ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HẢO
ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN THẾ LỮ
TRONG VĂN HỌC GIAI ĐOẠN 1932 - 1945 LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Lƣu Khánh Thơ Hà Nội - 2014
Lời cảm ơn
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban
giám hiệu trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia
Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học.
Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô trong khoa Văn
học đã giúp đỡ tôi rất nhiệt tình trong việc học tập cũng như tìm kiếm các tài
liệu, thông tin phục vụ việc học tập và làm luận văn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới người hướng dẫn
PGS.TS Lưu Khánh Thơ, cảm ơn sự tận tụy, nhiệt tình mà Cô đã dành cho tôi
trong suốt quá trình thực hiện luận văn này.
Tôi xin tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè, những người đã động viên,
1.1.2. Dòng truyện ngắn hiện thực 10
1.2. Sự nghiệp sáng tác của Thế Lữ 17
1.2.1. Vài nét về con người Thế Lữ 17
1.2.2. Thế Lữ, người mở đầu một trào lưu thơ ca. 19
1.2.3. Thế Lữ với văn xuôi 24
1.2.4. Thế Lữ với sân khấu kịch nói. 29
CHƢƠNG 2: TRUYỆN NGẮN THẾ LỮ NHÌN TỪ GÓC ĐỘ NỘI DUNG 33
2.1. Truyện kinh dị khác thường( truyện huyễn tưởng) 33
2.2. Truyện trinh thám. 46
2.3. Truyện ngắn theo khuynh hướng lãng mạn. 57
2.4. Truyện ngắn hiện thực gắn với số phận con người 60
CHƢƠNG 3: TRUYỆN NGẮN THẾ LỮ NHÌN TỪ PHƢƠNG DIỆN NGHỆ
THUẬT 66
3.1. Nghệ thuật xây dựng cốt truyện 66
3.2. Nghệ thuật kể chuyện. 71
3.3. Nghệ thuật xây dựng nhân vật 76
3.4. Giọng điệu 81
KẾT LUẬN 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Trong những năm 1932-1945, xã hội Việt Nam có những chuyển biến
mạnh mẽ, sâu sắc. Cùng với sự thay đổi đó của xã hội, văn học cũng có sự
chuyển mình to lớn và đạt được nhiều thành tựu. Công cuộc hiện đại hóa văn
học bắt đầu từ thế kỷ XX đã được tiến hành và đến giai đoạn này đã đạt được
những thành tựu hết sức to lớn. Đây cũng là chặng cuối cùng của cuộc hiện
đại hóa văn học. Văn học Việt Nam đã thay đổi từ hình thức tới nội dung với
Thế Lữ thuộc vào số ít những nghệ sỹ đa tài của nền văn học nghệ thuật
trước Cách mạng. Ông không chỉ là người mở đầu cho phong trào Thơ mới
mà còn là cây bút đầu tiên của một vài thể loại văn xuôi nghệ thuật như
truyện kinh dị, truyện trinh thám, truyện đường rừng… Song hoạt động
nghiên cứu về sự nghiệp văn xuôi của Thế Lữ vẫn chưa thực sự được chú ý.
Vũ Ngọc Phan là người đầu tiên nghiên cứu văn xuôi của Thế Lữ. Trong cuốn
Nhà văn hiện đại Vũ Ngọc Phan viết : “Về thơ, người ta thấy rõ các thi cốt,
các chân tài của Thế Lữ. Về tiểu thuyết, tuy loại truyện trinh thám ông chưa
thành công, nhưng về những loại truyện ghê sợ, ông đã chứng tỏ là một tiểu
thuyết gia có biệt tài”[3, tr.403]. Cũng trong cuốn sách đó ông cho rằng:
“Vàng và máu của Thế Lữ là một tiểu thuyết mà tác giả tỏ ra một văn gia có
biệt tài. Nghệ thuật viết tiểu thuyết của Thế Lữ ở đây đã lên tới trình độ cao.”
Chúng ta còn thấy ý kiến đánh giá về truyện ngắn Thế Lữ trong Lời giới
thiệu tuyển tập Thế Lữ của Lê Đình Kỵ: “Loại sáng tác này cho ta thấy một
Thế Lữ có tài quan sát, óc phân tích sắc bén, có trí tưởng tượng dồi dào, cho
nên dù ít đề cập đến vấn đề gì quan trọng về xã hội và nhân sinh, nó vẫn được
đón nhận và tìm đọc một cách thích thú. Cho đến nay, trong lịch sử văn học
Việt Nam, không có tên tuổi nào đáng được xếp cạnh Thế Lữ trong loại sáng
tác khá độc đáo này”[17].
Đánh giá về văn xuôi Thế Lữ trong Tự lực văn đoàn, trong cuốn Việt
Nam văn học sử yếu, Dương Quảng Hàm cho rằng: “Về thể văn tiểu thuyết
3
trong các truyện dài Vàng và máu hoặc Bên đường thiên lôi, ông thường công
kích những điều mê tín dị đoan. Muốn đạt được chủ đích ấy ông đặt những
câu chuyện có vẻ rất rùng rợn làm cho người đọc ghê sợ, rồi đến đoạn kết
ông đem các lẽ khoa học mà giải thích các việc đã xảy ra một cách đơn giản
và tự nhiên” [13, tr.469].
Nhận xét về truyện ngắn Thế Lữ, trong bài viết Những đóng góp của Thế
Lữ về truyện ngắn, Nguyễn Thành đã viết: “Nhìn chung, nghệ thuật viết
lại rất tỉnh táo trong phương pháp suy luận khoa học”[39].
Tiếp đến, trên tạp chí Văn học số 7 năm 1997, Phan Trọng Thưởng có
bài Thế Lữ nghệ sĩ hai lần tiên phong. Tác giả đã khẳng định: “Với loại
truyện ly kỳ rùng rợn, Thế Lữ đã đạt đỉnh cao của loại truyện này”, chỉ sau
khi tập Mấy vần thơ ra đời được ít lâu, Thế Lữ dần chuyển sang lĩnh vực văn
xuôi với hai sở trường là tiểu thuyết ly kỳ rùng rợn và tiểu thuyết trinh thám
như Vàng và máu (Đời nay, 1937), Bên đường thiên lôi (1936), Mai Hương
và Lê Phong (1937)… Với Vàng và máu, ông có thể được coi là tác giả đạt
đỉnh cao nghệ thuật của loại truyện này. Cũng trong bài viết này, Phan Trọng
Thưởng đã khẳng định công lao to lớn của Thế Lữ trong việc mở ra khuynh
hướng mới cho văn chương Tự lực văn đoàn: “Cùng với Lan Khai và một vài
tác giả khác chuyên viết về loại truyện đường rừng bí hiểm, văn xuôi Thế Lữ
mở ra một khuynh hướng mới của văn chương Tự lực văn đoàn” [35].
Năm 2003, trên tạp chí Văn học số 8, Phạm Đình Ân có bài viết Thế Lữ
trong Tự lực văn đoàn, trong bài viết đó, tác giả khẳng định vị trí, vai trò và
đóng góp của Thế Lữ với nhóm Tự lực văn đoàn; bên cạnh đó, tác giả cũng
viết : “Văn xuôi nghệ thuật của Thế Lữ có một vẻ đẹp riêng, hấp dẫn cho thấy
một khía cạnh đáng lưu ý ở tài năng của Thế Lữ.” [4]
Nhìn chung trong nhiều năm qua, văn xuôi của Thế Lữ được học tập và
nghiên cứu một cách đơn giản và chưa tương xứng với vị trí của nó. Trong
phạm vi nhà trường, học sinh không được tiếp cận với các tác phẩm văn xuôi,
ít được biết đến Thế Lữ ở phương diện nhà văn, nhà dịch thuật, nhà nghệ sỹ
đa tài, nhà đạo diễn sân khấu. Ở luận văn này, chúng tôi muốn đi sâu nghiên
5
cứu những đóng góp của Thế Lữ trong mảng văn xuôi mà đặc biệt là truyện
trinh thám và truyện kinh dị - hai thể loại mà Thế Lữ được coi là người đi tiên
phong.
3.Phạm vi nghiên cứu.
Để thực hiện đề tài này, luận văn sẽ đi sâu vào nghiên cứu một cách cụ
CHƢƠNG 1: THỂ LOẠI TRUYỆN NGẮN
TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1932-1945
VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC CỦA THẾ LỮ.
1.1. Thể loại truyện ngắn trong văn học giai đoạn 1932-1945
1.1.1. Dòng truyện ngắn trữ tình
Có thể nói dòng truyện ngắn trữ tình 1932-1945 được hình thành và phát
triển, để lại một số lượng tác phẩm đồ sộ là nhờ đội ngũ đông đảo các nhà văn
có tài năng và phong cách nghệ thuật với nhiều điểm tương đồng. Trước hết là
sự góp mặt của các thành viên chủ chốt trong nhóm Tự lực văn đoàn như
Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam… Sau đó là các cây bút nổi
bật như Thanh Tịnh, Xuân Diệu, Hồ Dzếnh, Đỗ Tốn, Xuân Diệu, Ngọc Giao,
Thanh Châu… Sự sáng tạo trong phong cách nghệ thuật của họ đã làm nên
một dòng truyện ngắn in đậm dấu ấn trong nền văn học dân tộc.
Có thể nói sự ra đời và phát triển của dòng truyện ngắn trữ tình có sự
đóng góp và dấu ấn mạnh của nhóm Tự lực văn đoàn. Bởi không khó để nhận
ra rằng: dòng truyện ngắn trữ tình chỉ phát triển mạnh mẽ từ khi phong trào
Thơ mới và văn chương Tự lực văn đoàn đạt đến đỉnh cao. Như vậy, việc
truyện ngắn trữ tình ra đời muộn hơn đã giúp nó kế thừa được những thành
quả rực rỡ mà dòng văn học lãng mạn thời kì này đã đạt được. Những thành
viên trong Tự lực văn đoàn đã có công rất lớn trong việc chống lễ giáo phong
kiến, dám đấu tranh chống lại những tư tưởng cổ hủ, những quan niệm đã tồn
tại lâu đời trong xã hội. Bên cạnh đó, các tác giả cũng đã đưa những tư tưởng
mới, đấu tranh cho tự do, hạnh phúc và cả những cái tôi của cá nhân vào văn
học. Một loạt tiểu thuyết đã ra đời với một màu sắc mới về cả tư tưởng, bút
pháp và văn phong thể hiện. Đó không chỉ là việc cách tân về nội dung mà sự
ra đời của thể loại tiểu thuyết và truyện ngắn của nó cũng mang đầy màu sắc
7
mới, hai thể loại này đã mang nền văn xuôi Việt Nam hoàn thành công cuộc
dám từ bỏ cuộc sống phong lưu để gắn bó với đời hát chèo nay đây mai đó
(Đào Mơ, Dọc đường gió bụi).
Hoàng Đạo có khác một chút so với Nhất Linh và Khái Hưng, đó là
truyện của ông có phần nghiêng về hiện thực. Ngòi bút của ông thấm đẫm
tình người khi hướng đến những số phận đói khổ, thấp hèn, đáng thương, tội
nghiệp như cô gái giang hồ trong Tiếng đàn, Mịch trong Một làn sóng, Minh
trong Tiếng pháo xuân… Dù có khác nhau về cách xây dựng nhân vật nhưng
người đọc dễ dàng nhận ra nét chung của Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo
chính là: họ đều hướng về những cái đẹp thuần phác, nguyên sơ, đại diện cho
khuynh hướng lãng mạn trong thời kì đầu.
Với riêng Thạch Lam, ông đã rất xuất sắc khi kế thừa và phát huy những
điểm nổi bật của các tác giả Tự lực văn đoàn. Không những vậy, Thạch Lam
còn là người làm cho truyện ngắn trữ tình trở thành một khuynh hướng sáng
tác trên văn đàn hiện đại; để rồi sau đó tạo nên một sự phong phú về phong
cách, giọng điệu cùng với các tác giả Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh, Đỗ Tốn, Xuân
Diệu, Ngọc Giao, Thanh Châu Số lượng truyện của Thạch Lam không
nhiều, từ năm 1936 đến 1945, ông cho xuất bản ba tập truyện là Gió đầu mùa,
Nắng trong vườn, Sợi tóc và một số truyện lẻ khác. Nhân vật của ông thuộc
nhiều tầng lớp khác nhau, nhưng có điểm chung là thể hiện được sự nhẹ
nhàng, tinh tế. Đọc truyện của ông, người ta nhận ra cái đẹp len lỏi khắp nơi:
đó là cái đẹp của tình người, tình thương đồng loại và cách cư xử rất đúng
mực của Sơn trong Gió lạnh đầu mùa, Tân trong Đứa con đầu lòng, Thanh
trong Dưới bóng hoàng lan… Tinh tế hơn, Thạch Lam đặc biệt quan tâm đến
cái đẹp sâu thẳm trong tâm hồn ở thế giới tinh thần phong phú của họ bằng
những hình ảnh hết sức giản dị.
Bên cạnh những câu chuyện mang đầy nét lãng mạn thì Thạch Lam cũng
là người rất hiện thực. Ông hiểu rằng cái đẹp không thể là cứu cánh để xa rời
hiện thực. Vì thế, hiện thực là mảng thứ hai trong các sáng tác của ông. Tác
giả ðã nhìn về những số phận đau khổ, thiệt thòi mà đặc biệt là phụ nữ và trẻ
10
Phượng Trinh và Đỗ trong Hoa vông vang, Huân (Điệu thu ca) cho đến bà
cháu (Tình quê hương) đều mang hơi hướng cảm xúc, thể hiện chất trữ tình
đặc sắc.
Bên cạnh Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh, Đỗ Tốn thì còn có Xuân
Diệu với tập Phấn thông vàng (1939) đến với dòng truyện ngắn trữ tình. Xuân
Diệu vốn được biết đến với thơ. Dường như cái cái ham sống trong thơ mà
người đời đã quen thuộc tạo cho văn ông một nét rất riêng, rất Xuân Diệu.
Cũng nhờ con người của Thơ đó, ông phát hiện ra cái nhàm chán, tù đọng
đang có nguy cơ hủy hoại, bào mòn tâm hồn con người. Thế nên, để thay đổi
điều đó, toàn bộ tập truyện là sự vận động của thiên nhiên, đầy cảm xúc, giàu
chất thơ.
Ngoài các tác giả của dòng truyện ngắn trữ tình đã nói ở trên, chúng ta
còn biết đến Thanh Châu, Ngọc Giao - những người đã góp phần không nhỏ
vào dòng truyện ngắn trữ tình với những truyện đong đầy cảm xúc của họ.
Có thể nói: đội ngũ sáng tác với những gương mặt kể trên đã tạo nên
một dòng truyện mang màu sắc riêng, làm cho dòng truyện ngắn trữ tình trở
thành một bộ phận quan trọng góp phần làm phong phú diện mạo của văn học
hiện đại trước Cách mạng và giúp đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa văn học
dân tộc.
1.1.2. Dòng truyện ngắn hiện thực
Hiện thực đầy biến động của xã hội Việt Nam những năm 1932-1945 là
đề tài vô cùng phong phú, là nguồn cảm hứng vô tận cho các nhà văn khai
thác và phản ánh vào văn chương. Nhưng nhìn hiện thực đó theo cách như thế
nào lại do từng cá nhân. Chính vì thế, ngoài dòng truyện ngắn trữ tình đã nói
trên, dòng truyện ngắn hiện thực cũng là một bộ phận không thể thiếu góp
phần hoàn thiện quá trình hiện đại hóa văn học. Nếu như các nhà văn trữ tình
phản ánh cuộc sống bằng cái nhìn lãng mạn, kết hợp hiện thực và cảm xúc cá
nhân thì các tác giả hiện thực đã mang đến cho độc giả những vấn đề bức xúc,
12
Chí Phèo, Lão Hạc, Lang Rận, Một bữa no, Một đám cưới… là những
truyện tiêu biểu viết về đề tài người nông dân. Nam Cao không phải là người
duy nhất viết về cái nghèo, nhưng chưa một tác giả nào viết về cái nghèo lại
có sức ám ảnh khủng khiếp đến thế. Nhân vật của Nam Cao bị xô đẩy đến
tình cảnh hết sức khốc liệt, có khi bị mất cả nhân tính. Nghèo đến thiếu ăn đủ
khổ rồi, họ bị biến thành lưu manh hóa còn khổ hơn. Đau đớn hơn nữa, họ
còn bị từ chối quyền làm người chỉ vì nghèo đói. Tuy vậy, với tấm lòng nhân
đạo sâu sắc, ngòi bút Nam Cao đã phát hiện, nâng niu bản chất tốt đẹp, lương
thiện ẩn sâu trong tâm hồn con người, hiểu được nguyên nhân làm cho họ bị
tha hóa.
Vũ Trọng Phụng đến với mảng hiện thực bằng quan điểm “tiểu thuyết là
sự thực ở đời”. Ông không đề cập đến những vấn đề rộng lớn của xã hội như
tiểu thuyết phóng sự nhưng những trang văn của ông đã toát lên những ý
nghĩa xã hội, nhân sinh sâu sắc lớn lao khi đề cập đến những khía cạnh bình
thường của xã hội như đạo đức, thế thái nhân tình trong cái xã hội đen tối, đảo
điên của xã hội thực dân phong kiến.
Trong Bộ răng vàng, Trúng số độc đắc, Một cái chết, Bà lão lòa nhà văn
thể hiện thái độ căm ghét thế lực và sức mạnh đồng tiền - thứ đã biến mọi
quan hệ của con người thành quan hệ mua bán khiến con người trượt dài trên
con đường tha hóa đạo đức. Tác giả cũng mỉa mai lối sống rởm đời, buông
thả, giả dối và đớn hèn; chế giễu lối sống ngông nghênh, vô nghĩa hết sức lố
bịch. Các tác phẩm của ông phanh phui, phơi bày bao nhiêu mặt trái đen tối,
những tệ nạn, thói hư tật xấu trong xã hội. Hơn tất cả, Vũ Trọng Phụng muốn
chế nhạo, báng bổ cái xấu xa, bần tiện của nhiều hạng người, đồng thời muốn
cắt bỏ ung nhọt của xã hội khốn nạn lúc bấy giờ.
Ở truyện của Nguyên Hồng, người đọc lại thấy được cuộc sống lam lũ,
cơ cực bần cùng của người lao động nghèo khổ ở các thành phố lớn như: Hà
Nội, Hải Phòng, Nam Định. Sự bóc lột hà hiếp ở nông thôn khiến họ phải bỏ
cá tính sinh động như: Kép Tư bền, Sáng, Anh xẩm, Thằng Quýt, Cụ chánh
Bá, mà tiêu biểu là nhân vật huyện Hinh trong Đồng hào có ma.
14
Đặt con người trong tinh thần giai cấp, con người bản năng, con người
vô nghĩa lý, nhân vật trong truyện Vũ Trọng Phụng mang đủ màu sắc của thói
hư tật xấu. Có thể kể đến: hai anh em trong Bộ răng vàng là những kẻ bất
hiếu, khốn nạn, ti tiện, đểu cáng; sự lố bịch, giả dối, bê tha của gia đình họa
sỹ Khôi Kỳ trong Hồ sê líu, hồ líu sê sàng; mưu mô, thủ đoạn của Phách
trong Đoạn tuyệt hay ích kỉ tầm thường của nhân vật tôi trong Một đồng bạc.
Tác giả đã khắc họa tính cách nhận vật khá sắc sảo, đầy đặn và có chiều sâu
tâm lý.
Nhân vật của Nam Cao luôn đứng trước sự tấn công dữ dội, nghiệt ngã
của hoàn cảnh sống đến mức cả sự sống bị đe dọa và nhân cách có nguy cơ bị
tha hóa. Họ phải đấu tranh trong sự tuyệt vọng chỉ để tồn tại. Chính vì điều
đó, nhân vật luôn mang trong mình một tâm hồn đau đớn, dai dẳng khôn cùng
và đó cũng là bi kịch chung cho cả giai cấp, tầng lớp. Điền, Hộ tiêu biểu cho
lớp trí thức tiểu tư sản bị xã hội phong kiến bóp chết ước mơ, khát vọng về sự
nghiệp khiến họ phải “sống mòn”. Lão Hạc điển hình cho người nông dân bị
bần cùng hóa, Chí Phèo điển hình cho tầng lớp nông dân lưu manh, tha hóa.
Quả thực, nhân vật của Nam Cao đạt đến sự điển hình của tính cách, trở nên
bất hủ trong văn chương.
Cùng hướng về hiện thực cuộc sống, nhưng nhân vật của Nguyên Hồng
lại được tác giả phát hiện, nâng niu vẻ đẹp trong chính những mảnh vỡ tâm
hồn của những con người dưới đáy xã hội. Họ có thể là gái điếm, lưu manh
như Bảy Hựu, Chín Huyền trong các tác phẩm cùng tên; phu phen, thợ
thuyền: Nhân (Đây bóng tối); Những kẻ ăn mày đầu đường xó chợ: Điều, Tý
Sáu (Con chó vàng); hoặc là những người đàn bà buôn thúng, bán mẹt, hàng
cơm, hàng nước: Vịnh (Hàng cơm đêm)… Người lao động đã làm việc một
cách cực nhọc mà vẫn đói khổ, bị rẻ rúng về thân phận, chịu bao đau khổ
Phụng đề cập vấn đề môi trường và kêu gọi bảo vệ loài chim, song ngẫm kĩ
lại mới thấy cái ý nghĩa khái quát về một bài học nhân sinh: ý nghĩa của sự tự
do và sự tự do của chính con người.
16
Nam Cao xây dựng cốt truyện dựa trên sự miêu tả những đấu tranh,
xung đột nội tâm của nhân vật. Hệ thống sự kiện xuất hiện với vai trò là
nguyên nhân, nguồn gốc của những cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ của nhân
vật; sự vận động xảy ra ở thế giới nội tâm nhân vật. Vì thế, cách mở đầu, kết
thúc hay những sự kiện biến cố có tính chất bước ngoặt trong cuộc đời nhân
vật đều thể hiện những xung đột nội tâm hay diễn biến tâm lý của nhân vật.
Ví dụ điển hình là nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên. Hắn điên
khùng và bất lực khi bị cô lập trước đồng loại, cách duy nhất để giải tỏa tâm
trạng u uất cùng cực đó là vừa đi vừa chửi ngay mở đầu thiên truyện; hành
động đó mang dấu ấn tâm lý rõ nét. Sự thay đổi nhận thức cùng những diễn
biến tâm lý của Chí Phèo là một quá trình dài: ban đầu là một nông dân lương
thiện, sau khi ở tù về thì trở thành nỗi khiếp sợ trong mắt mọi người; rồi cuộc
gặp gỡ và tình yêu với Thị Nở đã làm sống dậy những mơ ước bình dị nhất;
để rồi bị từ chối tàn nhẫn và cuối cùng là giết Bá Kiến và tự sát.
Ngoài cốt truyện, nhân vật thì ngôn ngữ, giọng điệu góp phần không nhỏ
vào sự thành công của dòng truyện ngắn hiện thực. Nét chung nhất của các
nhà văn thuộc dòng này là sự khách quan đôi khi đến lạnh lùng. Tuy vậy, mỗi
tác giả tạo dấu ấn riêng nhờ phong cách cá nhân của mình.
Nguyễn Công Hoan sử dụng ngôn ngữ quần chúng với sự chọn lọc và
nâng cao, đậm đà màu sắc cuộc sống. Giọng văn của ông có sắc thái sinh
động đặc biệt khiến người đọc có cảm giác nhà văn đang nói chuyện với
mình. Văn phong của Nguyễn Công Hoan trong sáng, linh hoạt, sống động
được biểu hiện bằng một giọng điệu trào phúng với nhiều cung bậc, sắc thái:
có cả hài hước, mỉa mai, diễu cợt, lên án… (Gái tân thời, Thật là phúc, Đào
kép mới, Đàn bà là giống yếu…).
thính vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, học được một năm thì bỏ.
Ông viết truyện, làm thơ từ khá sớm và bắt đầu đóng kịch từ năm 1928. Đến
năm 1932, ông được mời làm báo Phong hóa rồi gia nhập Tự lực văn đoàn, là
18
một trong những người sáng lập văn phái này. Ông là nhân vật chủ chốt cho
cả Phong hóa và Ngày nay, là cây bút có lối viết sắc sảo và tinh tế.
Trong lĩnh vực thơ ca, Thế Lữ được biết đến nhiều nhất là bài Nhớ rừng
(1934) ông đã trở thành nhà thơ tiêu biểu nhất của buổi đầu thơ mới và là
người góp phần quan trọng nhất để bắt đầu phong trào Thơ mới lúc bấy giờ.
Không chỉ thơ, Thế Lữ còn quan tâm đến nhiều ngành nghệ thuật khác nhau
như văn xuôi, kịch nói. Là thành viên Tự lực văn đoàn, ông vẫn giữ vai trò
quan trọng trong việc viết bài, biên tập, sáng tác các tác phẩm văn chương;
nhưng bên cạnh đó, kịch nói và sân khấu vẫn là một niềm đam mê. Cùng một
lúc ông đảm nhận nhiều công việc trong đoàn kịch như viết kịch bản, làm
diễn viên, đạo diễn, chỉ đạo nghệ thuật. Ông tham gia ban kịch Tinh hoa, xây
dựng ban kịch Thế Lữ, rồi ban kịch Anh Vũ. Bên cạnh đó, ông còn dịch nhiều
tài liệu nước ngoài về sân khấu và kịch các loại.
Ngay từ khi còn trẻ, Thế Lữ đã có tư tưởng tiến bộ, ông tham gia Thanh
niên cách mạng đồng chí hội khi mới hai mươi mốt tuổi. Trước Cách mạng,
khi Tự lực văn đoàn ngừng hoạt động, ông đã chỉ đạo đoàn nghệ thuật đi phục
vụ dọc miền đất nước, đưa đoàn kịch vào chiến khu để phục vụ kháng chiến.
Năm 1948, ông được bầu làm Ủy viên thường vụ Ban Chấp hành tại Đại
hội thành lập Hội Văn nghệ Việt Nam. Thế Lữ cũng là trưởng đoàn sân khấu
Việt Nam năm 1948-1949.
Cuối năm sau đó, Thế Lữ phụ trách đoàn kịch Chiến thắng, tổ chức đi
biểu diễn ở các tỉnh miền núi phía Bắc.
Năm 1955, ông là trưởng ban Nghiên cứu Nghệ thuật sân khấu Việt
Nam, đồng thời là trưởng đoàn Đoàn Văn công nhân dân Trung ương, tham
gia hội diễn ở Nhà hát nhân dân thành phố Hà Nội. Ông chỉ đạo đoàn Ca múa
Thế Lữ đã ra mắt độc giả hơn 50 bài thơ, chủ yếu được sáng tác trước
năm 1945 và được in trên báo Phong hóa và Ngày nay, sau tập hợp vào hai
tập thơ: Mấy vần thơ (1935), Mấy vần thơ (tập mới, 1941). Có rất nhiều người
đánh giá vai trò của ông với thơ mới, đáng chú ý là ý kiến của Vũ Ngọc Phan
: “ Phan Khôi, Lưu Trọng Lư chỉ là những người làm cho người ta chú ý đến
20
thơ mới mà thôi, còn Thế Lữ mới chính là người làm cho ta tin cậy ở tương
lai của thơ mới” [3, tr.171]. Một ý kiến khác của Hoài Thanh, Hoài Chân
trong Thi nhân Việt Nam: “Độ ấy thơ mới vừa ra đời. Thế Lữ như vầng sao
đột hiện, ánh sáng chói khắp cả trời thơ Việt Nam” [3, tr.163].
Có thể thấy, Thế Lữ là nhà thơ tiên phong mở đầu cho phong trào Thơ
mới. Ông đã mang đến cho thơ mới những sáng tác đầy giá trị. Vào buổi đầu
ấy, ông đã thổi hồn mới vào thơ mà đối với lớp người cũ người ta chỉ quen
ngâm thơ Tản Đà, Á Nam, đọc Truyện Kiều,… Bắt đầu từ Nhớ rừng, sau đó
là Cây đàn muôn điệu, Tiếng sáo thiên thai…Trong lúc vấn đề cũ và mới
trong thơ chưa được phân định thì sự cách tân táo bạo cả về hình thức và nội
dung của Nhớ rừng đã mang lại sự thắng thế hoàn toàn cho thơ mới. Nhà phê
bình Hoài Thanh đã từng nhận xét: “Thế Lữ không bàn về thơ mới, không
bênh vực thơ mới, không bút chiến, không diễn thuyết, Thế Lữ chỉ lặng lẽ, chỉ
điềm nhiêm bước những bước vững vàng trong khoảnh khắc cả hàng ngũ thơ
xưa phải tan vỡ” [3, tr.163]. Tiếp theo Thế Lữ là cả một thế hệ, một phong
trào thi ca sáng tạo và tân tiến như Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Huy Cận,…
Thế Lữ là người đi đầu trong phong trào Thơ mới. Ông đã đưa ra một
quan niệm có tính tuyên ngôn: thơ phải là cây đàn muôn điệu, phải vang lên
những khúc nhạc, giai điệu trong đời.
Cảnh vĩ đại, sóng nghiêng trời, thác ngàn đổ
Nét mong mang, thấp thoáng cánh hoa bay
Cảnh cơ hàn nơi nước đọng bùn lầy;
Thú xán lạn mơ hồ trong ảo mộng;
tự do và tù túng, cảnh đời tầm thường giả dối và thiên nhiên hũng vĩ, quá khứ
và hiện tại,… Và cuối cùng, nổi lên tâm trạng u uất, chán chường về cuộc
sống và một khát vọng tự do mãnh liệt. Hình ảnh con hổ, loài chúa sơn lâm
của núi rừng, là một biểu tượng uy nghi đối lập với cái tầm thường nhỏ bé.
Hình tượng này có sức chiếm lĩnh, làm cho giọng điệu thơ hùng tráng nhưng
không kém phần thiết tha. Chỉ một cặp câu thơ: “Nào đâu những đêm vàng
bên bờ suối/ Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan”, theo nhà thơ Vũ Đình
Liên cũng có sức mạnh như một tuyên ngôn.