A - LỜI MỞ ĐẦU:
Đất nước ta đang thực hiện chế độ quản lý nhà nước trên tầm vĩ mô, do đó, hệ
thống các cơ quan nhà nước, đặc biệt là Ủy ban nhân dân các cấp có vai trò vô cùng
quan trọng. Một mặt, hệ thống này tạo điều kiện cho nhà nước có thể quản lý sâu sát
tới tận các địa phương, mặt khác cũng giúp chúng ta định hướng đúng đắn mục tiêu
mà chúng ta đang theo đuổi – xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Bởi
vậy, việc nắm vững tổ chức và hoạt động của hệ thống Ủy ban nhân dân các cấp là
một việc làm rất cần thiết. Đây cũng là lý do nhóm chúng em lựa chọn đề tài này.
B - PHẦN NỘI DUNG:
I - Cơ sở lí luận:
1 - Khái niệm Ủy ban nhân dân:
Theo Điều 123 Hiến pháp 1992 và Điều 2 Luật tổ chức hội đồng nhân dân và ủy
ban nhân dân năm 2003 đã ghi rõ: “ Ủy ban nhân dân (UBND) do hội đồng nhân dân
(HĐND) bầu là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa
phương… chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà
nước cấp trên và nghị quyết của HĐND cùng cấp. UBND chịu trách nhiệm chấp hành
Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND
cùng cấp nhằm đảm bảo thực hiện chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế - xã hội,
củng cố quốc phòng, an ninh và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn”.
Là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương,
UBND là cơ quan thực hiện chức năng quản lí hành chính nhà nước vừa do HĐND
giao cho, vừa do cơ quan hành chính nhà nước giao cho trên cơ sở phân cấp quản lí
và chịu sự lãnh đạo thống nhất của chính phủ; là cơ quan hành chính nhà nước hoạt
động thường xuyên của địa phương, là bộ phận của bộ máy quản lí nhà nước ở địa
phương.
2 - Tổ chức của Ủy ban nhân dân:
1
UBND làm việc theo chế độ lãnh đạo tập thể và có phân công cá nhân chịu trách
nhiệm.
a. Chủ tịch Ủy ban nhân dân:
Chủ tịch UBND là người lãnh đạo và điều hành công việc của UBND, chịu trách
6. Chỉ đạo và áp dụng các biện pháp để giải quyết các công việc đột xuất, khẩn cấp
trong phòng, chống thiên tai, cháy, nổ, dịch bệnh, an ninh, trật tự và báo cáo UBND
trong phiên họp gần nhất;
7. Ra quyết định, chỉ thị để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình”.
b. Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân:
Phó chủ tịch UBND là người giúp việc cho chủ tịch, được chủ tịch phân công phụ
trách, thực hiện công việc nhất định hoặc mảng công việc nhất định như: kinh tế, tài
chính, thương mại, văn hóa - xã hội… chẳng hạn: đối với ủy ban nhân dân tỉnh thành
phố trực thuộc trung ương, ngoài chủ tịch phụ trách chung còn có các phó chủ tịch
được chủ tịch phân công đảm nhiệm công việc trong các lĩnh vực như: 01 phó chủ
tịch phụ trách kinh tế, tài chính, thương mại và kinh tế đối ngoại; 01 phó chủ tịch phụ
trách văn hóa - xã hội, y tế, giáo dục, thể dục thể thao và các lĩnh vực xã hội khác; 01
phó chủ tịch phụ trách sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, khoa học - kĩ
thuật và tài nguyên môi trường. Các phó chủ tịch chịu trách nhiệm cá nhân về việc
thực hiện nhiệm vụ của mình trước chủ tịch UBND. Thông qua hoạt động của phó
chủ tịch giúp chủ tịch UBND năm được toàn bộ hoạt động của UBND.
c. Ủy viên Ủy ban nhân dân:
Ủy viên của UBND được chủ tịch phân công phụ trách quản lí những ngành, lĩnh
vực chuyên môn nhất định như: Công an, quân sự, tổ chức, thanh tra, kế hoạch, tài
chính, văn phòng ủy ban…, phải chịu trách nhiệm cá nhân về ngành, lĩnh vực được
phân công trước chủ tịch UBND và cùng với tập thể UBND chịu trách nhiệm về hoạt
động của UBND trước HĐND cùng cấp và trước cơ quan nhà nước cấp trên.
3
Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc UBND (không phải là thành viên của
UBND) được giao phụ trách quản lí ngành, lĩnh vực chuyên môn với các tên gọi như:
Giám đốc sở, trưởng phòng, trưởng ban…, phải chịu trách nhiệm lãnh đạo hoạt động
của các sở, phòng, ban định kì mỗi tháng một lần phải báo cáo hoạt động của ngành
mình, lĩnh vực mình phụ trách trước UBND và cơ quan quản lí chuyên môn cấp trên,
trong trường hợp cần thiết thì báo cáo công tác trước HĐND cùng cấp.
Số lượng các sở, phòng, ban trực thuộc UBND phụ thuộc vào yêu cầu nhiệm vụ
việc sắp xếp điều chỉnh lại các bộ, ngành ở trung ương theo hướng quản lí đa ngành,
đa lĩnh vực. Ví dụ: Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Ninh Bình được thành lập
theo Quyết định số: 422/QĐ-UBND của UBND tỉnh Ninh Bình, ngày 03 tháng 3
năm 2008, trên cơ sở hợp nhất Sở Thể dục Thể thao, Sở Du lịch và Sở Văn hoá
Thông tin tỉnh Ninh Bình.
d. Tổ chức Ủy ban nhân dân trong trường hợp thay đổi cấp hoặc địa giới của các
đơn vị hành chính và trong trường hợp đặc biệt.
Theo điều 134 mục 4 luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003: “Trong trường
hợp một đơn vị hành chính được thay đổi cấp quản lý hành chính hoặc trong trường
hợp thành lập một đơn vị hành chính mới, thì Chủ tịch UBND cấp trên trực tiếp chỉ
định UBND lâm thời để đảm nhiệm công tác cho đến khi HĐND và UBND mới được
bầu ra. Ở đơn vị hành chính cấp tỉnh thì Thủ tướng Chính phủ chỉ định UBND lâm
thời”.
Theo điều 137: “Trong trường hợp HĐND bị giải tán hoặc trong trường hợp đặc
biệt khác thì Chủ tịch UBND cấp trên trực tiếp chỉ định UBND lâm thời để đảm nhiệm
công tác cho đến khi HĐND và UBND mới được bầu ra; đối với cấp tỉnh thì Thủ
tướng Chính phủ chỉ định UBND lâm thời”.
3. Hoạt động của Ủy ban nhân dân:
5
Theo quy định của pháp luật hiện hành, UBND hoạt động trên nguyên tắc tập
trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, xây dựng quy chế làm việc theo
nhiệm kì công tác, thiết lập và duy trì chế độ họp định kì hàng tháng; thảo luận tập
thể và quyết định theo đa số các vấn đề thuộc thẩm quyền.
a. Hoạt động của Ủy ban nhân dân trong các phiên họp:
Các phiên họp của UBND là hình thức hoạt động chủ yếu, quan trọng nhất của
UBND. Bởi thông quan các phiên họp, UBND đã thực hiện được phần lớn những
nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền do luật định.
Theo quy định trước đây cũng như hiện nay, UBND họp thường lệ mỗi tháng một
lần do UBND triệu tập và chủ tọa. Trong trường hợp cần thiết, Chủ tịch UBND cũng
có thể triệu tập phiên họp bất thường theo yêu cầu của Chủ tịch UBND hoặc theo đề
thực hiện và kiểm tra, thanh tra đối với các cơ quan, tổ chức trong việc chấp hành
pháp luật của Nhà nước…
Chỉ thị dùng để truyền đạt và hướng dẫn thực hiện các chủ trương, chính sách
của trung ương, các nghị quyết của HĐND.
b. Hoạt động của Chủ tịch Ủy ban nhân dân:
Hoạt động của Chủ tịch UBND được xác định là hình thức hoạt động thường
xuyên và có tác dụng rất lớn đến hiệu quả hoạt động của UBND.
Với vị trí là người lãnh đạo và điểu hành công tác của UBND, Chủ tịch UBND có
quyền triệu tập và chủ tọa các phiên họp của UBND (kể cả các phiên họp thường lệ
và bất thường). Tại các phiên họp, Chủ tịch UBND hướng cuộc họp vào việc thảo
luận, biểu quyết những vấn đề nằm trong chương trình phiên họp. Căn cứ vào những
quyết định mà tập thể UBND đã thông qua, chủ tịch UBND chịu trách nhiệm tổ chức
triển khai, kiểm tra việc thực hiện những quyết định đó.
7
Với xu hướng kết hợp chế độ tập thể lãnh đạo với chế độ thủ trưởng trong quản lí
nhà nước, Hiến pháp năm 1992 và Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 đã quy
định rạch ròi giữa chế độ trách nhiệm tập thể của UBND với cá nhân chủ tịch UBND.
Theo đó, một số nhiệm vụ, quyền hạn trước đây do tập thể của UBND thực hiện nay
được chuyển giao cho chủ tịch UBND. Chẳng hạn, chủ tịch UBND lãnh đạo công tác
của UBND, đôn đốc, kiểm tra công việc của các thành viên UBND, các cơ quan
chuyên môn thuộc UBND cấp mình và UBND cấp dưới trong việc việc thực hiện
hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của HĐND và
quyết định của UBND cấp mình. Trong quá trình chỉ đạo, thức hiện nếu có dân xem
xét, quyết định; áp dụng các biện pháp nhằm cải tiến lề lối làm việc; ngăn ngừa và
kiên quyết đấu tranh chống các biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham
nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác trong cơ quan, cán bộ công chức nhà
nước trong bộ máy chính quyền địa phương; tố chức tiếp dân, xét và giải quyết các
kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân theo quy định của pháp luật.
Đối với chính quyền cấp dưới trực tiếp, chủ tịch UBND có quyền: phê chuẩn kết