Khai thác văn hóa ẩm thực phục vụ phát triển du lịch tại Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội Luận văn ThS. Du lịch - Pdf 28



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


LÊ NGỌC QUỲNH MAI
KHAI THÁC VĂN HÓA ẨM THỰC PHỤC VỤ PHÁT
TRIỂN DU LỊCH TẠI QUẬN HOÀN KIẾM, HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH

Hà Nội – 2015



1
MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG SỬ DỤNG 3
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 3
CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VIỆC KHAI THÁC VĂN HÓA
ẨM THỰC TRONG DU LỊCH 10
1.1. Văn hóa và văn hóa ẩm thực 10
1.1.1.Khái niệm về văn hóa 10
1.1.2. Du lịch văn hóa 11
1.2. Dịch vụ du lịch và dịch vụ ăn uống trong du lịch 12
1.2.1. Dịch vụ du lịch 12
1.2.2. Dịch vụ ăn uống trong du lịch 13
1.3. Văn hóa ẩm thực và văn hóa ẩm thực trong du lịch 15
1.3.1. Những quan niệm về văn hóa ẩm thực. 16
1.3.2. Văn hóa ẩm thực của ngƣời Việt Nam 17
1.3.3. Văn hóa ẩm thực Hà Nội 19
1.3.4. Vai trò của Văn hóa ẩm thực trong du lịch. 21
1.3.5. Ý nghĩa của văn hóa ẩm thực trong hoạt động du lịch 23
1.4. Những yếu tố ảnh hƣởng đến văn hóa ẩm thực trong du lịch 24
1.4.1. Điều kiện về cầu du lịch văn hóa ẩm thực 24
1.4.2. Điều kiện về tài nguyên du lịch 25
1.5. Những nguyên tắc khai thác văn hóa ẩm thực trong du lịch 26
1.6. Những bài học kinh nghiệm về khai thác văn hóa ẩm thực trong du lịch 27
1.6.1. Kinh nghiệm quốc tế 27
1.6.2. Kinh nghiệm trong nƣớc 30
1.7. Những nhiệm vụ đặt ra trong việc nghiên cứu ẩm thực du lịch ở quận Hoàn
Kiếm 32
1.8. Điều kiện phát triển du lịch ẩm thực ở quận Hoàn Kiếm 34

Kiếm, Hà Nội 88
3.2.5. Giải pháp về xúc tiến quảng bá văn hóa ẩm thực du lịch ở quận Hoàn
Kiếm, Hà Nội 89
3.2.6. Giải pháp quản lý chất lƣợng, an toàn thực phẩm trong khai thác ẩm thực
du lịch ở quận Hoàn Kiếm, Hà Nội 91
3.3. Một số kiến nghị 94
3.3.1. Đối với các cơ quan quản lý nhà nƣớc 94
3.3.2. Đối với các doanh nghiệp du lịch 97
3.3.3. Đối với chính quyền địa phƣơng và cƣ dân địa phƣơng 97
KẾT LUẬN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103 3
DANH MỤC CÁC BẢNG SỬ DỤNG

Bảng
Tên bảng
Số
trang
1.1
So sánh hoạt động ăn uống công cộng và hoạt động kinh
doanh ăn uống trong du lịch
15
2.1
Nhu cầu của khách quốc tế và nội địa về văn hóa ẩm thực
Hoàn Kiếm
46

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

tới còn là một sở thích, một nhu cầu không thể bỏ qua. Bởi lẽ ở Hà Nội, ẩm thực
chính là sự kết tinh văn hóa cả ngàn năm lịch sử nên khách du lịch nƣớc ngoài
không những muốn thƣởng thức mà còn muốn học, muốn nghiên cứu, tìm hiểu.
muốn đem nghệ thuật ẩm thực Hà Nội về với nƣớc họ. Hoàn Kiếm là quận trung
tâm, là trái tim của thủ đô và cũng là nơi tập trung những nét văn hóa ẩm thực đặc
sắc nhất của ngƣời Hà Nội, chính là nơi thu hút du khách bậc nhất khi muốn
thƣởng thức ẩm thực thủ đô.
Văn hóa ẩm thực Hà Nội nói chung, của quận Hoàn Kiếm nói riêng, có vai
trò hết sức quan trong trong việc thu hút khách du lịch. Nghiên cứu, tìm hiểu, giới
thiệu về ẩm thực Hà Nội từ lâu đã đƣợc nhiều nhà nghiên cứu văn hóa quan tâm. 5
Tuy nhiên, việc tìm hiểu, giới thiệu, nghiên cứu văn hóa ẩm thực phục vụ du lịch
ở quận Hoàn Kiếm nói riêng, Hà Nội nói chung tới nay vẫn chƣa đƣợc quan tâm
đầy đủ, chính vì vậy, tác giả đã lựa chọn nghiên cứu vấn đề “Khai thác văn hóa
ẩm thực phục vụ phát triển du lịch tại quận Hoàn Kiếm, Hà Nội” làm đề tài
luận văn của mình.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Văn hoá ẩm thực của Việt Nam, đặc biệt là ở Hà Nội quả thực là độc đáo
vì nó thể hiện cả một triết lý sống qua mấy nghìn năm lịch sử.
Giống nhƣ mọi thủ đô, Hà Nội là nơi hội tụ tất cả những gì tiêu biểu của
mọi vùng đất nƣớc. Chỉ tính từ thời kỳ văn hoá Thăng Long (1010) đến nay cũng
đã gần nghìn năm tuổi, cả nghìn năm thu hút nhân tài bách nghệ bốn phƣơng, đất
nƣớc và giao lƣu quốc tế, càng về sau càng thƣờng xuyên hơn, đa dạng hơn trƣớc.
Vị trí và cơ hội này đã tạo cho Thăng Long - Hà Nội một bản sắc riêng, một lối
sống riêng và cách hƣởng thụ cuộc sống cũng rất riêng: tinh tế và độc đáo mà văn
hoá ẩm thực Hà Nội là một ví dụ.
Ẩm thực Việt Nam, nhất là ẩm thực Hà Nội, đã đƣợc nhiều nhà văn lớp
trƣớc: Thạch Lam, Vũ Bằng, Nguyễn Tuân… và lớp kế tiếp: Băng Sơn, Nguyễn

hoá Hạ Long; nâng cao phong cách phục vụ của ngƣời làm du lịch và chất lƣợng
kinh doanh ăn uống; nâng cao chất lƣợng những món ăn mang đậm bản sắc văn
hóa truyền thống nhằm hƣớng tới khách du lịch, đa dạng các hình thức phục vụ
ăn uống, bổ sung và cập nhật các món ăn từ đặc sản biển trong các thực đơn tại
các nhà hàng khách sạn với mong muốn giúp cho văn hóa ẩm thực Quảng Ninh
có thể đƣợc khai thác trong du lịch hiệu quả.
Các luận văn kể trên đã đánh giá vai trò của văn hóa ẩm thực, nghệ thuật
ẩm thực nói chung và đƣa ra các giải pháp phát triển cho từng địa bàn cụ thể.
Đề tài “Khảo sát văn hóa ẩm thực của Hà Nội phục vụ khách du lịch” của
tác giả Vũ Đình Chinh, sinh viên K52 khoa Du lịch học, trƣờng Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn. 7
Đề tài “Khảo sát văn hóa ẩm thực phục vụ du lịch trong nội thành Hà
Nội” của tác giả Ngọc Anh, sinh viên K53 khoa Du lịch học, trƣờng Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn.
Các đề tài ở cấp độ sinh viên đã tìm hiểu ẩm thực trên địa bàn Hà Nội, tuy
nhiên mới chỉ dừng lại ở mức độ khảo sát, chứ chƣa đánh giá cụ thể cũng nhƣ đề
ra các giải pháp phát triển cho du lịch Hà Nội.
Tính cho đến nay chƣa có đề tài nào nghiên cứu cụ thể về văn hóa ẩm thực
của quận Hoàn Kiếm cũng nhƣ việc khai thác giá trị văn hóa ấy cho việc phục vụ
phát triển du lịch.
Đề tài “Khai thác văn hóa ẩm thực phục vụ phát triển du lịch tại quận
Hoàn Kiếm, Hà Nội” tiếp cận ẩm thực quận Hoàn Kiếm nhƣ là một sản phẩm
độc đáo phục vụ cho ngành du lịch, là một trong các lý do thu hút du khách trong
và ngoài nƣớc đến với Thủ đô.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích
Thông qua nghiên cứu thực trạng khai thác ẩm thực du lịch tại quận Hoàn

nghiên cứu thực địa, tác giả nắm đƣợc sơ bộ tình hình cụ thể thực trạng khai thác
văn hóa ẩm thực để có cơ sở đƣa ra các giải pháp nhằm phát huy các giá trị văn
hóa ẩm thực nhằm phát triển du lịch.
- Phương pháp điều tra xã hội học:
Sử dụng bảng hỏi để điều tra xã hội học, điều này có ý nghĩa quan trọng
trong việc nắm bắt nhu cầu của khách du lịch, khả năng phục vụ các sản phẩm ăn
của của các đơn vị kinh doanh những sản phẩm ăn uống cũng nhƣ sự đánh giá
của du khách về các món ăn tiêu biểu của Hà Nội. 9
Với đề tài, tác giả đã sử dụng bảng hỏi đối với khách du lịch trong và
ngoài nƣớc.
6. Đóng góp mới của luận văn
- Đóng góp về lí luận:
+ Đề tài đã hệ thống hóa các vấn đề ẩm thực, văn hóa ẩm thực, khai thác
văn hóa ẩm thực trong du lịch.
+ Rút ra bài học kinh nghiệm về khai thác văn hóa ẩm thực trong phát
triển du lịch từ các điểm đến du lịch trong và ngoài nƣớc.
- Đóng góp về thực tiễn: Đề tài đã đƣa ra đƣợc một số giải pháp cụ thể
nhằm ứng dụng trong phát triển hoạt động du lịch ẩm thực quận Hoàn Kiếm nói
riêng, Hà Nội nói chung.
7. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo luận văn đƣợc
kết cấu thành 3 chƣơng
Chƣơng 1: Một số vấn đề lí luận về việc khai thác văn hóa ẩm thực trong du lịch
Chƣơng 2: Thực trạng khai thác văn hóa ẩm thực trong kinh doanh du lịch ở quận
Hoàn Kiếm, Hà Nội
Chƣơng 3: Một số giải pháp khai thác văn hóa ẩm thực trong kinh doanh du lịch
ở quận Hoàn Kiếm, Hà Nội

Burnett Tylor (1832 - 1917) - một trong những Ông tổ của ngành nhân học hiện
đại đƣa ra nhƣ sau: “Văn hóa hay văn minh, dưới góc độ nhân học, được xem là 11
tổng thể phức tạp bao gồm kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, các quy tắc đạo
đức, luật lệ, phong tục và bất cứ kĩ năng hay thói quen do con người, với tư cách
là thành viên xã hội, tạo ra và lĩnh hội thông qua quá trình học”.
PGS.Viện sĩ Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ
các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình
hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên
và xã hội” [39; 20]
Các nhà nhân học kế tiếp Tylor kế thừa và phát triển thêm nhiều định
nghĩa theo các cách tiếp cận khác nhau. Tính đến nay có khoảng 200 định nghĩa
về văn hóa đƣợc giới thiệu.
Theo quan niệm của UNESCO (2002): “Văn hóa nên được đề cập đến như
là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của
một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và
nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống
và đức tin”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đƣa ra định nghĩa về văn hóa, nhƣ sau: “Vì lẽ sinh
tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra
ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật,
những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử
dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [7; 431]
Mặc dù có cách tiếp cận khác nhau, nhƣng các định nghĩa này có điểm
chung là cùng chỉ rõ rằng văn hóa là tất cả những giá trị vật thể do con ngƣời
sáng tạo trên nền của thế giới tự nhiên mang lại tính vật chất thuần túy và đƣợc
phát triển trong quan hệ qua lại giữa con ngƣời và xã hội.
1.1.2. Du lịch văn hóa

Từ khái niệm đƣợc quy định trong luật có thể thấy dịch vụ du lịch bao
gồm nhiều nhóm dịch vụ nhỏ và đều hƣớng tới một mục đích là đáp ứng nhu cầu 13
của khách du lịch. Dịch vụ ăn uống cũng thuộc dịch vụ du lịch và mang các đặc
điểm chung của dịch vụ du lịch.
Đặc điểm chung của các dịch vụ du lịch bao gồm:
- Không có giá trị xác định. Ví dụ: Với một sản phẩm hữu hình có thể quy
định rõ về chất lƣợng phải nhƣ thế nào nhƣng ngành dịch vụ phải dựa vào đòi hỏi
của từng đối tƣợng khách hàng.
- Trao đổi giao dịch dựa rất nhiều vào nhu cầu của khách
- Không có vật liệu tồn kho (đa số)
- Đa số có tính cách trao đổi cá nhân
- Tiếp xúc trực tiếp với khách hàng chiếm tỉ lệ rất cao và tỉ lệ nhận những
đánh giá trực tiếp từ khách hàng cũng rất cao.
- Không thể theo một cơ chế nhất định mà phải biết ứng biến tùy hoàn cảnh
- Đòi hỏi kiến thức của nhân viên cao hơn những ngành sản xuất.
- Thƣờng là những cơ sở nhỏ để phục vụ đến tận nơi cho khách hàng và thị
trƣờng đƣợc rộng hơn.
1.2.2. Dịch vụ ăn uống trong du lịch
Nội dung của kinh doanh ăn uống du lịch gồm 3 nhóm hoạt động:
Một là, hoạt động sản xuất vật chất: Các sản phẩm của ngành công nghiệp
thực phẩm và nông nghiệp đƣợc chế biến thành các món ăn cho khách. Nhƣ vậy
là kinh doanh ăn uống trong du lịch đã tạo ra giái trị sử dụng mới và cả giá trị
mới sau quá trình sản xuất của mình.
Hai là, hoạt động lƣu thông: Kinh doanh ăn uống trong du lịch có nhiệm
vụ trao đổi và bán sản phẩm chế biến của mình là các món ăn đồ uống đã đƣợc
chế biến sẵn, vận chuyển những hàng hóa này từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ.

15
Tuy nhiên chúng có nhiều điểm khác nhau, có thể khái quát qua bảng sau:
Bảng 1.1 So sánh hoạt động ăn uống công cộng và hoạt động kinh
doanh ăn uống trong du lịch
Hoạt động ăn uống công cộng
Hoạt động kinh doanh ăn uống trong du lịch
Có sự tham gia của quỹ tiêu dùng
trong việc tổ chức và duy trì hoạt
động của các cơ sở ăn uống.
Không đƣợc trợ cấp bởi các quỹ tiêu dùng

Thị trƣờng khách là những công
nhân, nhân viên ở tại các nhà máy,
công sở, học sinh sinh viên ở
trƣờng học, các nhân viên của các
tổ chức xã hội.
Thị trƣờng khách là những khách du lịch.

Phục vụ ăn uống cho khách.
Ngoài phục vụ ăn uống thì còn phục vụ các dịch
vụ giải trí nhƣ nghe nhạc, hát Karaoke
Mục đích chủ yếu là phục vụ.
Lấy kinh doanh làm mục đích chính.
1.3. Văn hóa ẩm thực và văn hóa ẩm thực trong du lịch
Để duy trì sự sống của mình, ăn là hành vi tất yếu của loài ngƣời. Nhƣng
khác với động vật, ăn không chỉ thỏa mãn nhu cầu đó mà còn là một hành vi văn
hóa. Đồ ăn thức uống của mỗi dân tộc thực sự là một sáng tạo văn hóa của mỗi
vùng miền. Ăn uống phản ánh trình độ văn hóa, văn minh của dân tộc, trình độ

để thành văn hóa ẩm thực”. Con ngƣời sống trong quan hệ chặt chẽ với thiên
nhiên do cách thức ứng xử môi trƣờng tự nhiên để duy trì sự sống, sự tồn tại
thông qua việc tìm cái ăn, cái uống, từ cách săn bắn, hái lƣợm trong đó có tự
nhiên. Vì thế “ăn uống là văn hóa, chính xác hơn là văn hóa tận dụng môi trƣờng
tự nhiên”. Và khi việc ăn uống đƣợc nâng tầm, không chỉ đơn thuần giúp con
ngƣời tồn tại, mà còn thƣởng thức, đó là thƣởng thức văn hóa ẩm thực. 17
“Ẩm thực” vốn là từ gốc Hán Việt. “Ẩm” có nghĩa là uống, “thực” có
nghĩa là ăn, ẩm thực nói tóm lại là hoạt động ăn uống.
Văn hóa ẩm thực có thể đƣợc hiểu là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất
và tinh thần do con ngƣời sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn,
trong sự tƣơng tác giữa con ngƣời với môi trƣờng tự nhiên và xã hội. Văn hóa ẩm
thực là nội dung nói đến lĩnh vực chế biến, cách thƣởng thức các thức ăn, đồ
uống… Đó chính là nét văn hóa hình thành trong cuộc sống. Văn hóa ẩm thực có
3 nội dung:
- Cách thức chế biến đồ ăn, thức uống
- Các nguyên liệu ẩm thực có giá trị tôn nhau
- Cách thức thƣởng thức mà nâng cao lên thành “đạo”
Nhƣ vậy, văn hóa ẩm thực không chỉ là nét văn hóa về vật chất mà còn là
văn hóa về tinh thần. Nét văn hóa về vật chất thể hiện trong cách trang trí món ăn
sao cho đẹp mắt, món ăn dậy mùi thơm… kích thích vị giác của thực khách. Nét
văn hóa về tinh thần thể hiện ở cách giao tiếp, ứng xử giữa con ngƣời trong bữa
cơm, những nguyên tắc, chuẩn mực, phong tục ăn uống…
1.3.2. Văn hóa ẩm thực của người Việt Nam
Văn hóa ẩm thực ngƣời Việt đƣợc biết đến với những nét đặc trƣng nhƣ:
tính hòa đồng, đa dạng, ít mỡ; đậm đà hƣơng vị với sự kết hợp nhiều loại gia
giảm để tăng mùi vị, sức hấp dẫn trong các món ăn. Nhà nghiên cứu Bùi Quốc
Châu trong cuốn “ẩm thực dƣỡng sinh” cho rằng ngƣời Việt Nam biết tạo những

dân tộc Tây Nguyên, bánh cuốn trứng (Cao Bằng, Lạng Sơn), bánh coong phù
dân tộc Tày, Lợn sữa và vịt quay móc mật, khau nhục Lạng Sơn, phở chua, cháo
nhộng ong, phở cồn sủi, thắng cố, các món xôi nếp nƣơng của ngƣời Thái, thịt
chua Thanh Sơn Phú Thọ [11] 19
1.3.3. Văn hóa ẩm thực Hà Nội
Văn hóa ẩm thực, cũng nhƣ những loại hình văn hóa khác của Thủ đô (trang
phục, kiến trúc, giao thông ) nói chung đều tuân theo một trong những quy luật
tổng quát của Đô thị - Thủ đô mà GS. Trần Quốc Vƣợng đã chỉ ra, là: “Hội tụ - Kết
tinh - Lan tỏa”
Lấy ví dụ nhƣ Quà Hà Nội thì hầu nhƣ đều là quà quê, xuất phát từ các xứ
Đông - Nam - Đồi - Bắc của châu thổ Bắc Bộ đƣợc đƣa về và “nâng cao chất
lƣợng” (dinh dƣỡng, thẩm mỹ ) ở Thăng Long Đông Đô - Hà Nội. Nào “rƣợu
Kẻ Mơ” “bánh cuốn Thanh Trì, bánh dỡ (dày) Quán Gánh”, “cơm Văn Giáp, táp
(thịt bò tái - NTB) Cầu Dền, chè Quán Tiên”, “cốm Vòng, gạo tám Mễ Trì, tƣơng
Bần, húng Lỏng ”, xa xa hơn, là “hồng Bạch Hạc”, “cam Bố Hạ”, “chuối ngự
Đại Hồng (Lý Nhân, Hà Nam)”, “nhãn tiến Phố Hiến - Hƣng Yên”, “bánh đậu
xanh Hải Dƣơng”, “bánh gai Ninh Giang”, “nem Bỏng (Đình Bảng)”, “nem
Phăng (Đan Phƣợng)”.v.v
Ngƣời Thủ đô, từ “tứ xứ”, “tứ chiếng” (tứ chính / trấn) đổ về sum họp, tụ
cƣ ở “ba mƣơi sáu (con số tƣợng trƣng) phố phƣờng” ganh đua, thi thố các ngành
nghề thủ công, nên rốt cùng đã sành sỏi làm ăn. Sành làm, thì sẽ sành ăn, sành
chơi. Nhƣ chúng ta đã biết ngƣời Tràng An, “thanh lịch”, “ngát thơm hoa sói, hoa
nhài, khôn khéo thợ thầy Kẻ Chợ”. Chất “Kẻ Chợ hào hoa” là để đối sánh, đối
xứng và không khỏi có lúc đối lập với chất “kẻ quê” làng xóm “gió nội hƣơng
đồng”, “quờ kiểng” hay thậm chí “là quê kệch” kiểu “cô gái Sơn Tây yếm thủng
tày giần, răng đen hạt mít má hồng trên niêu”, tuy con gái Bắc Ninh - Kinh Bắc
áo dài, mớ ba mớ bảy “váy Đình Bảng buông trùng cửa võng” (Hồng Cầm)

hội đoàn thể, công tác nghiên cứu khoa học - giáo dục ngày càng nhiều. Hà Nội
ngày càng mở nhiều cửa hàng ăn, ăn sáng, ăn trƣa, ăn tối, nhiều cửa hàng thức ăn
chế biến sẵn, số siêu thị cũng đã có nhiều (đã thành lập Hiệp hội Siêu thị) bán
nhiều thức ăn chế biến - hay nửa chế biến sẵn. Vai trò nội trợ của phụ nữ Hà Nội
giảm xuống. Bữa trƣa ít gia đình cán bộ công chức ăn cơm nhà mà ăn cơm hộp,
cơm xuất hay cơm bụi bình dân, các cháu nhỏ đi học bán trú (ăn cơm trƣa nghỉ 21
trƣa ở trƣờng, ký túc xá). Chủ yếu gia đình tụ họp nhau vào bữa tối, có thức ăn
làm sẵn để tủ lạnh, làm thêm món xào, món nấu, món canh - nghỉ cuối tuần có
khi cả nhà đi ăn cơm hiệu hay về quê buông xả.
Thế giới đang ở trong chặng đƣờng Toàn cầu hóa. Văn hóa ẩm thực cũng
vậy. Nhƣng làm thế nào mà giữ đƣợc sự hòa hợp giữa cái toàn cầu hóa và cái địa
phƣơng, cái vùng miền, giữ bản sắc dân tộc, bản sắc địa phƣơng trong ăn uống.
Ngƣời Hà Nội vẫn đang vừa vô thức vừa có ý thức tự điều chỉnh. Trƣa, tối
trên đƣờng phố có bán bánh mì mà vẫn có bún chả, cơm nắm muối vừng, xôi lạc,
bánh khúc.v.v
Ngƣời Việt Nam không từ chối các món quay gốc Tầu, gốc Tây, nhƣng
vẫn thích món luộc, ăn cả nƣớc lẫn cái. Không thể vì “toàn cầu hóa” mà ngƣời Hà
Nội bỏ các món riêu cua, canh cá, tôm tép rang, món nhộng rang hay chiên qua
chút mỡ - dầu thực vật
Ngƣời Hà Nội - Việt Nam vẫn thích món nộm, vẫn thích ăn kiểu tổng hợp
cơm, rau, cá, thịt, canh từ đầu bữa đến cuối bữa, không thích ăn từng món một
riêng rẽ kiểu Âu Tây. Thích ăn giá sống kiểu Nam, giá chín, tái (giá trụng) kiểu
Trung - Bắc, phở Bắc, bún bò giò heo Huế, hủ tíu Mỹ Tho, Nam Vang.
1.3.4. Vai trò của Văn hóa ẩm thực trong du lịch.
1.3.4.1. Vai trò của văn hóa ẩm thực trong hoạt động kinh doanh khách
sạn - nhà hàng
Kinh doanh dịch vụ du lịch là một ngành kinh tế khá mới mẻ (ra đời

Ẩm thực Việt Nam lên ngôi đã mang lại nguồn thu lợi lớn cho các doanh
nghiệp kinh doanh dịch vụ ăn uống nói riêng và ngành kinh tế du lịch nói chung.
1.3.4.2. Vai trò của văn hóa ẩm thực đối với khách du lịch
Đối với khách du lịch bản chất là những ngƣời ham tìm hiểu, ƣa mạo
hiểm. Về cơ bản nhóm ngƣời này giống với nhóm ngƣời có thu nhập cao. Họ lại
là những ngƣời rất cởi mở và rất thích thú đón nhận và thƣởng thức những nền 23
văn hoá ẩm thực mới. Thông qua những chuyến đi du lịch, bản thân họ một mặt
đƣợc thƣởng thức các sản phẩm du lịch, mặt khác khám phá và học hỏi đƣợc các
nền văn hoá ẩm thực mới giúp họ mở rộng thêm kiến thức, kỹ năng về ẩm thực.
Nhƣ vậy có thể thấy, phong cảnh thiên nhiên tƣơi đẹp, các gói khuyến mãi
du lịch hấp dẫn, chi phí du lịch thấp hơn các nƣớc khác cũng nhƣ tình hình chính
trị ổn định và đặc biệt nơi có những sản phẩm ăn uống độc đáo luôn đƣợc coi là
những ƣu điểm chính hấp dẫn các khách du lịch. Nhiều khách du lịch sẵn sàng chi
trả một khoản tiền cao hơn để thƣởng thức ẩm thực, tham quan những địa danh nổi
tiếng và trải nghiệm văn hóa.
Đƣợc tìm hiểu, thƣởng thức những tinh hoa của văn hóa ẩm thực của mỗi
vùng miền giúp cho khách du lịch hiểu thêm về con ngƣời, thói quen, cách sinh
hoạt và văn hóa của cả vùng đất nơi đó.
1.3.5. Ý nghĩa của văn hóa ẩm thực trong hoạt động du lịch
Văn hóa ẩm thực đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển du lịch. Các
nƣớc có ngành du lịch phát triển đều tập trung cho việc tạo hình ảnh của đất nƣớc
mình thông qua thƣơng hiệu của doanh nghiệp và của các món ăn và đồ
uống, góp phần tạo nên thành công và làm tăng hiệu quả cho hoạt động du lịch này.
Đi du lịch đồng nghĩa với việc phải bỏ ra một khoản chi phí không nhỏ
cho lƣu trú, ăn uống, dịch vụ ….tại nơi mình đến. Khi khách du lịch đến với đất
nƣớc ta cũng nhƣ các nƣớc khác trên thế giới, họ không thể không một lần
thƣởng thức những món ăn đặc trƣng. Bời lẽ, ẩm thực đóng vai trò rất quan trọng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status