1. Tổ chức của ủy ban nhân dân :
Theo Điều 119 Luật tổ chức hội đồng nhân và ủy ban nhân dân thì: “ủy ban
nhân dân do hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra gồm có chủ tịch, phó chủ tịch và ủy
viên”.
1.1 Chủ tịch ủy ban nhân dân :
Điều 124 Hiến pháp 1992 đã khẳng định: “chủ tịch ủy ban nhân dân lãnh đạo,
điều hành hoạt động của ủy ban nhân dân”. Quy định này tiếp tục được cụ thể hóa tại
Điều 126 Luật tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân 2003: “chủ tịch ủy ban
nhân dân là người lãnh đạo và điều hành công việc của ủy ban nhân dân, chịu trách
nhiệm cá nhân về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình được quy định tại
Điều 127 của Luật này, cùng với tập thể ủy ban nhân dân chịu trách nhiệm về hoạt
động của ủy ban nhân dân trước hội đồng nhân dân cùng cấp và trước cơ quan nhà
nước cấp trên”.
Qua các quy định trên có thể thấy, đối với ủy ban nhân dân là một cơ quan chịu
trách nhiệm chủ yếu trong việc triển khai, tổ chức thực hiện các nghị quyết của hội
đồng nhân dân, đưa những quy định trong các nghị quyết đó vào thực tế, thì việc lãnh
đạo của chủ tịch ủy ban nhân dân là rất quan trọng. Là người lãnh đạo, điều hành
công việc của ủy ban nhân dân, chủ tịch ủy ban nhân dân có nhiệm vụ đôn đốc, kiểm
tra công tác của ủy ban nhân dân cấp mình và cấp dưới trực tiếp; phân công công tác
cho phó chủ tịch và các thành viên ủy ban nhân dân; quyết định các vấn đề thuộc
nhiệm vụ, quyền hạn của ủy ban nhân dân cấp mình, trừ các vấn đề quy định tại Điều
124 của Luật tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân 2003. Các phó chủ tịch
và các thành viên khác của ủy ban nhân dân phải thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do
chủ tịch ủy ban nhân dân phân công và phải chịu trách nhiệm trước chủ tịch ủy ban
nhân dân về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đã được giao.
1.2. Phó chủ tịch ủy ban nhân dân :
Phó chủ tịch ủy ban nhân dân là người giúp việc cho chủ tịch, được chủ tịch
phân công phụ trách, thực hiện công việc nhất định hoặc mảng công việc nhất định
như kinh tế, tài chính, thương mại,... Điều 122 Luật tổ chức hội đồng nhân dân và ủy
1
ban nhân dân quy định số lượng phó chủ tịch mỗi cấp do Chính phủ quy định. Cũng
nhờ đó tăng cường hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước.
Số lượng các sở, phòng, ban (các cơ quan chuyên môn) thuộc ủy ban nhân dân
phụ thuộc vào yêu cầu nhiệm vụ công tác trong mỗi giai. Về vấn đề này, các Nghị
định số 13/2008/NĐ-CP và 172/2004/NĐ-CP của Chính phủ đã có những quy định
khá cụ thể. Theo đó, các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân ở cấp tỉnh và
huyện được chia thành 2 loại: loại được tổ chức thống nhất ở các địa phương và loại
được tổ chức theo đặc thù riêng của từng địa phương. Hiện nay, tổng số các cơ quan
chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có khoảng
từ 20 đến 26 sở, ban, ngành,… Ngoài ra, cấp tỉnh còn một số đầu mối nữa không trực
thuộc ủy ban nhân dân mà trực thuộc cơ quan quản lý cấp trên. Chẳng hạn như ủy ban
nhân dân thành phố Hà Nội có thêm kho bạc Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước,…;
tổng số các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân huyện thường có từ 10 đến
12 phòng ban; Đối với ủy ban nhân dân xã thì thường có cơ cấu khoảng 5 ban.
Khác với trước đây, theo Luật tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân
năm 2003, cùng với việc thành lập thường trực hội đồng nhân dân (ở cấp tỉnh, huyện
và xã) thì thường trực ủy ban nhân dân và chức danh ủy viên thư kí của ủy ban đã
được lược bỏ. Quy định này một mặt làm cho bộ máy trở nên gọn nhẹ hơn, đồng thời
tăng cường hơn trách nhiệm của mỗi thành viên và cả tập thể ủy ban nhân dân. Nhờ
đó đảm bảo được tính nhanh nhạy, khả năng hoạt động hiệu quả hơn của ủy ban nhân
dân _ một trong những yêu cầu rất quan trọng theo tinh thần của Nghị quyết trung
ương 3 khóa VIII của Đảng ta về “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước”.
2. Những hình thức hoạt động chủ yếu của ủy ban nhân dân :
2.1. Phiên họp của ủy ban nhân dân :
Phiên họp của ủy ban nhân dân là hình thức hoạt động quan trọng nhất của ủy
ban nhân dân. Bởi thông qua các phiên họp, ủy ban nhân dân đã thực hiện được phần
lớn những nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền do luật định.
3
Theo quy định của các Luật tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân các
năm 1989, 1994 và 2003, ủy ban nhân dân mỗi tháng họp ít nhất một lần do chủ tịch
trình trọng điểm ở địa phương trình hội đồng nhân dân quyết định; kế hoạch huy
động nhân lực, tài chính để giải quyết các vấn đề cấp bách của địa phương trình hội
đồng nhân dân quyết định; các biện pháp thực hiện nghị quyết của hội đồng nhân dân
về kinh tế - xã hội; thông qua báo cáo của ủy ban nhân dân trước khi trình hội đồng
nhân dân; đề án thành lập mới, sáp nhập, giải thể các cơ quan chuyên môn thuộc ủy
ban nhân dân và việc thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính ở địa
phương. Các quyết định của ủy ban nhân dân được thể hiện dưới hình thức văn bản
đó là quyết định, chỉ thị.
2.2. Hoạt động của chủ tịch ủy ban nhân dân :
Hoạt động của chủ tịch ủy ban nhân dân được xác định là hình thức hoạt động
thường xuyên và có tác động rất lớn đến hiệu quả hoạt động của ủy ban nhân dân.
Trước đây, trong Hiến pháp năm 1980 và Luật tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban
nhân dân năm 1989, nhiệm vụ và quyền hạn của ủy ban nhân dân nói chung và chủ
tịch ủy ban nhân dân chưa được quy định một cách cụ thể. Kể từ Hiến pháp 1992 và
Luật tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân các năm 1994 và 2003, theo xu
hướng kết hợp chế độ tập thể lãnh đạo với chế độ thủ trưởng trong quản lý nhà nước,
nhiệm vụ và quyền hạn của cá nhân chủ tịch ủy ban nhân dân ngày càng được quy
định rạch ròi và tách bạch riêng khỏi những nhiệm vụ, quyền hạn chung của tập thể
ủy ban nhân dân.
Từ trước đến nay, trong các luật về Tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban nhân
dân, chủ tịch ủy ban nhân dân luôn được quy định là người lãnh đạo và điều hành
công việc của ủy ban nhân dân; có quyền triệu tập và chủ tọa các kỳ họp của ủy ban
nhân dân (kể cả phiên họp thường lệ và bất thường). Về vấn đề này, Luật tổ chức hội
đồng nhân dân và ủy ban nhân dân các năm 1994 và 2003 đã quy định rất cụ thể, theo
đó, sự lãnh đạo và điều hành công việc của ủy ban nhân dân của chủ tịch được quy
định trên các phương diện sau:
- Đôn đốc, kiểm tra công tác của các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân
dân cấp mình và ủy ban nhân dân cấp dưới trong việc thực hiện Hiến pháp, luật, các
5