cung cấp cho họ thứ ngôn ngữ duy
nhất để nói và viết. Tuy nhiên sự áp dụng toán học và logic học vào các khoa học
khác có những giới hạn nhất định của nó. Một mặt, mức độ và ý nghĩa của sử
dụng toán học, logic học không hoàn toàn giống nhau đối với các khoa học khác
nhau, mặt khác, đối tượng nghiên cứu càng phức tạp và đa dạng thì càng khó áp
dụng những ngôn ngữ toán học và logic học vào để hình thức hóa chúng. Chính
vì lẽ đó, cho đến ngày nay, việc áp dụng toán học và logic học vào các khoa học
xã hội còn hạn chế hơn so với các khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật khác.

15
Như vậy, hình thức hóa là phương pháp mô tả chính xác nội dung của nhận
thức bằng các công cụ như ngôn ngữ thông thường, ngôn ngữ toán học, ngôn ngữ
logic. Có thể gọi ngôn ngữ thông thường như: tiếng nói, chữ viết là loại hình thức
hóa đầu tiên. Sự vật hiện tượng khi được nói lên, viết ra thì những nội dung
phong phú, phức tạp, muôn hình muôn vẻ của nó đã được hình thức hóa, tức chỉ
còn giữ lại ở mức độ chung, trừu tượng, khái quát, đơn giản. Ở cấp độ thứ hai,
nội dung của tư tưởng có thể được mã hóa dưới dạng các cấu trúc mệnh đề tuân
theo các ngôn ngữ của toán học và logic học. Đó chính là lúc người ta sử dụng
phương pháp hình thức hóa. Vậy: “phương pháp hình thức hoá là phương pháp
áp dụng các ký hiệu nhân tạo để mã hoá cấu trúc của tư tưởng trong sự trừu
tượng nội dung cũng như giá trị chân thực hay giả dối của sự phản ánh, kết quả
ta thu được lược đồ logic về nó”. (Xem 43; Tr 224 )
Ví dụ: Mô hình hóa câu phức sau: Cố ý phạm tội là phạm tội trong trường
hợp nhận thức rõ hành vi của mình có tính chất nguy hiểm cho xã hội, thấy trước
hậu quả của hành vi đó và mong muốn hoặc có ý thức để mặc hậu quả xảy ra.
Để có thể mã hóa cấu trúc của một câu phức, ta cần thực hiện những bước sau:
- Bước 1: Xác định các liên từ phân chia câu phức thành các câu thành phần
- Bước 2: Đặt ký hiệu cho các câu thành phần
- Bước 3 Chọn phép toán logic tương ứng với các liên từ logic

nó là phương pháp gác lại nội dung của tư duy theo nghĩa sự phát triển của nhận
thức và tính chất lịch sử của nó. Nó chỉ lấy hình thức như là cái gí đó chung,
hoàn toàn không tính gì đến cái đơn nhất và cái đặc thù mà rất có thể bị bao gồm
trong hình thức đó. Phương pháp này khảo sát từng hình thức tư duy như là thứ đã
có, chứ không phải là thứ xuất hiện ở trình độ phát triển nhất định của tư duy con
người và chỉ được áp dụng ở trình độ nghiên cứu tương ứng về đối tượng nào đó.
Phương pháp hình thức hóa sử dụng những phép trừu tượng hoá khi nghiên
cứu tri thức thì nó coi tri thức là cái đã có sẵn và đi vào giải phẫu cấu trúc tri thức
đó, không quan tâm đến quá trình phát triển của tri thức từ không biết đến biết, từ
biết ít sâu sắc đến biết sâu sắc hơn… Khi xem xét tư duy, nó trừu tượng hoá khỏi
thực tiễn như là cơ sở căn bản của mọi quá trình tư duy đạt tới chân lý khách

17
quan và như là tiêu chuẩn tối cao của một chân lý. Nghĩa là nó coi chân lý như tri
thức có sẵn, coi tư duy như một hệ thống đóng kín tương đối độc lập với giai
đoạn nhận thức cảm tính và với thực tiễn như cơ sở của nó.
1.1.1.2. Một số yêu cầu của phương pháp hình thức hóa
Phương pháp hình thức hoá có vai trò to lớn trong nghiên cứu logic học. Giá
trị nổi bật của phương pháp này là nó cho phép sử dụng hệ thống ngôn ngữ nhân
tạo (ngôn ngữ ký hiệu) nhằm khách quan hoá quá trình tư tưởng, quá trình nghiên
cứu. Thực tế cho thấy con người luôn phải đối mặt trước sự lựa chọn. Mọi hoàn
cảnh, mọi tình huống bao giờ cũng bao hàm nhiều khả năng lựa chọn, nhiều
phương án đa dạng khác nhau. Cần phải tỉnh táo, chính xác lựa chọn, nhận định
và ra quyết định. Song tính khách quan của nhận định hay quyết định đó thường
bị tình cảm, nội dung chen vào phá hoại, gây ảnh hưởng đến kết quả hoạt động
thực tiễn. Điều đó có thể khắc phục nếu trong quá trình nhận thức và hoạt động
thực tiễn chúng ta có thói quen tư duy logic một cách hình thức. Nói khác đi là
biết tạm trừu tượng nội dung để đảm bảo tính khách quan của hình thức logic. Từ
đó lập luận, nhận định trở nên chính xác, chặt chẽ. Khi đã có một cấu trúc tư
tưởng chuẩn mực mới đưa nội dung vào, như thế sẽ tránh được những sai lầm

logic của chuỗi ký hiệu đã được mã hóa đã tuân thủ các yêu cầu và quy tắc của tư
duy logic hay chưa. Khi đã xác định được sự hợp lý của hình thức tư tưởng sau
khi gác lại nội dung của nó, chuyển nội dung vào để kiểm tra sự phù hợp giữa nội
dung và hình thức chuyển tải. Sự phù hợp này không chỉ giúp cho việc hình thức
hóa được tư tưởng mà còn tạo ra cách hiểu chính xác về nội dung tư tưởng.
Thứ ba: Phải chấp nhận khả năng lưỡng trị của tư tưởng, thừa nhận sự giả
định cứng nhắc là giá trị chân lý của tư tưởng chỉ có thể chân thực hoặc giả dối.
Logic hình thức hay phương pháp hình thức hóa trong phạm vi nghiên cứu của
mình, chúng chỉ nghiên cứu sự vật, hiện tượng trong giai đoạn nhất định, trong sự
tĩnh tại. Nhưng sự vật, hiện tượng lại luôn vận động, phát triển nên tư duy của con
người cũng phải thay đổi theo. Nên trong giai đoạn này, tư tưởng có thể có giá trị
chân lý, nhưng ở thời điểm khác giá trị đó có thể là giả dối. Vì vậy, trong quá trình
vận động và phát triển của tư duy, con người phải chấp nhận khả năng lưỡng trị của
tư tưởng để vận dụng tư tưởng cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế xảy ra.

19
Để hiểu đúng những yêu cầu này của logic hình thức thì cũng đồng thời phải
xác định logic hình thức không tuyệt đối tách rời nội dung của chất liệu cụ thể
mà các hình thức logic chuyển tải, hoàn toàn không quan tâm đến các chất liệu
đó. Bởi vì, Thứ nhất, chính các quy luật, hình thức và quy tắc logic có nguồn gốc
từ hiện thực, từ thực tiễn xã hội, chúng là sự phản ánh đặc thù của hiện thực vật
chất, vì thế về cội nguồn và lịch sử đều gắn bó chặt chẽ với hiện thực đó. Thứ
hai, xây dựng lý thuyết các hình thức logic, logic hình thức không lãng quên hẳn
nội dung, mà ngược lại, thường xuyên hướng đến nó. Ngay cả logic toán trong
những trường hợp cần thiết cũng phải hướng đến nội dung cụ thể của các hình
thức của nó, để, chẳng hạn như chỉ ra sự vận hành của các hình thức logic đã bị
hình thức hóa của chúng và những mối liên hệ của chúng trong tư duy nội dung.
Như vậy, trong hiện thực khách quan, hình thức không tồn tại tách rời với nội
dung, mà gắn bó hữu cơ liên tục với nó. Ngay việc xây dựng các hình thức logic
không là tự mục đích của logic hình thức, mà là phương tiện hiệu quả của tư duy

thức, những hình thức của tư duy mà lô gich học của Aristoteles nghiên cứu chính là
những dạng thức khởi đầu của phương pháp hình thức hoá.
Sau Aristoteles, logic học được các học trò của ông tiếp tục phát triển về sau.
Nhưng thời kỳ này, các hậu duệ chỉ nêu ra thêm một số quy tắc suy luận với tiền
đề là phán đoán điều kiện và phán đoán lựa chọn nghiêm ngặt mà thôi. Các nhà
triết học thuộc trường phái Megat và trường phái Khắc kỷ mà đại diện là
Chrysippus (279 - 206 tr. CN) đã phát triển logic học của Aristoteles để nghiên
cứu các quy tắc xác định tính đúng sai của mệnh đề phức dựa vào tính đúng sai
của các mệnh đề thành phần tạo nên nó. Rõ ràng Chrysippus đã đi xa hơn so với
các tông đồ của Aristoteles. Họ đã nghiên cứu quan hệ suy diễn, nghĩa là quan hệ
giữa các tiền đề và kết luận của suy luận. Để nghiên cứu vấn đề này, họ đưa ra
khái niệm bao hàm (implication). Họ đã đưa ra hình thức đầu tiên của định lý
diễn dịch - định lý làm cơ sở cho các phép chứng minh trong các hệ thống hình
thức hóa: một suy luận là hợp logic khi và chỉ khi công thức biểu thị nó là một
công thức hằng đúng. Công thức biểu thị một suy luận có được khi ta liên kết các
tiền đề của nó với nhau thành phần tiền đề bằng các dấu toán hội, rồi liên kết

21
phần tiền đề với kết luận bằng dấu toán kéo theo (dấu implication). Các thành tựu
quan trọng nhất của logic học ở thời La Mã cổ đại là: hệ thống các thuật ngữ
logic được sử dụng đến ngày nay; hình vuông logic (sau này được Boethius hoàn
thiện); lý thuyết về tam đoạn luận phức hợp và tam đoạn luận với tiền đề là phán
đoán quan hệ. Có thể nói, ngay từ thời Hy Lạp cổ đại, phương pháp hình thức
hóa trong logic học đã có những bước định hình và phát triển đầu tiên của nó.
Ở thời trung cổ, logic học của Aristoteles được nghiên cứu phát triển bởi các
nhà triết học kinh viện. Các thành quả chủ yếu của thời kỳ này là các nghiên cứu
về khái niệm và ngữ nghĩa học. Các nhà logic học có đóng góp lớn nhất ở thời kỳ
này là P. Abelard (1079 - 1142) - người đã xây dựng lại logic Aristoteles, đã
phân biệt các suy luận đúng về hình thức và đúng về nội dung và cho rằng chỉ
các suy luận đúng về hình thức mới là loại suy luận có giá trị thật sự. Một đại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status