bản chất pháp lý của hợp đồng dân sự - Pdf 28

Bài tập lớn học kỳ môn luật Dân sự
LỜI MỞ ĐẦU
Hợp đồng dân sự là cơ sở quan trọng để xác định quyền, nghĩa vụ của
chủ thể tham gia vào quan hệ dân sự cụ thể đó. Việc giao kết hợp đồng dân
sự phù hợp với các quy định của pháp luật sẽ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ
dân sự giữa các bên với nhau, được pháp luật bảo vệ, tạo điều kiện thuận lợi
để các bên thực hiện hợp đồng dân sự, đồng thời hạn chế vi phạm và giúp cơ
quan, tổ chức giải quyết tranh chấp được nhanh chóng, chính xác khi có
tranh chấp xảy ra, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên liên quan.
Bài viết tập trung nghiên cứu một số vấn đề cơ bản về giao kết hợp
đồng dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam như: khái niệm, đặc điểm
của hợp đồng dân sự; Khái niệm giao kết hợp đồng dân sự và các nguyên tắc
giao kết hợp đồng dân sự trên cơ sở lý luận và quy định của pháp luật Việt
Nam.
Bài viết cũng tập trung phân tích, làm rõ các vấn đề: Đề nghị giao kết
hợp đồng dân sự; Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng dân sự; Địa điểm,
thời điểm giao kết hợp đồng dân sự và hiệu lực của hợp đồng dân sự theo
quy định của pháp luật Việt Nam cũng như so sánh với pháp luật của các
nước và quốc tế có liên quan.
Đồng thời, xác định trách nhiệm trong quá trình giao kết hợp đồng
dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam như: Trách nhiệm dân sự của
bên đề nghị giao kết hợp đồng dân sự; Trách nhiệm dân sự của bên được đề
nghị giao kết hợp đồng dân sự (bên chấp nhận đề nghị giao kết); Trách
nhiệm dân sự của các chủ thể khác trong quá trình giao kết hợp đồng dân sự
và phân tích, chỉ ra một số đặc điểm khác biệt trong giao kết hợp đồng trong
một số trường hợp đặc biệt như: Giao kết hợp đồng dân sự theo mẫu; Giao
kết hợp đồng dân sự với hình thức bằng hành vi cụ thể; Giao kết hợp đồng
Vũ Tuấn Anh MSSV 340507 Đề Số 10
1
Bài tập lớn học kỳ môn luật Dân sự
dân sự bằng phương tiện điện tử; Giao kết hợp đồng dân sự qua hoạt động

việc nào đó cũng sẽ không được thực hiện.
Điều 394 BLDS đã quy định: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận
giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân
sự”. Như vậy Hợp đồng là một loại quan hệ pháp luật dân sự hình thành
trên cơ sở sự thỏa thuận thống nhất ý trí của các bên tham gia trong quan
hệ đó nhằm thỏa mãn nhu cầu của nhau. Từ sự thỏa thuận thống nhất ý
chí các bên đã thiết lập quyền và nghĩa vụ tương ứng để đạt được mục
đích mà các bên mong muốn đạt tới. Đây cũng chính là một trong những
đặc điểm đó phân biệt với quyền và nghĩa vụ do pháp luật quy định
không phải hình thành do ý chí của các bên tham gia quan hệ. So với quy
định tại điều 394 BLDS, pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991 đã liệt kê
những quan hệ cụ thể như: mua bán, tặng cho, thuê, vay. Điều 1 pháp
lệnh hợp đồng dân sự 1991 quy định: Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận
giữa các bên về xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của
các bên trong mua bán, thuê, vay mượn, tặng cho tài sản, làm hoặc không
làm một việc, dịch vụ hoặc thỏa thuận khác mà trong đó một hoặc bên
nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tiêu dung.”
Như vậy bản chất pháp lý của hợp đồng dân sự là việc tự do, tự
nguyện cam kết thỏa thuận của các bên, mọi cam kết thỏa thuận hợp pháp
đó có hiệu lực bắt buộc với các bên. Nếu các bên không tự mình thực
hiện đúng các điều khoản về nội dung mà mình đã cam kết thỏa thuận thì
sẽ cưỡng chế thực hiện theo quy định của pháp luật.
II. Giao kết hợp đồng dân sự
Vũ Tuấn Anh MSSV 340507 Đề Số 10
3
Bài tập lớn học kỳ môn luật Dân sự
1. Nguyên tắc giao kết hợp đồng dân sự
Giao kết hợp đồng dân sự là việc các bên bày tỏ ý chí của mình theo
những nguyên tắc nhất định để qua đó xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự.
Xuất phát từ nguyên tắc cơ bản của bộ luật dân sự, quyền tự do thỏa thuận,

cho lợi ích hợp pháp của người khác ,v.v… đều bị coi là trái đạo đức xã hội.
Những hợp đồng có nội dung như vậy, theo quy định tại điều 127 Bộ Luật
Dân sự đều vô hiệu.
1.2. Nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực
và ngay thẳng
Tự nguyện là sự thể hiện thống nhất giữa ý chí và hành động của các
chủ thể khi giao kết hợp đồng. Điều này có nghĩa là ý chí được biểu lộ ra
bên ngoài bằng lời nói, cử chỉ, hành động cụ thể, là ý chí thực sự của bên
giao kết hợp đồng. Điều này có nghĩa là ý chí được biểu lộ ra bên ngoài
bằng lời nói, cử chỉ, hành động cụ thể, là ý chí thực sự của bên giao kết hợp
đồng. Tự nguyện ở đây còn biểu hiện ở chỗ các chủ thể hoàn toàn tự quyết
định tham gia hay không tham gia vào giao dịch dân sự. Họ có quyền lựa
chọn nội dung, hình thức của hợp đồng phù hợp với điều kiện hoàn cảnh, trừ
trường hợp nội dung và hình thức do pháp luật quy định bắt buộc phải tuân
theo khi giao kết hợp đồng. Mọi lý do dẫn đến biể lộ ý trí ra bên ngoài cho
người khác nhận biết không đúng với ý trí thực của họ đều coi là không
hoàn toàn tự nguyện.
Bình đẳng nghĩa là các chủ thể khi tham gia vào quan hệ hợp đồng
đều có nghĩa vụ pháp lý như nhau mà không bên nào được lấy lí do khác biệt
về giới tính, dân tộc, thành phần xã hội, hoàn cảnh kinh tế , tín ngưỡng tôn
giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp để đối xử không bình đẳng với bên kia.
Điều này rất có ý nghĩa trong giao kết hợp đồng bởi một khi giữa các bên
Vũ Tuấn Anh MSSV 340507 Đề Số 10
5
Bài tập lớn học kỳ môn luật Dân sự
tham gia giao kết hợp đồng không có sự bình đẳng ở địa vị pháp lý thì sự tự
nguyện giao kết hợp đồng cũng dễ bị vi phạm.
Thiện chí, trung thực, ngay thẳng, hợp tác là việc các bên tham gia
hợp đồng không chỉ quan tâm, chăm lo đến quyền, lợi ích hợp pháp của
mình, mà còn tôn trọng, quan tâm đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status