nghiên cứu - trao đổi
30 Tạp chí luật học số 3/2004 ThS. Nguyễn Phơng Lan *
1.Khỏi nim chung v nuụi con nuụi
Nuụi con nuụi cú th c hiu theo hai
gúc : L s kin phỏp lớ hoc l quan h
phỏp lut. Bi vit ny cp vic nuụi con
nuụi di gúc l s kin phỏp lớ theo quy
nh ca phỏp lut Vit Nam.
Vi ý ngha l s kin phỏp lớ, vic nuụi
con nuụi bao gm cỏc s kin sau:
- S th hin ý chớ ca ngi nhn nuụi
con nuụi. Ngi nhn nuụi con nuụi phi th
hin ý chớ ca mỡnh v vic mong mun nhn
nuụi a tr v thit lp quan h cha m v con
vi a tr ú. í chớ, mong mun ú ca
ngi nhn nuụi phi c th hin qua n
xin nhn nuụi con nuụi;
- S th hin ý chớ ca cha m hoc
ngi giỏm h ca tr em c cho lm con
nuụi. í chớ ca nhng ngi ny trong vic
cho tr em lm con nuụi phi minh bch, v
xut phỏt t s t nguyn tht s ca bn
thõn h m khụng cú bt c s tỏc ng,
nuụi (hay t chi vic ng kớ nuụi con nuụi).
Vic nuụi con nuụi c cụng nhn ti c
quan nh nc cú thm quyn lm phỏt sinh
hiu lc phỏp lớ ca vic nuụi con nuụi.
Nh vy, vic nuụi con nuụi l tp hp cỏc
s kin phỏp lớ. Nu thiu i mt trong cỏc s
kin cu thnh tp hp ú thỡ khụng lm phỏt
sinh quan h phỏp lut cha m v con gia
ngi nhn nuụi v a tr c nhn nuụi.
Do ú, di gúc l s kin phỏp lớ, vic
* Ging viờn chớnh Khoa lut dõn s
Trng i hc lut H Ni nghiªn cøu - trao ®æi
T¹p chÝ luËt häc sè 3/2004 31
nuôi con nuôi là cấu thành sự kiện - sự kiện
pháp lí phức hợp.
(1)
2. Bản chất pháp lí của việc nuôi con nuôi
Theo lí luận chung, sự kiện pháp lí phức
hợp có thể có tính chất giản đơn, ràng buộc
hoặc hỗn hợp.
(2)
Vậy sự kiện nuôi con nuôi có
tính chất như thế nào? Để thấy được tính chất
của sự kiện pháp lí này cần xem xét các sự
kiện cấu thành của nó, bao gồm sự thể hiện ý
được nhận làm con nuôi thì mới được coi là
hợp pháp. Nếu việc nhận nuôi con nuôi xuất
phát từ những động cơ, mục đích trái pháp
luật, trái đạo đức sẽ không có giá trị pháp lí.
Trong trường hợp cả hai vợ chồng cùng
nhận nuôi con nuôi thì bản chất của vấn đề vẫn
không thay đổi, có khác chỉ là ở chỗ sự thể
hiện ý chí mong muốn nhận nuôi con nuôi
phải là ý chí chung của cả hai vợ chồng. Hai
vợ chồng phải thoả thuận và thống nhất được
về việc nhận nuôi con nuôi. Trong đơn xin
nhận nuôi con nuôi phải đứng tên cả hai vợ
chồng với tư cách là cha nuôi và mẹ nuôi.
Tuy nhiên, vấn đề sẽ phức tạp hơn khi
người nhận nuôi con nuôi đã có vợ (chồng),
nhưng vợ (hoặc chồng) của họ không muốn
nhận nuôi con nuôi. Trong trường hợp này,
đơn xin nhận nuôi con nuôi phải có chữ kí
của cả vợ và chồng.
(3)
Quy định này có phần
chưa được rõ ràng nên có thể dẫn tới nhiều
cách hiểu khác nhau. Chúng tôi sẽ trở lại vấn
đề này ở bài viết khác.
Trong đơn xin nhận con nuôi, người nhận
nuôi con nuôi có thể trình bày nguyện vọng
của mình xin đích danh một trẻ em nào đó từ
cơ sở nuôi dưỡng hoặc từ gia đình.
(4)
Nếu chưa
thể hiện ý chí của mình một cách chủ động,
khách quan thông qua đơn xin nhận nuôi con
nuôi. Họ cũng có thể đưa đơn bất cứ vào lúc
nào mà họ muốn. Hành vi đó của người nhận
nuôi con nuôi chỉ phát sinh hậu quả pháp lí khi
có người được nhận nuôi phù hợp, được cha
mẹ đẻ hoặc người giám hộ đồng ý và được cơ
quan nhà nước có thẩm quyền công nhận. Như
vậy có thể nói sự thể hiện ý chí của người
nhận nuôi con nuôi là hành vi pháp lí đơn
phương, nó chỉ có hiệu lực khi được các chủ
thể có liên quan tiếp nhận.
2.2. Sự thể hiện ý chí của cha mẹ đẻ
hoặc người giám hộ của người được cho làm
con nuôi
+ Sự thể hiện ý chí của cha mẹ đẻ
Khoản 1 Điều 71 Luật HN&GĐ quy định:
“Việc nhận người chưa thành niên, người đã
thành niên mất năng lực hành vi dân sự làm
con nuôi phải được sự đồng ý bằng văn bản
của cha mẹ đẻ của người đó…”.
Việc cho con mình làm con nuôi người
khác thường là việc làm bất đắc dĩ trong
những điều kiện, hoàn cảnh nhất định. Do đó,
cha mẹ đẻ luôn cân nhắc, suy nghĩ kĩ trước khi
quyết định cho con mình làm con nuôi với
mong muốn đứa trẻ sẽ có môi trường, điều
kiện sống tốt hơn, khi bản thân họ không thể
có điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc cho trẻ.
Việc cho con làm con nuôi phải xuất phát từ
nghiªn cøu - trao ®æi
T¹p chÝ luËt häc sè 3/2004 33
trẻ em đó;
- Khi một người, cha đẻ hoặc mẹ đẻ đã
chết hoặc bị tuyên bố là đã chết hoặc mất năng
lực hành vi dân sự thì chỉ cần sự đồng ý của
người kia
(6)
;
- Khi không xác định được cha đẻ của đứa
trẻ thì chỉ cần sự đồng ý của người mẹ; khi
không xác định được mẹ đẻ của đứa trẻ thì chỉ
cần sự đồng ý của người cha đẻ;
- Sự đồng ý của cha mẹ đẻ là điều kiện bắt
buộc trong trường hợp người được nhận làm
con nuôi dưới 18 tuổi hoặc người đã thành
niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự. Tuy
nhiên, trong trường hợp con đã thành niên, có
đầy đủ năng lực hành vi dân sự tự nguyện
đồng ý làm con nuôi người khác thì không cần
có sự đồng ý của cha mẹ đẻ.
+ Sự đồng ý của người giám hộ
Khoản 1 Điều 71 Luật HN&GĐ quy
định: “… nếu cha mẹ đẻ đã chết, mất năng
lực hành vi dân sự hoặc không xác định được
cha mẹ thì phải được sự đồng ý bằng văn bản
của người giám hộ”. Người giám hộ chỉ có
hiện ý chí của người cho con nuôi là hành vi
pháp lí đơn phương, thể hiện ý chí độc lập của
một bên chủ thể (bên cho con nuôi). Hành vi
pháp lí đơn phương đó có thể do một chủ thể
thực hiện (cha đẻ hoặc mẹ đẻ của đứa trẻ khi
một bên chết trước hoặc mất năng lực hành vi
dân sự…) nhưng cũng có thể do hai chủ thể
thực hiện (cha mẹ đẻ cùng thoả thuận cho con
làm con nuôi, ông bà với tư cách là người
giám hộ cho cháu chưa thành niên…). Hành vi
pháp lí đơn phương này chỉ phát sinh hậu quả
pháp lí khi có sự tiếp nhận của chủ thể phía
bên kia là người nhận nuôi con nuôi và được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận.
2.3. Sự thể hiện ý chí của người được
nhận làm con nuôi
Một quyền cơ bản của trẻ em là quyền
được tự do bày tỏ quan điểm của mình về
“những vấn đề có tác động đến trẻ em, những
quan điểm của trẻ em được coi trọng một cách
thích ứng với tuổi và độ trưởng thành của trẻ
em”.
(8)
Pháp luật quy định sự bày tỏ ý chí đồng
ý làm con nuôi của trẻ em từ đủ 9 tuổi trở lên nghiªn cøu - trao ®æi
34 T¹p chÝ luËt häc sè 3/2004
cha mẹ và con giữa người nhận nuôi và đứa
trẻ được nhận nuôi.
Tóm lại, việc nuôi con nuôi với ý nghĩa là
sự kiện pháp lí phức hợp bao gồm nhiều sự
kiện cấu thành. Vậy giữa các sự kiện cấu thành
đó có mối liên hệ với nhau như thế nào? Từ sự
phân tích trên có thể thấy rõ: Giữa các sự kiện
cấu thành trên có mối liên hệ linh hoạt, không
ràng buộc, không chi phối, không phụ thuộc
lẫn nhau. Các sự kiện cấu thành đó có thể phát
sinh ở những thời điểm khác nhau một cách tự
do, độc lập. Chúng sẽ được liên kết lại tại thời
điểm cuối cùng với sự phán quyết của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền.
Như vậy, cơ quan nhà nước có thẩm quyền
chỉ có thể công nhận việc nuôi con nuôi khi
các bên đương sự thể hiện rõ ràng ý chí của
mình đồng thời đáp ứng đầy đủ các điều kiện
cần thiết của việc nuôi con nuôi. Nói cách
khác, cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ có
thể công nhận việc nuôi con nuôi khi các sự
kiện cấu thành đã hội tụ đầy đủ và được liên
kết lại với nhau tại thời điểm phát sinh quan hệ
pháp luật về nuôi con nuôi. Vì vậy có thể nói
dưới góc độ là sự kiện pháp lí, việc nuôi con
nuôi có bản chất là cấu thành sự kiện hay là sự
kiện pháp lí phức hợp giản đơn (còn gọi là
phức hợp tự do).
Xác định rõ bản chất pháp lí của việc nuôi
con nuôi với tư cách là sự kiện pháp lí làm