đặc điểm truyện ngắn lưu trọng lư - Pdf 32

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Trần Hoài Ngọc

ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN
LƯU TRỌNG LƯ

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS PHÙNG QUÝ NHÂM

Thành phố Hồ Chí Minh - 2012


2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Trần Hoài Ngọc

ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN
LƯU TRỌNG LƯ

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 602 234


2.2.1. Cảm hứng trữ tình ......................................................................... 41
2.2.2. Cảm hứng thế sự............................................................................ 54
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT CỦA TRUYỆN NGẮN LƯU
TRỌNG LƯ...................................................................................................... 69
3.1. Nghệ thuật xây dựng nhân vật ............................................................ 69
3.2. Nghệ thuật tổ chức cốt truyện và tạo dựng tình huống truyện ........... 77
3.2.1. Tổ chức cốt truyện ......................................................................... 77
3.2.2. Tạo dựng tình huống truyện .......................................................... 79
3.3. Kết cấu ................................................................................................ 81
3.3.1. Kết cấu tuyến tính .......................................................................... 81
3.3.2. Kết cấu phi tuyến tính .................................................................... 88
3.4. Ngôn từ nghệ thuật trong truyện ngắn Lưu Trọng Lư ........................ 94
3.5. Không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Lưu Trọng Lư ................ 100
KẾT LUẬN .................................................................................................... 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................. 112


4

DẪN NHẬP
1. Lí do chọn đề tài
Nền văn xuôi hiện đại Việt Nam ra đời từ khoảng cuối thế kỉ XIX đầu
thế kỉ XX. Trong giai đoạn giao thời của nền văn học (từ cuối thế kỉ XIX đến
năm 1930), văn xuôi chưa có nhiều thành tựu nổi bật. Nhưng bước sang giai
đoạn 1930 – 1945, nó phát triển mạnh mẽ chưa từng có và gặt hái nhiều thành
quả to lớn.
Bên cạnh tiểu thuyết, truyện ngắn là một thể loại kết tinh thành tựu của
văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945. Chưa bao giờ truyện ngắn nước ta
lại phong phú và đặc sắc như thế: truyện ngắn trào phúng của Nguyễn Công
Hoan; truyện ngắn trữ tình của Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh; truyện

sắc như truyện ngắn của các nhà văn cùng thời. Nhưng dù sao đi chăng nữa,
việc tìm hiểu truyện ngắn Lưu Trọng Lư một cách toàn diện, hệ thống nhằm
phát hiện và ghi nhận lại những giá trị của nó cũng là việc đáng làm. Với suy
nghĩ như vậy, chúng tôi đã mạnh dạn chọn đề tài tìm hiểu Đặc điểm truyện
ngắn Lưu Trọng Lư. Đây cũng là cách chúng tôi bày tỏ tấm lòng yêu quý
trước tài năng đa dạng của ông và sự trân trọng đối với những di sản văn
chương của dân tộc.
2. Lịch sử vấn đề
Con đường hoạt động nghệ thuật của Lưu Trọng Lư trải dài hơn nửa
thế kỉ. Ở đó, Lưu Trọng Lư nhận được nhiều sự yêu thương, quan tâm ưu ái
của độc giả, giới văn sĩ và những người nghiên cứu. Cho nên, có nhiều công
trình, bài viết đã nghiên cứu về quê hương, con người và cuộc đời nghệ thuật
của Lưu Trọng Lư. Tuy nhiên, trong các công trình, bài viết này, hầu hết các
nhà nghiên cứu đều tập trung, đi sâu vào những sáng tác thơ của Lưu Trọng
Lư, đặc biệt là thơ trước Cách mạng tháng Tám.


6

Lưu Trọng Lư với tư cách một nhà thơ đã được ghi nhận và đánh giá.
“Có thể tóm tắt tất cả những ý trong thơ của Lưu Trọng Lư vào hai chữ tình
và mộng. Lưu Trọng Lư là một thi sĩ đa tình và mơ mộng. Ông say sưa tất cả
những cái đẹp của người và của tạo vật, tấm lòng ông lúc nào cũng thổn thức,
trí não ông lúc nào cũng mơ màng, ông đem xáo trộn thực với mộng, mộng
với thực, thổ lộ nên những lời thơ huyền ảo vô cùng” [52, 672]. Thơ Lưu
Trọng Lư còn là những vần thơ chứa đựng nhiều cảm xúc chân thành và rất
giàu nhạc điệu: “Âm nhạc là đặc trưng nổi bật, là nhịp mạnh của Thơ mới. Đó
là một sự sáng tạo kì diệu của nó. Và trong Thơ mới, Lưu Trọng Lư là nhà
thơ, nhạc sĩ hơn cả, thơ Lưu Trọng Lư hầu như chỉ là những bản nhạc thuần
túy, những bản nhạc mờ ảo trên nền những bức tranh cũng mờ ảo” [27, 287288]. Về thơ Lưu Trọng Lư sáng tác sau năm 1945, nhà nghiên cứu Nguyễn

Năm 1942, trong Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan cho rằng truyện
Người sơn nhân “cũng cảm động, nhưng cũng không phải tốt đẹp quá như lời
Phan Khôi đã phê bình”. “Trong tập truyện ngắn của Lưu Trọng Lư, Người
sơn nhân có thể coi là một truyện kết cấu khéo léo. Thế thôi. Còn hai truyện
kia là thứ truyện tầm thường, không có gì đặc sắc cả. Ngay những truyện
ngắn về sau này của Lưu Trọng Lư cũng đều tầm thường cả” [52, 684].
Mục từ “Lưu Trọng Lư” trong Từ điển văn học (1983) chỉ nhắc qua về
tập truyện ngắn Người sơn nhân: “1933, xuất bản tập Người sơn nhân, gồm
ba truyện ngắn và mười bài thơ, gây được chú ý” [18, 904].
Trong Thơ – những gương mặt, tác giả Thiếu Mai nhận xét: “Lưu
Trọng Lư, ngoài thơ ra còn viết nhiều tiểu thuyết, truyện ngắn. Truyện của
anh phần lớn có tính chất hoài cổ (Chiếc cáng xanh, Dòng họ) hoặc đi sâu vào
tình ái lãng mạn (Huế, một buổi chiều, Cô gái hái dâu), hoặc miêu tả những
chuyện thần tiên ma quái (Huyền không động), nói chung thuộc xu hướng
lãng mạn tiêu cực. Tuy vậy trong số đó nổi bật lên vài truyện phảng phất đôi


8

chút tinh thần dân tộc và ý thức phản kháng chế độ (Con voi già của vua Hàm
Nghi, Người sơn nhân), hoặc trân trọng đối với cuộc sống cay cực của người
nghèo (Con chim sổ lồng, Khói lam chiều) [27, 208].
Trong Lời giới thiệu Lưu Trọng Lư tuyển tập (thơ, văn xuôi, kịch thơ)
năm 1987, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Long có những nhận xét về ba truyện
ngắn trong tập Người sơn nhân: “Người sơn nhân là một tiếng nói phản
kháng, một khao khát tự do nhưng khá mơ hồ và bế tắc (…) Truyện Con chim
sổ lồng có sự cảm thông với số phận của một đứa trẻ nghèo, bút pháp của
truyện gần với tả thực hơn, có pha một chút chua chát. Ly Tao tuyệt vọng đậm
màu sắc lãng mạn huyền hoặc, nhưng mang được mối đồng cảm xót xa với
thân phận những kẻ sĩ bạc mệnh” [39].

này, Lại Nguyên Ân đã đưa ra nhiều nhận xét đi sâu vào các phương diện nội
dung và nghệ thuật của văn xuôi Lưu Trọng Lư. Theo Lại Nguyên Ân, “thế
giới thơ của Lưu Trọng Lư thật ra không tách rời, mà ngược lại, có sự tiếp nối
với thế giới văn xuôi do ông sáng tạo, đó là cuộc sống trong các truyện ngắn,
truyện dài ông viết” [42, 14]. Truyện của Lưu Trọng Lư có nhiều loại: truyện
thần tiên, ma quái; truyện truyền thuyết, dã sử; truyện tâm lý xã hội hoặc
truyện thế sự. Trong những truyện thần tiên, ma quái, Lưu Trọng Lư thường
dùng lời văn kể chuyện và lối mô tả khá ước lệ và gần gũi với giọng thơ lãng
mạn của ông; còn đề tài hầu hết những truyện thần tiên này là đề tài tình yêu,
những tình yêu không bị giới hạn bởi ranh giới tiên – tục, thần – người, thầy
tu – gái điếm. Khả năng cảm nhận và biểu hiện đời sống đương thời của ngòi
bút viết truyện Lưu Trọng Lư cũng được nhắc đến. Theo tác giả bài viết,
những dáng nét đời sống đương thời, cụ thể như dáng nét của giới học sinh
Hà Thành những năm 1930, của nam nữ học sinh xứ Huế ở tác phẩm Lưu
Trọng Lư “có lẽ còn rõ rệt hơn thậm chí so với không ít tác phẩm của các tác
gia trong Tự Lực văn đoàn, hoặc so với một vài đàn anh trong số những người


10

cùng cộng tác với nhà Tân Dân như Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố” [42,
17]. Về thế giới nhân vật trong truyện của Lưu Trọng Lư, theo Lại Nguyên
Ân, kiểu nhân vật nổi bật là những con người thất bại. Sau cùng, Lại Nguyên
Ân khẳng định, lãng mạn là nét phong cách khá nổi bật ở văn xuôi tự sự trước
1945 của Lưu Trọng Lư.
Trên đây là một số ý kiến nhận xét của các nhà nghiên cứu về những
vấn đề có liên quan đến đề tài. Qua đó có thể khẳng định rằng chưa có một
công trình nghiên cứu nào lấy truyện ngắn của Lưu Trọng Lư làm đối tượng
nghiên cứu độc lập và toàn diện. Những nhận định về truyện ngắn Lưu Trọng
Lư từ trước đến nay còn khá ít ỏi và mang tính sơ bộ. Tuy nhiên, đáng ghi

diện thuộc nội dung và hình thức nghệ thuật của truyện ngắn Lưu Trọng Lư
như đề tài và cảm hứng nghệ thuật, nghệ thuật xây dựng nhân vật, xây dựng
kết cấu và ngôn ngữ tác phẩm. Những yếu tố này sẽ giúp chúng tôi thấy được
một cách tương đối khái quát những nét đặc sắc, riêng biệt trong truyện ngắn
Lưu Trọng Lư.
4. Mục đích nghiên cứu
Với đề tài nghiên cứu này, mục đích của chúng tôi là tìm kiếm, phát
hiện và ghi nhận lại những giá trị nổi bật của truyện ngắn Lưu Trọng Lư.
Chúng tôi hi vọng sẽ có những đóng góp nhất định trong việc đem đến một
cái nhìn tương đối toàn diện và sâu sắc hơn về truyện ngắn Lưu Trọng Lư;
góp phần làm phong phú những hiểu biết về Lưu Trọng Lư, không chỉ như
nhà thơ tài năng mà còn như nhà viết truyện ngắn đặc sắc.
5. Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi đã dựa trên quan điểm Mác-xít trong
nghiên cứu văn học. Đó là việc nghiên cứu văn học trong mối quan hệ với bối


12

cảnh lịch sử và hoàn cảnh xã hội; xem xét tác phẩm trong mối quan hệ giữa
nhà văn – cuộc sống và bạn đọc; chú ý qui luật thống nhất nội tại giữa nội
dung và hình thức trong tác phẩm văn học.
Chúng tôi cũng vận dụng những thành tựu của các khoa học liên ngành
như lý luận văn học, thi pháp học, phong cách học, phương pháp luận nghiên
cứu văn học,… trong quá trình nghiên cứu.
Ngoài những vấn đề có tính chất phương pháp luận như trên, trong quá
trình thực hiện luận văn này, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp
chủ yếu, cụ thể như sau:
- Phương pháp phân tích –tổng hợp được sử dụng xuyên suốt trong
luận văn. Đi từ việc khảo sát, phân tích từng truyện ngắn, từng yếu tố nổi bật

người viết sẽ tìm hiểu đặc điểm của cách xây dựng nhân vật, cốt truyện
và kết cấu, ngôn ngữ nghệ thuật và không gian nghệ thuật trong truyện
ngắn Lưu Trọng Lư.


14

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TRUYỆN NGẮN CỦA LƯU TRỌNG LƯ
1.1. Truyện ngắn và truyện ngắn hiện đại Việt Nam trước năm 1945
1.1.1. Truyện ngắn – khái niệm, đặc trưng
Truyện ngắn là một thể loại không thể thiếu trong bất kì nền văn học
dân tộc nào. Đây là một thể loại hết sức gần gũi và có nhiều ý nghĩa đối với
sự phát triển toàn diện và vững chắc của văn học, cũng như đối với sự rèn
luyện mài dũa ngòi bút của các nhà văn.
Truyện ngắn là một khái niệm quen thuộc nhưng tìm một định nghĩa
duy nhất, đầy đủ, chính xác về nó thì không dễ. Trong Từ điển văn học bộ
mới, truyện ngắn được xác định là “một thể loại tự sự cỡ nhỏ, thường được
viết bằng văn xuôi, đề cập hầu hết các phương diện đời sống của con người và
xã hội. Nét nổi bật của truyện ngắn là dung lượng; tác phẩm truyện ngắn thích
hợp với việc người tiếp nhận (độc giả) đọc nó liền một mạch không nghỉ” [18,
1846-1847]. Mục truyện ngắn trong Từ điển thuật ngữ văn học ghi nhận
truyện ngắn là “tác phẩm tự sự cỡ nhỏ. Nội dung của thể loại truyện ngắn bao
trùm hầu hết các phương diện của đời sống: đời tư, thế sự hay sử thi, nhưng
cái độc đáo của nó là ngắn. Truyện ngắn được viết ra để tiếp thu liền một
mạch, đọc một hơi không nghỉ” [22, 370].
Các nhà văn, với trải nghiệm thực tế của mình, đã đưa ra những cảm
nhận cụ thể và một số đúc kết đa dạng. Aimatov đã phát biểu: “Truyện ngắn
giống như một thứ tranh khắc gỗ, lao động nghệ thuật ở đây đòi hỏi chặt chẽ,
cô đúc, các phương tiện phải được tính toán một cách tinh tế, nét vẽ phải
chính xác. Đây là một việc vô cùng tinh tế. Xoay xỏa trên một mảnh đất hẹp,

365].


16

Bên cạnh đặc điểm “ngắn”, các nhà nghiên cứu còn khu biệt truyện
ngắn ở tính chất giới hạn trong việc phản ánh đời sống và ở hiệu quả nghệ
thuật mà nó tạo ra khi so sánh với một thể loại gần gũi là tiểu thuyết.
Cùng thuộc về loại hình tự sự hư cấu, truyện ngắn gần gũi tiểu thuyết ở
chỗ nó cũng có khả năng phản ánh hầu hết các phương diện của đời sống như
đời tư, thế sự hay sử thi. Truyện ngắn có thể kể về cả một cuộc đời hay một
đoạn đời, một sự kiện hay một “chốc lát” trong cuộc sống nhân vật, nhưng cái
chính của truyện ngắn không phải ở hệ thống sự kiện, mà ở cái nhìn tự sự đối
với cuộc đời.
Khác với tiểu thuyết là thể loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự
đầy đặn và toàn vẹn của nó, truyện ngắn thường hướng tới việc khắc họa một
hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống
tâm hồn của con người. Vì thế, trong truyện ngắn thường có ít nhân vật, ít sự
kiện phức tạp. Và nếu mỗi nhân vật của tiểu thuyết là một thế giới, thì nhân
vật của truyện ngắn là mảnh nhỏ của thế giới ấy. Truyện ngắn thường không
nhắm tới việc khắc họa những tính cách điển hình đầy đặn, nhiều mặt trong
tương quan với hoàn cảnh. Nhân vật của truyện ngắn thường là hiện thân cho
một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội, hoặc trạng thái tồn tại của con
người. Mặt khác, do đó truyện ngắn lại có thể mở rộng diện nắm bắt các kiểu
loại nhân vật đa dạng của cuộc sống, chẳng hạn như chức nghiệp, xuất thân,
gia hệ, bạn bè,… những kiểu loại mà trong tiểu thuyết thường hiện ra thấp
thoáng trong các nhân vật phụ.
Cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong một thời gian, không
gian hạn định. Nếu tiểu thuyết là cuộc đời trong sự trọn vẹn của nó thì truyện
ngắn lại là mặt cắt của dòng đời. Nếu tiểu thuyết diễn tả một quá trình vận

và có dung lượng lớn. Cùng lối hành văn mang nhiều ẩn ý, chúng tạo cho tác


18

phẩm những chiều sâu chưa nói hết. Chi tiết đắt giá có thể nâng tác phẩm lên
đến “cấp độ tượng trưng, tạo sức ám ảnh” [63, 84].
Tóm lại, với những đặc điểm cơ bản vừa nêu, có thể khẳng định truyện
ngắn là một thể loại dân chủ, gần gũi với đời sống hằng ngày, lại súc tích, dễ
đọc, có tác dụng và ảnh hưởng kịp thời trong đời sống.
1.1.2. Vài nét về truyện ngắn hiện đại Việt Nam trước 1945
Từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một thời kì
rất quan trọng trong lịch sử dân tộc nói chung và lịch sử văn học nói riêng.
Với không đầy nửa thế kỉ, xã hội Việt Nam đã có những biến đổi sâu sắc chưa
từng thấy. Vượt lên sự kìm hãm của các thế lực thực dân phong kiến, hòa
nhịp với sự lớn mạnh của dân tộc, nền văn học nước nhà đã phát triển theo
hướng hiện đại hóa với tốc độ rất nhanh và đạt được những thành tựu to lớn.
Đặc biệt là ở giai đoạn 1930 – 1945, các đặc điểm của thời kì văn học đều
được đẩy lên một bước cao nhất, sâu sắc nhất, toàn diện nhất, do đó cũng nổi
rõ nhất.
Trong bức tranh đa dạng của văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến
Cách mạng tháng Tám năm 1945, truyện ngắn là một trong những mảng màu
chủ đạo.
Nền truyện ngắn hiện đại Việt Nam được hình thành từ cuối thế kỉ XIX
với tác phẩm mở đầu là Thầy La-za-rô Phiền (1887) của Nguyễn Trọng Quản.
Sáng tác văn xuôi quốc ngữ đầu tiên này tuy còn vụng về, non yếu nhưng lại
là “con chim lạ từ phương Tây đáp xuống một vùng đất còn vắng bóng đồng
loại”; “nổi lên như một ốc đảo chơi vơi vào nửa sau thế kỉ XIX, không riêng ở
Nam Kì mà ở cả Việt Nam” [19, 303].



20

và quá khứ thể hiện khát vọng vượt trên cuộc sống hiện tại chật chội tù túng,
dung tục, tầm thường. Về hình thức nghệ thuật, có thể xem truyện ngắn trữ
tình là hình thức thơ trong văn xuôi, bởi có sự du nhập khá mạnh mẽ của các
yếu tố thơ vào văn xuôi, làm cho văn xuôi tự sự trở thành những bài thơ văn
xuôi với sự gợi ám và lắng đọng. Tiêu biểu là truyện ngắn của Thạch Lam,
Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh, Nguyễn Tuân,…
Thạch Lam được coi là một cây bút truyện ngắn xuất sắc của văn học
giai đoạn 1930 - 1945. Truyện ngắn của ông thường viết về những con người
bé nhỏ ở phố huyện nghèo hay ở vùng ngoại ô Hà Nội với tấm lòng trắc ẩn,
thương xót chân thành. Văn Thạch Lam giản dị, trong sáng, nhẹ mà thấm,
nhiều dư vị.
Rất gần gũi với cách viết của Thạch Lam là Thanh Tịnh và Hồ Dzếnh.
Tuy thế giới nghệ thuật của ba nhà văn này khác nhau (Thanh Tịnh thường
hướng ngòi bút của mình về những người dân ở một cái làng Mĩ Lí thơ mộng
thuộc miền Trung; còn Hồ Dzếnh chỉ viết người thân trong gia đình mình,
một gia đình người Việt gốc Hoa), nhưng sở trường chung của họ là diễn tả
rất đạt đời sống nội tâm thầm kín của nhân vật, những tình cảm, cảm giác tinh
vi, những ước mơ nhỏ bé hiền lành mà thường không bao giờ đạt được của
con người thuộc tầng lớp tiểu tư sản hay dân nghèo ở thành thị và nông thôn.
Nguyễn Tuân cũng là một cây bút truyện ngắn đặc sắc của khuynh
hướng văn học lãng mạn 1930 – 1945. Vang bóng một thời (1940) gồm 11
truyện ngắn, là tác phẩm kết tinh tài năng của Nguyễn Tuân trước Cách mạng,
được nhà phê bình Vũ Ngọc Phan nhận xét là “một văn phẩm đạt gần tới sự
toàn thiện, toàn mĩ”. Với tập truyện này, Nguyễn Tuân đã ghi đậm dấu ấn của
mình trong lòng độc giả. Đó là một Nguyễn Tuân nghệ sĩ hết lòng trân trọng,
say mê cái đẹp trong quá khứ, một Nguyễn Tuân ngông nghênh, khinh bạc



22

Phong cách viết truyện ngắn của Nam Cao hết sức độc đáo: luôn hướng tới
thế giới nội tâm con người; có biệt tài trong việc miêu tả và phân tích tâm lí;
viết về cái nhỏ nhặt hàng ngày mà đặt ra được những vấn đề có ý nghĩa xã hội
to lớn, có tầm triết lí sâu sắc và có giọng văn đặc sắc. Nam Cao cũng có đóng
góp lớn trong sự phát triển của ngôn ngữ văn xuôi nước ta, với một kho từ
vựng phong phú vừa góc cạnh vừa tinh vi và đầy sức sống.
Bên cạnh những tác giả tiêu biểu cho hai xu hướng sáng tác trên, còn
có Tô Hoài, Bùi Hiển, Kim Lâm… với thiên hướng sáng tác miêu tả phong
tục. Sức hấp dẫn chủ yếu của xu hướng truyện ngắn này chính là cái nhìn hóm
hỉnh, sắc sảo mang màu sắc dân tộc học về đời sống nông thôn với các mẩu
chân dung, các mảng sinh hoạt và quan hệ họ mạc, xóm giềng, gia đình trong
sự sống hằng ngày mang tính thuần phác, cổ xưa. Những trang viết này đã
góp phần làm cho truyện ngắn 1930 – 1945 đa dạng hơn về phong cách, bút
pháp, đề tài và màu sắc địa phương.
Trên đây là vài nét phác họa về truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930 –
1945 và một số gương mặt tiêu biểu, giúp chúng ta có thể hình dung phần nào
sự phát triển sôi động, sự đa dạng phong phú của mảng sáng tác này. Qua đó,
chúng ta cũng nhận thấy rằng các nhà văn dù theo xu hướng sáng tác nào
cũng đều gắn bó sâu nặng với đời sống, con người và đất nước. Trong những
trang văn của họ, “ấn tượng đậm nét nhất vẫn là những hình ảnh chân thực,
cảm động về quê hương đất nước Việt Nam với cảnh sắc, phong vị vô cùng
thân thiết, về những nét đẹp văn hóa trong phong tục sinh hoạt dân tộc, về số
phận và tâm hồn con người Việt Nam trong một thời kì cam go vẫn nhuần
nhụy yêu thương, dạt dào tình nghĩa, sống thầm lặng khiêm nhường mà vẫn
chan chứa lòng yêu đời và tiềm tàng một sức sống bất diệt” [33, 32]. Đó
chính là tính dân tộc thấm nhuần trong những trang truyện ngắn hiện đại.



Sau 1954, Lưu Trọng Lư về công tác ở Hà Nội (tại tiểu ban Văn nghệ
Trung ương). Từ năm 1958, ông về công tác ở Bộ Văn hóa, là Vụ phó, Quyền
Vụ trưởng Vụ Nghệ thuật, Tổng thư lý Hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam.
Trong những năm chiến tranh chống Mỹ, Lưu Trọng Lư có những
chuyến đi thực tế vào vùng tuyến lửa khu IV cũ và đường Trường Sơn. Ông
tiếp tục làm thơ, viết nhiều kịch bản sân khấu – cả kịch nói và kịch thơ. Ông
còn là tác giả của nhiều bài tùy bút, bút ký, phê bình văn học.
Lưu Trọng Lư là ủy viên Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam (khóa
II), là ủy viên Hội đồng cố vấn của Hội nhà văn và Hội nghệ sĩ sân khấu từ
năm 1983. Năm 1985, cùng với một số văn nghệ sĩ lão thành, Lưu Trọng Lư
được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng ba. Năm 1991, ông
qua đời ở Hà Nội.
Lưu Trọng Lư là một nghệ sĩ đa tài. Ông làm thơ, viết văn, soạn
kịch,… Ở lĩnh vực nào ông cũng có tác phẩm tạo được dấu ấn riêng.
Trước Cách mạng tháng Tám, Lưu Trọng Lư sáng tác chủ yếu là thơ,
tiểu thuyết và truyện ngắn. Các tác phẩm đã được xuất bản: Người sơn nhân
(truyện - 1933), Huế, một buổi chiều (truyện - 1938), Tiếng thu (thơ - 1939),
Chiếc cáng xanh (truyện - 1941), Khói lam chiều (truyện - 1941),…
Sau Cách mạng, bên cạnh thơ, văn xuôi ông còn sáng tác kịch nói, kịch
thơ và kịch bản cải lương. Các tác phẩm đã được xuất bản: Tỏa sóng đôi bờ
(thơ – 1959), Người con gái sông Gianh (thơ – 1966), Từ đất này (thơ –
1971), Mùa thu lớn (tùy bút, hồi kí – 1978), Hồng Gấm (kịch thơ – 1973),
Tuổi hai mươi (kịch thơ – 1973), Nữ diễn viên miền Nam (kịch hát cải lương),
Cây thanh trà (kịch hát cải lương), Xuân Vỹ Dạ (kịch nói), Anh Trỗi (kịch
nói), Nửa đêm sực tỉnh (hồi kí – 1959),…


25


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status