BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
o0o
ĐỖ THỊ THU THỦY
THƠ ĐI SỨ VIỆT NAM TỪ CUỐI TRIỀU LÊ
ĐẾN ĐẦU TRIỀU NGUYỄN (1740 -1820)
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 62.22.01.21 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
HÀ NỘI - 2015
CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Thơ đi sứ thuộc loại hình thơ văn bang giao, phản ánh đặc trưng bối cảnh
chính trị - văn hoá vùng Đông Á trung đại. Tuy nhiên, khác với thơ đón/tiếp sứ ra
đời trong “không gian cung đình”, thơ đi sứ thể hiện dấu ấn của thứ thơ mang “cảm
hứng trên đường” trong cả nội dung và bút pháp, là hiện tượng thú vị trong vận
động thơ ca trung đại.
1.2. Trong khoảng trên dưới 7 thế kỷ hình thành, phát triển (TK XIII –TK XIX),
vào những năm cuối thời Lê - đầu thời Nguyễn (1740 - 1820), thơ đi sứ nở rộ về số
lượng và kết tinh nghệ thuật, có ý nghĩa tiêu biểu cho đặc điểm, thành tựu thơ đi sứ
trung đại, đồng thời góp phần tạo nên dấu ấn sâu đậm, rực rỡ của văn học Việt Nam
đương thời.
1.3. Sáng tác thơ sứ thần cuối Lê - đầu Nguyễn là một trong những “kênh” tin cậy
phản ánh sự đa dạng của bức tranh bang giao Đại Việt thế kỷ XVIII - XIX trước
biến chuyển của tình hình chính trị trong nước cũng như tương quan các nước
khu vực Đông Á. Việc sử dụng sức mạnh mềm của thơ ca trong giao lưu chính
trị, văn hoá khu vực có một ý nghĩa thực tế nhất định trong bối cảnh toàn cầu
hoá hiện nay.
1.4. Đề tài bổ sung thêm một nguồn tư liệu tham khảo cho việc học tập, giảng dạy
văn học trung đại trong nhà trường.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát tình hình sáng tác thơ đi sứ cuối Lê - đầu Nguyễn qua việc xác lập và
hệ thống văn bản trong đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
- Phân tích một số đặc điểm nội dung và nghệ thuật thơ đi sứ cuối Lê - đầu
Nguyễn nhìn từ vận động loại hình thơ đi sứ, từ đó thấy được thành tựu cùng đóng
góp riêng của thơ đi sứ thời này trong diễn trình thơ đi sứ Việt Nam.
- Phân tích những điểm nổi bật của bức tranh bang giao Đại Việt TK XVIII - XIX,
đặc biệt là giao lưu văn hóa, văn học giữa Việt Nam với các quốc gia khu vực
Đông Á qua hiện tượng thơ sứ thần.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu: những tác phẩm thơ đi sứ chữ Hán từ 1740 - 1820
thêm một nguồn tư liệu cho việc giảng dạy và học tập văn học trung đại trong nhà
trường.
- Thông qua “kênh” ngôn ngữ và thơ ca, luận án phân tích một số điểm đáng
chú ý của bức tranh bang giao Đại Việt đương thời, trong đó nhấn mạnh giao lưu
văn hóa - văn chương giữa Việt Nam với các nước khu vực Đông Á, có ý nghĩa
thực tế đối với hoạt động ngoại giao hiện nay.
6. Cấu trúc của luận án
Luận án gồm 4 chương chính:
Chương 1: Tổng quan
Chương 2: Khái quát về thơ đi sứ và tình hình sáng tác thơ đi sứ cuối Lê -
đầu Nguyễn.
Chương 3: Hứng thú từ những chuyến đi và hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ
đi sứ cuối Lê - đầu Nguyễn.
Chương 4: Thơ đi sứ cuối Lê - đầu Nguyễn nhìn từ một số yếu tố hình thức.
3
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Lịch sử vấn đề thơ đi sứ cuối Lê - đầu Nguyễn
1.1.1. Nhận xét, đánh giá về thơ đi sứ cuối Lê - đầu Nguyễn trong các bài tựa,
đề, bình, bạt thời trung đại.
Tựa, đề, bình, bạt…phản ánh thói quen thẩm bình tác phẩm của người trung đại. Tuy
đây chưa phải là những nghiên cứu độc lập, chuyên nghiệp song nó cho thấy mối quan
tâm, sự chú ý của người xưa với sáng tác của sứ thần trong đời sống văn hóa, văn học
dân tộc. Bài viết của Hồ Sĩ Đống, Ngô Thì Sĩ, Ninh Tốn, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn
Địch Cát, Trần Tuấn Viễn, Bùi Dương Lịch…bàn về các tập thơ Hoa trình của
Nguyễn Tông Khuê, Lê Quý Đôn, Nguyễn Đề, Phan Huy Ích, Lê Quang Định, Trịnh
Hoài Đức, Ngô Nhân Tĩnh là những ví dụ tiêu biểu.
Nhận xét của tác giả trong bài viết trên thường thiên về khen ngợi, tán dương,
Gong, Liam C.Kelley, Zhan Zhihe, Taro Shimizu
Dành nhiều tâm huyết khảo cứu thơ văn xướng họa giữa sứ thần Việt Nam với
văn nhân, quan lại Trung Hoa và sứ thần Triều Tiên, Nhật Bản, bài viết/công trình
nghiên cứucủa các tác giả đều khẳng định sứ mệnh “ngoại giao văn hoá” ở những
bài thơ này: đề cao văn hiến dân tộc, thể hiện tình cảm hòa hiếu của người Việt
trong quan hệ với các nước. Hướng tiếp cận này đang ngày càng trở nên phổ biến
bởi ý nghĩa thực tiễn và tính thời sự của nó trong bối cảnh ngoại giao hiện nay.
1.2. Cơ sở lý thuyết của đề tài
1.2.1. Lý thuyết Loại hình học
Từ lý thuyết Loại hình học, tác giả luận án khẳng định: thơ đi sứ, trong đó có sáng
tác cuối Lê - đầu Nguyễn vừa mang đặc điểm truyền thống của văn học nhà Nho,
vừa có vận động mới mẻ về tư tưởng - cảm hứng và bút pháp nghệ thuật, phản ánh
mối quan hệ giữa chuyện đi - chuyện viết, sứ thần - nhà thơ, văn chương - chính trị,
là hiện tượng thú vị trong vận động của nền thơ ca và văn học trung đại.
1.2.2. Văn hóa học và nghiên cứu thơ đi sứ từ góc nhìn văn hóa
Từ lý thuyết nghiên cứu Văn hoá học văn học, tác giả luận án nhận thấy: thơ đi sứ,
trong đó có sáng tác cuối Lê - đầu Nguyễn là sự phản ánh, kết tinh giá trị văn hoá
dân tộc và thời đại, đặc biệt trong lĩnh vực bang giao.
Trên cơ sở vận dụng những lý thuyết trên cùng sự kế thừa kết quả nghiên cứu của
người đi trước,luận án xác định nghiên cứu thơ đi sứ cuối Lê - đầu Nguyễn trên các
bình diện chủ yếu sau:
- Nghiên cứu thơ đi sứ cuối Lê - đầu Nguyễn trong bối cảnh bang giao thế kỷ
XVIII - XIX.
- Nghiên cứu thơ đi sứ cuối Lê - đầu Nguyễn trong tương quan với vận động thơ
đi sứ và văn học Việt Nam TK XVIII - XIX.
Liên quan tới đối tượng nghiên cứu của đề tài, thuật ngữ thơ đi sứ có thể được thay thế
bằng các tên gọi khác như thơ sứ trình, thơ sứ thần (tiếng Anh: Envoy Poetry).
5
Về phạm vi thời gian, cụm từ “cuối triều Lê đến đầu triều Nguyễn” (viết tắt: cuối
dương” văn hoá dân tộc và nâng cao quốc thể trước “thiên triều”. Những “bút đàm”
này cũng phản ánh giao lưu văn hoá, văn học rộng mở giữa các quốc gia khu vực
Đông Á đương thời.
6
2.1.3. Đường tới Yên Kinh - không gian hải ngoại và hứng thú thi ca
Lộ trình sứ đoàn Việt Nam tới Yên Kinh tuy phải trải qua nhiều gian nan, khó
nhọc do khoảng cách địa lý xa xôi cùng hạn chế về phương tiện song đó cũng là
những trải nghiệm thú vị đối với sứ thần. Hứng thơ nảy sinh một cách tự nhiên từ
nhu cầu giãi bày tâm trạng, nỗi niềm xa nước, nhớ quê hay để biểu hiện “hứng thú
núi sông”. Đường đi sứ, cũng là đường thơ song hành cùng vận mệnh dân tộc suốt
thời trung đại .
Nét độc đáo của kiểu tác giả nhà thơ - sứ thần và quan niệm văn chương cho thấy
bản chất thẩm mĩ của thơ đi sứ, một loại hình thơ văn bang giao gắn liền với nhiệm
vụ chính trị nhà nước, đồng thời cũng là những áng thơ trữ tình phản ánh tâm hồn
phong phú, sự tài hoa của các thi nhân. Điều này thể hiện ở tính chất đa dạng,
phong phú, nhiều màu vẻ của thơ đi sứ về cả phương diện nội dung lẫn hình thức.
2.2. Quá trình vận động thơ đi sứ nhìn từ bối cảnh bang giao Việt - Trung
TK XIII - XIX.
Theo nhiều tư liệu lịch sử, mối quan hệ bang giao Việt -Trung khởi đầu năm 976
(thời nhà Đinh) và kết thúc năm 1884 (thời Nguyễn). Tuy nhiên, tư liệu về thơ đi sứ
hiện còn chỉ cho phép tái hiện được diện mạo của dòng thơ này tính từ cuối thế kỷ
XIII (thời Trần).
2.2.1. Bối cảnh bang giao và thơ đi sứ thời Trần - Hồ (1225 - 1407)
Thơ đi sứ thời Trần - Hồ là giai đoạn mở đầu dòng thơ đi sứ trung đại, hình thành
trong bối cảnh bang giao “nhạy cảm”, phức tạp giữa triều Trần, Hồ với ba triều
Tống, Nguyên, Minh trước sự o ép và âm mưu thôn tính của các đế chế phương
Bắc. Thơ đi sứ thời này mang âm hưởng của thời đại “đánh Tống, dẹp Nguyên” với
tình điệu cảm xúc mạnh mẽ, hào sảng hướng về dân tộc và triều đại song cũng rất
tinh tế, trong trẻo khi viết về thiên nhiên, con người, đời sống, trong đó phải kể tới
2.3.1. Bang giao với nhà Thanh qua các chuyến đi Trung Hoa của sứ thần
2.3.1.1. Tiếp tục quan hệ bang giao “triều cống” trong bối cảnh chính trị phức
tạp của các vương triều.
Trong lịch sử, cuối Lê - đầu Nguyễn là khoảng thời gian sóng gió, biến động nhất
10 thế kỷ trung đại liên quan tới cuộc “thay ngôi đổi chủ” của ba triều: Lê, Tây Sơn,
Nguyễn. Tuy nhiên về đối ngoại, Việt Nam vẫn là một “thuộc quốc” trong “trật tự
thế giới Đông Á”. Hàng loạt chuyến đi mang tính sự vụ/sự lệ của sứ thần trong thời
gian này cho thấy quan hệ “triều cống” với Trung Hoa được các triều đại Việt Nam
duy trì đều đặn nhằm bảo vệ quyền lợi của vương triều trước sự chống đối các thế
lực chính trị trong nước.
Trong những chuyến đi tưởng như đã thành thông lệ thì ở khoảng thời gian này cũng có
một số chuyện đáng chú ý phản ánh tình hình chính sự trong nước và vị thế của các triều
đại Việt Nam trước “thiên triều” Trung Hoa: chuyến đi sứ Thanh của sứ đoàn Lê Quý
Đôn năm 1760 - 1761; sứ đoàn Hồ Sĩ Đống năm 1777 - 1778; sứ đoàn Phan Huy Ích, Vũ
Huy Tấn, Đoàn Nguyễn Tuấn năm 1790….
8
Là chứng nhân của giai đoạn lịch sử tao loạn, sự nghiệp chính trị gắn liền với sinh
mệnh triều đại nên trong hành trạng và tiểu sử nhiều sứ thần có những quan hệ
riêng - chung khá phức tạp. Đặc biệt, sự góp mặt của đội ngũ trí thức có mối liên
quan tới tầng lớp thương nhân Hoa kiều vùng đất Nam Hà như Trịnh Hoài Đức,
Ngô Nhân Tĩnh, Huỳnh Ngọc Uẩn đã tạo nên yếu tố mới mẻ, thú vị của bức tranh
bang giao Đại Việt trong những thập kỷ đầu vương triều Nguyễn và để lại ít nhiều
dấu ấn ở các tập thơ Hoa trình thời này.
2.3.1.2. Gặp gỡ tại Yên Kinh và giao lưu văn hóa - văn chương các nước khu vực
Đông Á.
Bên cạnh việc giải quyết chính sự hoặc lễ nghi thì một điểm rất độc đáo trong các
chuyến Hoa trình cuối Lê - đầu Nguyễn là những gặp gỡ, tiếp xúc, từ đó dẫn tới
giao lưu văn hoá, văn chương mang màu sắc học thuật giữa sứ thần Việt Nam với
sứ thần các nước trong khu vực. Thống kê cho thấy: ngoài quan hệ truyền thống với
Điểm nổi bật của thơ đi sứ thời Lê Trung hưng là ở những bài thơ miêu tả vẻ kỳ
thú, mỹ lệ của bức tranh thiên nhiên, tạo vật với tứ thơ mới lạ cùng liên tưởng sáng
tạo, bất ngờ so với tư duy nghệ thuật trung đại. Hứng thú ghi chép những điều “sở
kiến” trên đường đicũng đã hình thành xu hướng kỷ sự đậm chất du ký, tạo nên sự
mở rộng của đường biên thể loại trong sáng tác thơ sứ thần thời này, nhất là các thi
tập của Nguyễn Tông Khuê và Nguyễn Huy Oánh.
2.3.2.2. Thơ đi sứ thời Quang Trung - Cảnh Thịnh(Tây Sơn, 1788 - 1802)
(1). Hải Ông thi tập, Đoàn Nguyễn Tuấn: 107 bài (phụ lục 5).
(2). Tinh sà kỷ hành, Phan Huy Ích: 81 bài (phụ lục 6).
(3). Hoàng hoa đồ phả, Ngô Thì Nhậm, 115 bài (phụ lục 7).
(4). Hoa trình tiêu khiển tập, Nguyễn Đề: 322 bài (phụ lục 8).
Thơ sứ thần thời Tây Sơn mang hơi thở hào hùng của thời đại Tây Sơn chiến
thắng, chan chứa niềm tự hào dân tộc với những tứ thơ trong sáng, đầy hào khí của
Đoàn Nguyễn Tuấn, Vũ Huy Tấn, Ngô Thì Nhậm. Bên cạnh đó, sáng tác sứ thần
thời này cũng thể hiện xu hướng trữ tình - thế sự, bộc lộ tâm sự thời thế cùng cảm
xúc riêng tư sâu lắng của nhà thơ trước thời cuộc dâu bể, tao loạn.
2.3.2.3. Thơ đi sứ thời Gia Long (đầu Nguyễn, 1802 - 1820)
(1). Hoa nguyên thi thảo, Lê Quang Định: 74 bài (phụ lục 9)
(2).Thập Anh đường thi tập, Ngô Nhân Tĩnh: 185 bài (phụ lục 10)
(3). Cấn Trai Quan quang tập, Trịnh Hoài Đức: 153 bài (phụ lục 11)
(4). Bắc hành tạp lục, Nguyễn Du: 131 bài (phụ lục 12).
So với thơ đi sứ cuối thời Lê và thời Tây Sơn, điểm nổi bật của thơ đi sứ đầu thời
Nguyễn là sự mở rộng biên độ phản ánh của thơ ca theo xu hướng tiếp cận với
những gì phong phú, sinh động, chân thật của đời sống hiện thực. Những sáng tác
10
này cũng ít nhiều có sự phân hoá về đặc điểm, thể hiện dấu ấn giữa văn học Bắc Hà
và Nam Hà.
Chương 3
HỨNG THÚ TỪ NHỮNG CHUYẾN ĐI VÀ HÌNH TƯỢNG CÁI TÔI TRỮ
11
hóa” Trung Hoa với vị thế quốc gia trung tâm trong “trật tự thế giới Đông Á”
tới các nước khu vực.
Trong mối quan hệ quốc tế mang tính “biệt lệ” như vậy, việc nhấn mạnh những
điểm tương đồng về văn hoá còn là cách thể hiện chủ ýđối thoại, phản biện của sứ
thần Việt Nam trước “thiên triều” Trung Hoa, khẳng định Việt Nam không phải là
“di quốc” mà là một nước văn hiến. Mặt khác, khi nhấn mạnh chất “đồng văn” như
một yếu tố văn hóa vùng, các trí thức người Việt luôn có ý thức về cái riêng biệt,
độc đáo của dân tộc mình trong sự đối sánh với các nước, vừa hàm chứa thiện chí
giao hảo, vừa ngầm “nhắc nhở” đối phương về một phân định địa giới, phong thổ
rõ ràng. Có thể xem đây như là biểu hiện của ý thức “giải trung tâm” trong nỗ lực
phá vỡ thế “độc tôn” Hoa Hạ hướng tới mối quan hệ hữu hảo và bình đẳng giữa các
dân tộc.
Trong quan hệ với các nước “đồng cảnh” bị xem là “ngoại biên”, “phiên thuộc”
của Trung Hoa như Triều Tiên, Nhật Bản, đồng văn là một đối thoại văn hoá mang
ý nghĩa tích cực kiến tạo truyền thống bang giao hữu hảo, tốt đẹp đậm chất Đông Á
theo tinh thần “tứ hải giai huynh đệ”, “đại hữu tương đồng xứ” mà về bản chất,
cũng là một biểu hiện khác của ý thức “giải trung tâm” trong thơ đi sứ thời này.
3.1.3. Giao tình văn chương giữa những “tri kỷ chốn chân trời”
Những gặp gỡ, tiếp xúc rộng mở mang chiều sâu học thuật giữa sứ thần - nhà thơ
Việt Nam với quan lại, sứ thần các nước là cơ sở tạo nên mối giao tình văn chương
thể hiện trong thơ xướng hoạ cuối Lê - đầu Nguyễn. Thơ Hồ Sĩ Đống, Đoàn
Nguyễn Tuấn, Phan Huy Ích, Lê Quang Định, Trịnh Hoài Đức đều diễn tả cảm xúc
tự nhiên, sâu lắng của các văn nhân thi sĩ may mắn có duyên tri ngộ. Quế Đường
thi vựng quyển của Lê QuýĐôn còn có hẳn một đề mục nhan đề Đầu tặng loại gồm
74 bài, trong đó có tới 61 bài thơ xướng hoạ, tặng tiễn với quan lại - văn nhân
Trung Hoa, 3 bài với sứ thần Triều Tiên.
Bên cạnh sáng tác thơ văn mang tính lễ nghi, giao tế nhằm chủ đích chính trị -
bang giao, những giao tình văn chương trong thơ sứ thần thời này là hiện tượng thú
sâu nhân văn và tinh thần khai phóng, tôn vinh những giá trị thuộc về con người
trong hành trình lịch sử nhân loại.
Sự xuất hiện của kiểu hình tượng nhân vật lịch sử, những người tài hoa - trung
nghĩa phản ánh trạng thái tinh thần bi kịch của thời đại: tâm trạng lo lắng, bất an,
nỗi đau thân phận con người trước cuộc “tang thương”. Tiếng nói cảm thương trong
thơ đi sứ thời này đã hoà chung âm điệubuồn thương, bi ai của văn học đương thời.
Đặc biệt trong Bắc hành tạp lục ta thấy một “nỗi cảm thương lạ lùng” của Nguyễn
Du đối với các nhân vật lịch sử Bắc quốc, thể hiện cảm quan lịch sử đậm chất thế
sự phản ánh quan niệm nghệ thuật về con người, về đời sống của nhà thơ.
Thơ đi sứ cuối Lê - đầu Nguyễn cũng đề cập tới những tình nghệ sĩ giữa nhà thơ -
sứ thần Việt Nam với các nhà thơ Trung Hoa trong quá khứ như Khuất Nguyên,
13
Đào Tiềm, Âu Dương Tu, Bạch Cư Dị, Đỗ Phủ, Lý Bạch…Tình cảm này, một mặt
phản ánh mối quan hệ gần gũi giữa văn học Việt Nam và Trung Hoa, tâm lý sùng
mộ thơ Hán, thơ Đường, mặt khác là kết quả của cuộc tri ngộ văn chương “lạ lùng”
giữa những kẻ “Cùng một lứa bên trời lận đận”. Mối quan hệ giữa “tài”, “tình” với
“mệnh”, “nghiệp” của người viết văn, làm thơ đã hình thành quan niệm thi học đậm
chất phương Đông mang dấu ấn văn học thời kỳ này.
3.2.2. Bức tranh thiên nhiên: không gian thi ca và không gian tâm tưởng
Thiên nhiên trong thơ sứ thần cuối Lê - đầu Nguyễn được miêu tả, khám phá trong
cái nhìn đa chiều: thiên nhiên - khách thể thẩm mĩ ; thiên nhiên - bức tranh tâm
cảnh; thiên nhiên văn hoá.
Là khách thể thẩm mĩ, bức tranh thiên nhiên hiện lên với vẻ kỳ thú, thể hiện dấu
ấn tác giả và triều đại. Các nhà thơ thời Lê trung hưng thiên về xu hướng diễm lệ
hoá thiên nhiên mang ảnh hưởng Đường thi. Các nhà thơ thời Tây Sơn lại có hứng
thú với vẻ đẹp hùng vĩ, khoáng đạt, nhiều khi dữ dội nhưng cũng rất mực sống
động, hữu tình của cảnh núi non, sông nước.
Thơ sứ thần Bắc Hà từ thời Tây Sơn trở về sau xuất hiện dạng thức thiên nhiên u
ám, úa tàn.Thực chất, đó là những bức tranh tâm cảnh mang ý nghĩa ám dụ cho
nhìn thi vị hoá đời sống thì ở Lê Quí Đôn và Ngô Thì Nhậm lại cho thấy những
quan sát cụ thể, đậm tính chất tập quán, phong tục về cuộc sống lao động, sinh hoạt
bình dị của người dân Trung Hoa. Thơ Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định thiên về
hình ảnh dung dị, đời thường, tái hiện bức tranh đời sống yên ả, thanh bình, kín đáo
ẩn giấu niềm hãnh diện về vị vua và vương triều mà họ rất mực gắn bó. Qua những
hình ảnh dung dị, tự nhiên ấy, người đọc luôn cảm nhận được vẻ đẹp, chất thơ của
đời sống nhờ những cảm xúc tươi mới, trong trẻo như một đặc điểm nổi trội về thi
phong của các nhà thơ đất Gia Định. Thơ Nguyễn Du lại thể hiện cảm thức đời
sống đặc trưng của người đã viết những câu thơ “như có máu chảy trên đầu ngọn
bút, nước mắt thấm qua trang giấy”. Trong Bắc hành tạp lục luôn hiện lên dáng vẻ
của một đời sống lầm lũi, nhọc nhằn, những thân phận bất hạnh thể hiện nhạy cảm
hiện thực và trái tim trắc ẩn, giàu lòng thương con người của tác giả.
3.3. Hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ đi sứ cuối Lê - đầu Nguyễn
Hình tượng tác giả - cái tôi trữ tình trong thơ đi sứ là sự hoà hợp giữa chất sứ giả
và chất nhà thơ, giữa cái tôi chính trị và cái tôi nghệ sĩ, luôn hiện lên một cách sinh
động trong thơ từ “nhân dạng”, “tư thế” lẫn “tâm thế trữ tình đặc thù” cho thấy đặc
trưng thẩm mĩ của loại sáng tác này.
3.3.1. Cái tôi hùng tâm tráng trí, lòng yêu nước, tự hào dân tộc và ý thức trách
nhiệm với triều đại.
Trong thơ sứ thần cuối Lê - đầu Nguyễn, cái tôi trữ tình hiện lên trong hình ảnh
những sứ giả ngạo nghễ giữa vũ trụ muôn dặm, vượt lên gian nan thử thách thực
hiện hoàng mệnh, thể hiện ý thức trách nhiệm của kẻ sĩ quân tử với dân tộc và triều
đại. Đó cũng là cái tôi với những trạng thái cảm xúc phong phú hướng về dân tộc,
xã tắc. Thơ Nguyễn Huy Oánh, Lê Quí Đôn, Nguyễn Tông Khuê, Đoàn Nguyễn
15
Tuấn thể hiện sự sảng khoái, nồng nhiệt, chan chứa niềm tự hào khi đi qua những
địa danh gắn với chiến công hiển hách, truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm bất
khuất của cha ông; Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích bộc lộ niềm ngợi ca, tự hào về
triều đại mới qua những hình ảnh gợi nhắc chiến thắng quân sự trong quá khứ và
tác giả như Nguyễn Đề, Đoàn Nguyễn Tuấn, Lê Quang Định, “gia húy hữu cảm” (cảm
16
xúc về ngày giỗ) được đề cập trong những sắc thái cảm xúc phong phú và đầy tính
nhân bản, ít nhiều mang dấu ấn cá nhân, đời tư tác giả.
3.3.4. Cái tôi tranh biện/phản biện xã hội
Trong thơ sứ thần cuối Lê - đầu Nguyễn, cái tôi xuất hiện dưới nhiều dạng thức
phong phú, trong đó có một dạng thức “đáng nể” nhất: cái tôi tranh biện/phản biện
xã hội. Ở phương diện này có thể khẳng định sự xuất hiện của những cá tính nghệ
sĩ trong thơ, một hiện tượng không quá phổ biến trong văn học Việt Nam trung đại.
Thơ Đoàn Nguyễn Tuấn thể hiện một cái tôi nổi loạn, nhìn thấu những hiểm nguy
của đường đời và luôn ấp ủ khát vọng trở về “vườn cũ, nhà xưa”. Những phản biện
cho thấy tinh thần chủ động trong xuất - xử, hành - tàng của người trí thức trước
thăng trầm của lịch sử.
Ngô Thì Nhậm cũng nổi tiếng là người hay “cãi lý”, nhưng là cái lý đầy tính thực
chứng của một nhà Nho uyên bác, làu thông sách sử và luôn tràn đầy tinh thần dân tộc.
Đối thoại, phản biện trong thơ Nguyễn Du lại xuất phát từ cảm thức đời sống và
tấm lòng trân quí của ông với con người, đặc biệt là thế giới những người tài hoa
trung nghĩa, thể hiện tính chất nhất quán của phong cách nghệ thuật.
Chương 4
THƠ ĐI SỨ CUỐI LÊ - ĐẦU NGUYỄN NHÌN TỪ MỘT SỐ
YẾU TỐ HÌNH THỨC
4.1. Sự đa dạng của thể thơ
4.1.1. Thơ Đường luật/cận thể
Thống kê từ các thi tập cho thấy: trong số các thể thơ luật Đường thì phổ biến nhất
là thơ thất ngôn, chủ yếu là thất ngôn luật, thể thơ được coi là hoàn chỉnh và mang
tính đại diện cho mô hình nghệ thuật của Đường thi. Tỉ lệ thơ thất ngôn luật chiếm
76% (1499/1976 bài) trong khi ở thất ngôn tuyệt cú là 14% (275/1976 bài), ngũ
ngôn tuyệt cú: 0,4% (8/1976 bài), ngũ ngôn luật: 6,5% (128/1976 bài). Những thi
tập có tỉ lệ thơ thất ngôn luật nhiều nhất là Sứ hoa tùng vịnh, Nguyễn Tông Khuê:
Một số sáng tác của Lê Quí Đôn, Ngô Nhân Tĩnh viết theo thể ngũ ngôn luật và
thất ngôn tuyệt cú. Cá biệt Cấn Trai Quan quang tập của Trịnh Hoài Đức có bài
Tương hành tạp vịnh, tứ thủ viết theo thể lục ngôn tuyệt cú. Một điểm đáng chú ý
nữa là ở các bài thơ đậm chất cổ điển Đường thi này đã xuất hiện hình thức thơ kỷ
sự trong kết cấu tác phẩm. Đó là sự tham gia một cách linh hoạt các chú giải,
nguyên dẫn, tự chú (gọi chung là thi tự) từ qui mô dòng tới các đoạn văn ở nhiều vị
trí trong bài thơ. Có thi tự mang dáng dấp của những khảo cứu địa - văn hoá được
thể hiện bằng lối viết rất tài hoa.
4.1.2. Các thể thơ có chức năng tự sự: cổ phong/cổ thể trường thiên và thơ
lục bát
Một điểm đáng lưu ý trong vận động thể loại thơ đi sứ cuối Lê - đầu Nguyễn là sự
xuất hiện những bài cổ phong trường thiên, ca, hành, ngâm, từ có dung lượng dài
18
ở một số thi tập như Phụng sứ Yên đài tổng ca, Nguyễn Huy Oánh: 5/133 bài; Quế
Đường thi vựng quyển, Lê Quý Đôn: 22/351 bài; Hoàng hoa đồ phả, Ngô Thì
Nhậm: 10/115 bài; Hoa trình tiêu khiển tập, Nguyễn Đề: 2/322 bài, Tinh sà kỷ hành,
Phan Huy Ích: 2/81 bài; Hải Ông thi tập, Đoàn Nguyễn Tuấn: 4/107 bài; Bắc hành
tạp lục, Nguyễn Du: 20/131 bài. Tuy số lượng không nhiều song ở những sáng tác
này ta thấy một kết cấu phổ biến đan xen giữa tự sự và trữ tình, trữ tình và triết lý
cho thấy sự rộng mở của nội dung phản ánh và cảm xúc trữ tình trong thơ.
Thơ văn bang giao người Việt có hai tác phẩm khá độc đáo là: Sứ trình tân truyện
của Nguyễn Tông Khuê và Phụng sứ Yên đài tổng ca của Nguyễn Huy Oánh vì đều
được viết bằng thơ lục bát. Tuy nhiên, so với Sứ trình tân truyện thì Phụng sứ Yên
đài tổng ca thú vị hơn bởi sự kết hợp Việt - Hán trong hình thức thể thơ.
Sự xuất hiện của 470 câu thơ lục bát chữ Hán được sắp xếp xen kẽ với 133 bài thơ
Đường luật cùng lời dẫn bằng văn xuôi khiến Phụng sứ Yên đài tổng ca mang dáng
dấp một nhật ký thơ tổng thuật toàn bộ hành trình đi sứ Thanh năm 1766 - 1767 từ
thời gian, địa điểm, lộ trình tới chuyện gặp gỡ, thù tiếp; các tên đất, tên sông, con
người, phong tục những nơi sứ bộ đi qua. Nhờ ưu thế thơ lục bát có hệ thống âm
(dẫn nguyên văn, rút gọn câu chữ, dẫn ý) để suy ra nghĩa khái quát, nghĩa biểu
tượng. Ý nghĩa được tạo ra này có khi tương đồng, có khi được mở rộng, thậm chí
nhiều khi còn tạo nên một đối sánh diễn tả cái đặc biệt nào đó của tâm trạng hoặc
hoàn cảnh.
4. 3. Sự vận động của loại thơ kỷ sự và khuynh hướng mở rộng chức năng
của thơ ca
Sự hình thành xu hướng kỷ sự trong thơ sứ thần cuối Lê - đầu Nguyễn có cơ sở từ
tâm thế, hoàn cảnh sáng tác và vận động của văn học Việt Nam trong các thế kỷ XVIII
- XIX, thể hiện ở ba phương diện chủ yếu: lối đặt nhan đề cụ thể, xác thực; hệ thống
thi tự tham gia vào kết cấu tác phẩm; hệ thống tên riêng chỉ địa danh, nơi chốn.
4.3.1. Lối đặt nhan đề cụ thể, xác thực
Thống kê tác phẩm thơ sứ thần cho thấy: thói quen hiển thị thông tin thời gian bên
cạnh thông tin về địa điểm, nơi chốn là hiện tượng phổ biến chứng tỏ ý thức miêu
tả về đối tượng trong tính chỉnh thể nhằm tạo ấn tượng về cái có thật của nội dung
phản ánh. Thời gian hiển thị trong nhan đề thơ đi sứ là thời gian sinh hoạt, mang
tính chất thực tại và được đề cập một cách đa dạng từ mùa: xuân, hạ, thu, đông;
ngày: trung thu, đoan dương, trừ tịch, trùng cửu, huý kị , buổi: sáng, trưa, chiều,
tối, ban đêm, gắn với hành trình “tảo khởi, dạ túc” của sứ thần. Địa điểm hiển thị
trên nhan đề có hai loại: tên sông, núi, địa danh, vùng đất sứ thần đi qua như Quế
Lâm, An Bình, Thương Ngô, Tương giang và nơi chốn: sứ quán, hành quán, sơn
lộ, mạc phủ
Việc kết hợp thông tin về thời gian, địa điểm, hoạt động/trạng thái tạo nên những
kiểu đặt nhan đề đa dạng, hướng tới sự minh bạch hoá của thông tin. Cá biệt trong
20
số này xuất hiện dạng nhan đề dài nhằm diễn giải cụ thể nội dung sự việc của toàn
bài thơ trong thi tập các nhà thơ đất Gia Định.
4.3.2. Hệ thống thi tự tham gia vào kết cấu tác phẩm
Thi tự, còn gọi là các chú giải, nguyên dẫn, tự dẫn, nguyên chú nhằm thuyết minh
về hoàn cảnh ra đời, thời điểm sáng tác, địa danh, nhân vật, sự kiện hoặc là các chú
ở các thi tập với những mức độ khác nhau. Trong số này, xuất hiện với tần suất
nhiều hơn cả là những tên địa danh như: Ninh Minh giang, Tương giang/Tương
Đàm, Ngũ Hiểm than, Động Đình hồ, Cửu Nghi sơn, Độc Tú sơn
Tổng số có 13 tỉnh và hàng trăm châu, phủ, huyện, thành được đề cập, trong đó
xuất hiện nhiều nhất là Quế Lâm, Nam Ninh, Thương Ngô/Ngô Châu (Quảng
Tây); Tương Đàm, Trường Sa, Nhạc Dương (Hồ Nam); Vũ Xương, Hán Dương
(Hồ Bắc),
- Tên riêng mang tính chất địa - sử văn hoá, một kiểu kết hợp danh nhân - danh
địa, gồm: tên vùng đất cổ hoặc đế đô/ đế kinh; tên đình, đài, lầu, gác/các; tên đền,
chùa, miếu, bia, mộ
Ước tính có hàng trăm địa danh là các di tích lịch sử - văn hoá xuất hiện trong thơ
đi sứ thời này, phổ biến nhất là chùa, đền, miếu, bia, mộ (chiếm khoảng 70%). Các
địa danh có tần số xuất hiện cao là Hoàng Hạc lâu, Nhạc Dương lâu, Đằng Vương
các, Phi Lai tự, Phục Ba miếu,
Đặc tính cá biệt và đơn nhất của hệ thống tín hiệu ngôn ngữ là tên riêng đã tạo nên
tính chất cụ thể, khu biệt của tên gọi chỉ địa danh, nơi chốn trong thơ sứ thần: tên
riêng đơn vị hành chính một mặt phản ánh cách thức tổ chức, sắp xếp địa giới của
triều đình Trung Hoa mà nếu so sánh sẽ thấy chúng có ảnh hưởng không nhỏ tới
mô hình địa chính của Việt Nam dưới thời trung đại, mặt khác thể hiện rất rõ cảm
thức địa hình có liên quan tới đặc điểm địa lý của vùng đất. Điều này được minh
chứng rõ nét hơn trong hệ thống tên gọi địa hình tự nhiên khi hầu hết là tên sông
nước, ghềnh thác hoặc tên núi non, hang động với số lượng vô cùng phong phú.
Nhờ khả năng vượt ra khỏi ý nghĩa biểu niệm của các kí hiệu ngôn ngữ thuần tuý
vốn chỉ có chức năng gọi tên/định danh sự vật, hiện tượng, tên gọi địa danh/di tích
văn hoá - lịch sử trong thơ sứ thần đã trở thành “tấm bia lịch sử bằng vàng” tái hiện
hình ảnh đất nước, con người Trung Hoa: một vùng thắng tích với vẻ đẹp vừa thơ
22
mộng trữ tình, vừa hùng vĩ dữ dội; một truyền thống văn hoá - lịch sử vừa rực rỡ,
vừa bi tráng.
Việt - Trung, thơ đi sứ có quá trình vận động, tiếp nối qua gần 7 TK (từ TK XIII -
XIX), trong đó phải kể tới vai trò của các nhà thơ - sứ thần và thi tập của họ khoảng
thời gian cuối Lê - đầu Nguyễn (1740 - 1820). Thành tựu thơ đi sứ thời này, một
mặt liên quan tới hoạt động bang giao của các triều đại Việt Nam với nhà Thanh -
Trung Hoa, mặt khác phản ánh vận động của thơ và văn chương đương thời.
Nhìn trong sự đối sánh, có thể thấy những dấu ấn riêng của thơ đi sứ ở các thời
đại/triều đại cụ thể: thơ cuối triều Lê thể hiện sự tài hoa, tươi mới qua những bài
thơ tả cảnh thiên nhiên và sự hình thành xu hướng thơ kỷ sự; thơ thời Tây Sơn nổi
bật ở âm hưởng sảng khoái, mạnh mẽ, ở tính chất “hùng văn” mang tinh thần thời
đại song vẫn giàu có yếu tố trữ tình; thơ đầu triều Nguyễn tuy có sự phân hóa ít
nhiều về sắc thái giữa Bắc Hà và Nam Hà song nhìn chung thiên về cảm quan hiện
thực, quan tâm tới những vấn đề của đời sống và con người.
2. Nhìn từ diễn trình vận động thể loại, có thể thấy thi tập cuối Lê - đầu Nguyễn
đã kết tinh một cách đầy đủ những đặc điểm loại hình thơ đi sứ. Những đặc điểm
này vừa là sự tiếp nối thành tựu thơ các thế kỷ trước, đồng thời có sự mở rộng, từ
đó góp phần quan trọng vào quá trình hoàn thiện đặc trưng nghệ thuật thơ đi sứ
trung đại. Ở phương diện nội dung, có thể thấy dấu ấn thơ đi sứ thời này qua những
đối thoại văn hoá và “giao tình” văn chương trong xướng họa, tặng, tiễn; hình ảnh
đất nước, con người Trung Hoa “nhìn từ bên ngoài” mang cảm quan và tâm trạng
sứ thần: sự phong phú của cảm xúc, suy tư ở các bài thơ đề vịnh nhân vật, địa danh
lịch sử; bức tranh thiên nhiên trong cái nhìn đa chiều; xu hướng “áp sát đời sống”
để viết về “những điều trông thấy”. Cái tôi trữ tình hiện diện trong thơ với “nhân
diện” và “tâm thế trữ tình” đặc thù: cái tôi chính khách hùng tâm tráng chí; cái tôi
nghệ sĩ tràn đầy thi hứng trước vẻ đẹp của thiên nhiên, con người, cuộc sống; cái
tôi lữ khách tha hương luân lạc; cái tôi tranh biện/phản biện xã hội. Ở phương diện
hình thức, bên cạnh những yếu tố cổ điển mang dấu ấn Đường thi, sự vận động xu
hướng kỷ sự thơ thể hiện ở lối đặt tiêu đề, hệ thống thi tự tham gia vào kết cấu, hệ
thống tên riêng chỉ địa danh là một điểm nhấn quan trọng của thơ đi sứ các thế kỷ này,
góp phần vào biến chuyển mạnh mẽ của thơ ca và văn học đương thời.
3. Xuất phát từ thói quen xướng họa trong hoạt động chính trị - bang giao, thơ đi