Bản chất pháp lý của hình thức đầu tư theo hợp đồng BCC. Phân biệt hợp đồng BCC và hợp đồng BOT - Pdf 62

1. Bản chất pháp lý của hình thức đầu tư theo hợp đồng BCC.
Hợp đồng hợp tác kinh doanh (hợp đồng BCC) là hình thức đầu tư được
quy định trong pháp luật của nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam. Khoản 16
Điều 3 Luật đầu tư năm 2005 có định nghĩa về hợp đồng BCC như sau: “Hợp
đồng hợp tác kinh doanh (sau đây gọi tắt là hợp đồng BCC) là hình thức đầu tư
được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận,
phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân”.
Bản chất pháp lý của hình thức đầu tư theo hợp đồng BCC được thể hiện
khái quát ở những mặt sau đây:
Thứ nhất về tính chất của hợp đồng. Hợp đồng hợp tác kinh doanh là
quan hệ đầu tư được thiết lập trên cơ sở hợp đồng, các nhà đầu tư chung vốn
kinh doanh nhưng không thành lập bất kỳ tổ chức kinh tế mới nào, mọi quyền
và nghĩa vụ cũng như lợi ích của các bên được thực hiện thông qua thỏa thuận
của các bên, các chủ thể tham gia quan hệ đầu tư chỉ ràng buộc với nhau bởi
hợp đồng mà không có sự ràng buộc về mặt tổ chức như ở các hình thức đầu
tư chung vốn thành lập doanh nghiệp.
Thứ hai về chủ thể của hợp đồng. Chủ thể của hợp đồng hợp tác kinh
doanh là các nhà đầu tư được quy định tại khoản 4 Điều 3 của Luật Đầu tư
2005 bao gồm cả nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài. Số lượng
chủ thể trong từng hợp đồng cũng không giới hạn, chủ thể của hợp đồng có
thể bao gồm hai hoặc nhiều nhà đầu tư cùng có quan hệ hợp tác kinh doanh
với nhau (song phương hoặc đa phương), tùy thuộc vào từng quy mô của dự
án cũng như nhu cầu, khả năng và mong muốn của các nhà đầu tư.
Mặc dù có sự thống nhất pháp luật về đầu tư nhằm đảm bảo môi trường
đầu tư bình đẳng, không phân biệt đối xử song pháp luật hiện hành vẫn tồn tại
1
một số quy định riêng áp dụng cho hoạt động đầu tư kinh doanh vốn Nhà nước
do đặc thù của các hoạt động này.
Thứ ba về nội dung quan hệ đầu tư. Nội dung quan hệ đầu tư theo hợp
đồng BCC là những thỏa thuận thể hiện tính “hợp tác kinh doanh”, bao gồm
các thỏa thuận bỏ vốn để cùng kinh doanh, cùng chịu rủi ro, cùng phân chia

viễn thông, in ấn, phát hành báo chí với sự tham gia góp vốn của nhà đầu tư
nước ngoài. Kể từ khi được ghi nhận trong pháp luật Việt Nam, hình thức đầu
tư này đã góp phần hiện đại hóa và phát triển ngành dầu khí, ngành bưu chính
viễn thông của nước ta.
3
2. Phân biệt hợp đồng BCC và hợp đồng BOT
Hợp đồng hợp tác kinh doanh
(BCC)
Hợp đồng xây dựng – kinh
doanh - chuyển giao (BOT)
Khái niệm
Hình thức đầu tư được ký giữa
các nhà đầu tư nhằm hợp tác
kinh doanh phân chia lợi
nhuận, phân chia sản phẩm mà
không thành lập pháp nhân
(theo quy định tại khoản 16
Điều 3 Luật đầu tư năm 2005).
Hợp đồng được ký giữa Cơ
quan nhà nước có thẩm
quyền và Nhà đầu tư để xây
dựng, kinh doanh công trình
kết cấu hạ tầng trong một
thời hạn nhất định; hết thời
hạn, nhà đầu tư chuyển giao
không bồi hoàn công trình đó
cho Nhà nước Việt Nam.
(theo quy định tại khoản 1
Điều 2 Nghị định 108/2009/
NĐ-CP).

của các chủ
thể
Tìm kiếm lợi nhuận và các
mục đích kinh tế, tài chính
khác khi các bên hợp tác kinh
doanh.
Thu được lợi nhuận và các
quyền lợi ưu đãi khác, có
những đặc thù do có sự tham
gia của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền, kêu gọi đầu tư
vào các lĩnh vực trọng điểm,
nhà đầu tư góp phần san sẻ
gánh nặng tài chính cho Nhà
nước khi tiến hành đầu tư xây
dựng các công trình kết cấu
hạ tầng
5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status