Bản chất pháp lý của hình thức đầu tư theo hợp đồng BCC - Pdf 27

Hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) được quy định lần đầu tiên tại Luật đầu tư
nước ngoài năm 1987. Từ đó đến nay, loại hình đầu tư này đã góp phần vào sự phát
triển của nhiều lĩnh vực trong xã hội. Đồng thời, pháp luật về đầu tư cũng đang ngày
càng hoàn thiện quy định về loại hình đầu tư này.
I, Bản chất pháp lý của hình thức đầu tư theo hợp đồng BCC
1, Khái niệm hợp đồng BCC
Khoản 16 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2005 (LĐT 2005) quy định: “Hợp đồng hợp
tác kinh doanh (sau đây gọi tắt là hợp đồng BCC) là hình thức đầu tư được ký giữa các
nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà
không thành lập pháp nhân”.
Đây là hình thức đầu tư được quy định trong pháp luật của nhiều quốc gia. Mục
đích của hợp đồng BCC là tạo nên sự hợp tác giữa các nhà đầu tư trong kinh doanh,
các bên cùng nhau thực hiện hoạt động góp vốn, quản lý kinh doanh, chịu rủi ro,
hưởng lợi nhuận. Tuy nhiên, không thành lập pháp nhân mới, mà cơ sở hợp tác chỉ là
hợp đồng. Chính vì vậy, trong toàn bộ quá trình thực hiện hợp đồng này, các bên vẫn
giữ nguyên tư các pháp lý của mình, nhân danh chính bản thân mình để thực hiện
quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng.
Chính những đặc điểm trên đã làm cho hình thức hợp tác theo hợp đồng BCC
có tính linh hoạt cao hơn so với những hình thức đầu tư vào tổ chức kinh tế, đầu tư
thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp, chi nhánh doanh nghiệp… Do các
bên không bị ràng buộc với nhau về tổ chức bằng một pháp nhân chung.
2, Bản chất pháp lý của hình thức đầu tư theo hợp đồng BCC
Chúng ta có thể thấy rõ bản chất pháp lý của hình thức đầu tư này thông qua
việc phân tích tính chất, chủ thể và nội dung quan hệ đầu tư.
2.1, Tính chất
Hợp đồng BCC lần đầu tiên được quy định tại Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam năm 1987. Tuy nhiên, pháp luật lúc đó quy định chỉ có hai bên chủ thể, bao gồm
1
một bên nước ngoài và một bên Việt Nam được ký kết và thực hiện hợp đồng này.
Quy định của pháp luật về hợp đồng BCC tiếp tục được hoàn thiện tại Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Từ năm 1996, hình

thể trở thành chủ thể của hình thức đầu tư này.
Về điều kiện chủ thể của hợp đồng BCC, pháp luật Việt Nam quy định như sau:
- Cá nhân (có đăng ký kinh doanh hoặc chưa có đăng ký kinh doanh) có thể trở
thành chủ thể của các quan hệ đầu tư do LĐT điều chỉnh;
- Nhà đầu tư nước ngoài: mọi dự án đầu tư đều thuộc diện phải làm thủ tục đăng
ký đầu tư hoặc thẩm tra cấp giấy chứng nhận đầu tư và giấy chứng nhận đầu tư đồng
thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh;
- Nhà đầu tư trong nước: Những dự án đầu tư (kể cả hợp doanh) có quy mô nhỏ
dưới 15 tỷ đồng và không thuộc danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện thì không
thuộc diện phải làm thủ tục đăng ký đầu tư.
Những dự án thuộc diện phải làm thủ tục đầu tư, yêu cầu về hồ sơ và các nội
dung cần thẩm tra trong quy định hiện hành không đặt ra vấn đề điều kiện về đăng ký
kinh doanh của chủ thể.
Như vậy, chủ thể của hợp đồng BCC không nhất thiết phải là tổ chức, cá nhân
kinh doanh
1
.
2.3, Nội dung quan hệ đầu tư
Nội dung quan hệ đầu tư theo hợp đồng BCC bao gồm những thỏa thuận thể
hiện tính “hợp tác kinh doanh”, bao gồm các thỏa thuận bỏ vốn để cùng tham gia hoạt
động kinh doanh, phân chia lợi nhuận và chia sẻ rủi ro. Có thể nói đây chính là điểm
đặc thù của hợp đồng BCC so với các hợp đồng khác trong thương mại (ở các hợp
1
TS. Nguyễn Thị Dung, Một số nội dung mới trong pháp luật Việt Nam về hợp đồng hợp tác kinh doanh, Tạp chí
luật học số 11/2008
3
đồng khác, thời điểm chuyển giao rủi ro được các bên thỏa thuận hoặc pháp luật quy
định là cơ sở xác định rõ lợi nhuận hay rủi ro thuộc về một trong các bên của hợp
đồng).
Từ những phân tích nêu trên, có thể rút ra một số ưu điểm của hình thức đầu tư

UBND cấp tỉnh…)
Lĩnh vực
đầu tư
Tất cả các lĩnh vực mà pháp luật
không cấm
Thường được thực hiện trong một
số lĩnh vực như: xây dựng, vận
4
hành công trình kết cấu hạ tầng mới
hoặc cải tạo, mở rộng, hiện đại hóa,
vận hành, quản lý các công trình
giao thông, kinh doanh điện, cấp
thoát nước…
Mục đích Thu lợi nhuận, các mục đích kinh
tế, tài chính khác
Thu lợi nhuân và các quyền lợi ưu
đãi khác (do đặc thù sự tham gia
của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền)
Phương án
kinh doanh
và chấm dứt
hợp đồng
Các bên tự thỏa thuận phương án
kinh doanh. Pháp luật tôn trọng
các thỏa thuận của nhà đầu tư.
Hợp đồng chấm dứt khi hết hạn
hợp đồng. Các bên không phải
chuyển giao gì cho nhau.
Nhà đầu tư chỉ có quyền kinh

thực hiện
hợp đồng
Thành lập ban điều phối để quản
lý, không có bộ máy tổ chức,
quản lý doanh nghiệp chung. Các
bên độc lập với nhau về tư cách
pháp nhân. Cùng quản lý, chia sẻ
rủi ro và lợi nhuận dựa trên tỷ lệ
góp vốn hoặc thỏa thuận của các
bên.
Thành lập doanh nghiệp BOT
(doanh nghiệp dự án) để tổ chức,
quản lý doanh nghiệp, có tư cách
pháp nhân, nhân danh chính mình
để thực hiện các hoạt động kinh
doanh.Nhà đầu tư sẽ thu lợi nhuận
trong quá trình kinh doanh, sau đó
chuyển giao không bồi hoàn công
trình cho nhà nước.
5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status