ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRƢƠNG SỸ TÂM
NGHIÊN CỨU CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TÍN
NGƢỠNG Ở PHÍA TÂY HÀ NỘI (HÀ TÂY CŨ)
NHẰM
PHÁT TRIỂN DU LỊCH
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
Hà Nội, 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
15
1.1.3 Các hình thức biểu hiện của tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng
17
1.1.4 Điều kiện hình thành, tồn tại và phát triển của Văn hóa tín ngưỡng.
23
1.2 Khái quát về du lịch văn hóa tín ngưỡng.
27
1.2.1 Khái niệm về loại hình du lịch văn hóa tín ngưỡng.
27
1.2.2 Vai trò, đặc điểm của Du lịch văn hóa tín ngưỡng.
30
1.2.3 Điều kiện phát triển loại hình du lịch văn hóa tín ngưỡng.
33
1.2.4 Các hình thức Du lịch văn hóa tín ngưỡng.
37
1.3 Kinh nghiệm phát triển Du lịch văn hóa tín ngưỡng của một số địa
phương tại Việt Nam.
1.3.1 Kinh nghiệm phát triển Du lịch văn hóa tín ngưỡng tại Phú Thọ
1.3.2 Kinh nghiệm phát triển Du lịch văn hóa tín ngưỡng tại Nam Định
41
51
53
Chương II: TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH
VĂN HÓA TÍN NGƯỠNG TẠI CÁC HUYỆN PHÍA TÂY HÀ NỘI
(TỈNH HÀ TÂY CŨ)
45
2.1 Tiềm năng và điều kiện phát triển Du lịch Văn hóa tín ngưỡng tại khu
vực phía Tây Hà Nội (Hà Tây cũ).
45
LOẠI HÌNH DU LỊCH VĂN HÓA TÍN NGƯỠNG TẠI CÁC HUYỆN
PHÍA TÂY HÀ NỘI (TỈNH HÀ TÂY CŨ)
86
3.1 Đặc điểm, xu hướng phát triển loại hình du lịch văn hóa tín ngưỡng tại
Việt Nam.
86
3.1.1 Đặc điểm
86
3.1.2 Xu hướng
87
3.2 Định hướng phát triển các loại hình du lịch văn hóa tín ngưỡng của Hà
Nội đến năm 2020.
88
3.3 Giải pháp tăng cường quản lý và khai thác loại hình du lịch văn hóa tín
ngưỡng tại khu vực phía Tây Hà Nội (Hà Tây cũ) đến năm 2020.
92
3.3.1 Áp dụng linh hoạt các bài học kinh nghiệm của các địa phương vào
thực tiễn khu vực phía Tây Hà Nội (tỉnh Hà Tây cũ).
92
3.3.2 Các giải pháp cụ thể
94
3.3.2.1 Tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức đối với khách du lịch
Văn hóa tín ngưỡng.
94
3.3.2.2 Xây dựng và tạo hành làng pháp lý cho phát triển loại hình Du lịch
văn hóa tín ngưỡng.
95
3.3.2.3 Phát triển du lịch văn hóa tín ngưỡng một cách bền vững nhằm bảo
tồn và phát huy các giá trị văn hóa.
97
Site: điểm tham quan, điểm đến trong chuyến du lịch.
Tangible: vật thể
Tourguide: hướng dẫn viên
Tour: chuyến du lịch.
4
DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH
STT
BẢNG
HÌNH
TÊN BẢNG HÌNH
TRANG
1
Bảng 1.1
Tỷ lệ tôn giáo – tín ngưỡng theo dân số
35
2
Biểu 2.1
Động cơ khách du lịch đến điểm tín
ngưỡng
60
3
Bảng 2.1
lựa chọn nghiên cứu tiềm năng khai thác những giá trị văn hóa tín ngưỡng
nhằm phát triển du lịch, một nguồn tài nguyên chiếm tỷ lệ tương đối lớn trong
hệ thống tài nguyên du lịch nhân văn của tỉnh Hà Tây (cũ) để làm đối tượng
nghiên cứu trong luận văn thạc sỹ của mình với hy vọng phần nào làm cho
6
nguồn tài nguyên đó được khai thác một cách có hiệu quả và đúng vị thế vốn
có của nó trong sự phát triển du lịch trong thực tiễn.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu:
Trong thời gian gần đây, du lịch văn hóa nói chung, du lịch tín ngưỡng
nói riêng nhận được rất nhiều sự quan tâm của Nhà Nước, ngành Văn hóa –
Thể thao – Du lịch và các công ty lữ hành. Loại hình du lịch này không những
đáp ứng xu thế phát triển du lịch hiện đại mà còn khai thác được tối đa tiềm
năng phát triển của nguồn tài nguyên du lịch, phù hợp với đặc điểm tự nhiên -
văn hóa của đất nước. Chính vì lý do đó, việc xây dựng khung lý thuyết và
nghiên cứu thực địa về du lịch văn hóa tín ngưỡng đang đặt ra một yêu cầu
bức thiết đối với các tổ chức, doanh nghiệp trong lĩnh vực du lịch. Tuy nhiên,
đối tượng du lịch khai thác văn hóa tín ngưỡng thường chỉ được quan tâm
dưới góc độ rộng; các đề tài nghiên cứu cụ thể về du lịch văn hóa tín ngưỡng
xuất hiện với tần xuất thấp, chủ yếu được đưa vào các đề tài có phạm vi
nghiên cứu rộng hơn là du lịch văn hóa và du lịch tâm linh (khai thác văn hóa
tín ngưỡng và các tôn giáo lớn)
Hiện nay có nhiều đề tài nghiên cứu về du lịch tâm linh, trong đó đáng
chú ý là một số đề tài như Nghiên cứu loại hình du lịch tâm linh ở Việt Nam
do T.S Nguyễn Trùng Khánh thực hiện. Đề tài này có nhiều đóng góp trong
việc phân loại du lịch tâm linh trên cơ sở nguồn tài nguyên và động cơ du
lịch, đồng thời xây dựng được cơ sở lý thuyết trên phương diện du lịch cho
những nghiên cứu chi tiết hơn như nghiên cứu phát triển du lịch gắn với Phật
giáo, tín ngưỡng dân gian… . Đề tài Nghiên cứu phát triển du lịch tâm linh
tỉnh Nam Định do TH.S Nguyễn Thị Thu Duyên thực hiện đi sâu vào phân
và những biểu hiện vật thể, phi vật thể gắn liền với chúng.
8
Về du lịch tâm linh ở Hà Nội, một số đề tài nghiên cứu về du lịch tôn
giáo – tín ngưỡng đã được tiến hành trên địa bàn Hà Nội, điển hình là luận
văn Tìm hiểu hoạt động du lịch văn hoá tâm linh của người Hà Nội (khảo sát
trên địa bàn quận Đống Đa của tác giả Đoàn Thị Thùy Trang. Đây là luận
văn được thực hiện tương đối công phu, có khảo sát xã hội học trên thực địa
và có số liệu tương đối chính xác về nhân khẩu học, đối tượng tiến hành du
lịch, động cơ và doanh thu du lịch. Một số luận văn, tiểu luận, bài báo khác
lấy đối tượng là các hình thức tôn giáo – tín ngưỡng điển hình và các điểm di
tích văn hóa cụ thể ví du lịch như đình làng, tục thờ mẫu,đền thờ (đền Và,
Đình Tường Phiêu)… làm trọng tâm nghiên cứu. Nhìn chung, các công trình
nghiên cứu về du lịch tâm linh chưa nhiều và chưa đề cập đầy đủ các khía
cạnh của du lịch tâm linh. Qua đánh giá tài liệu, những chuyên đề, đề tài
nghiên cứu chuyên sâu về tín ngưỡng trong mối quan hệ với hoạt động du
lịch ở Hà Tây (cũ), một tỉnh có nguồn tài nguyên du lịch văn hóa phong phú
có thể phát triển du lịch tâm linh gắn với tín ngưỡng ở đồng bằng sông Hồng
lại hầu như chưa có. Đây là một trong những khoảng trống trong nghiên cứu
văn hóa phát triển du lịch tâm linh bởi Hà Tây cũ là một trong những khu vực
địa lý có bề dầy văn hóa – lịch sử và số lượng di tích gắn với tôn giáo – tín
ngưỡng rất lớn trên phạm vi cả nước trước khi được sáp nhập cùng với Hà
Nội. Tình trạng sáp nhập tạo ra cơ hội mới cho thành phố Hà Nội trong phát
triển du lịch, đặc biệt là du lịch văn hóa. Tuy nhiên cũng có nhiều thách thức
trong ưu tiên đầu tư trọng điểm vào sản phẩm du lịch, tận dụng những thành
tựu đã đạt được và khắc phục những hạn chế trong lĩnh vực du lịch của cả Hà
Nội (cũ) và Hà Tây (cũ). Đây chính là lý do tác giả chọn đề tài làm luận văn
tốt nghiệp của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
9
hóa từ năm 1998 đến năm 2012
5. Phƣơng pháp nghiên cứu:
5.1 Phương pháp phân tích tổng hợp: Nghiên cứu thu thập tài liệu từ các công
trình nghiên cứu trước để tổng hợp, phân tích và đưa ra những đánh giá phù
hợp với đối tượng nghiên cứu.
5.2 Phương pháp quan sát: Quan sát các cơ sở tín ngưỡng nhằm khái quát và
cụ thể hóa thực trạng tại các điểm tín ngưỡng, thu thập thong tin từ người dân
địa phương.
6. Bố cục của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, mục lục, luận văn bao gồm ba chương:
Chương I: Những vấn đề chung về văn hóa tín ngưỡng và du lịch văn hóa tín
ngưỡng.
Chương II: Tiềm năng và thực trạng hoạt động du lịch văn hóa tín ngưỡng tại
các huyện phía Tây Hà Nội (tỉnh Hà Tây cũ) trong quá trình phát triển du lịch
Chương III: Giải pháp tăng cường quản lý và khai thác loại hình du lịch văn
hóa tín ngưỡng tại các huyện phía tây Hà Nội (tỉnh Hà Tây cũ)
11
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN HÓA TÍN NGƢỠNG
VÀ DU LỊCH VĂN HÓA TÍN NGƢỠNG
1.1 Khái quát về tín ngƣỡng và văn hóa tín ngƣỡng
1.1.1 Khái niệm tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng
1.1.1.1 Khái niệm tín ngưỡng
Tín ngưỡng thường được đặt trong mối quan hệ với tôn giáo hoặc được
nhìn nhận dưới góc độ hệ tư tưởng, triết học, khoa học hiện đại.
Trong công trình Văn hóa nguyên thủy, Tylor E. B cho rằng: “Cần đặc
biệt chú ý là những tín ngưỡng và tập quán khác nhau đều có những nền tảng
vững chắc trong thuyết vật linh nguyên thủy, như thể chúng đã thực sự mọc lên
từ đó. Trong thuyết vật linh phức tạp, chúng trở thành sản phẩm của sự ngu dốt
hơn là của nhà triết học và tồn tại như những tàn tích của cái cũ hơn là những sản
sự tôn sùng hướng thượng đối với các lực lượng siêu nhiên đứng trên quyền
năng của con người.
Giáo sư Ngô Đức Thịnh định nghĩa: “Tín ngưỡng là hệ thống các niềm tin
mà con người tin vào để giải thích thế giới và để mang lại sự bình an cho cá
nhân và cộng đồng.” [16, tr.16].
Như vậy, tín ngưỡng theo định nghĩa của các nhà nghiên cứu văn hóa có
đặc điểm chung là xem xét tín ngưỡng trong mối quan hệ với tôn giáo trong đó
hai khái niệm này có sự tương đồng là hệ thống các niềm tin của con người vào
lực lượng siêu nhiên để giải thích thế giới và mang lại sự bình an cho cá nhân,
cộng đồng. Khác biệt giữa chúng là khá rõ:
- Tôn giáo là một hình thái ý thức có tổ chức tương đối chặt chẽ, có hệ
thống giáo lý được quy chuẩn thành văn bản, có một cộng đồng cùng tuân thủ
các nguyên tắc thực hành nghi lễ xoay quanh trung tâm của nó là giáo đường,
có một hệ thống văn bản kinh sách và giáo luật. Mỗi loại hình tôn giáo thường
có một giáo chủ cụ thể.
13
- Tín ngưỡng không có những hình thức đó, nếu có thì rất mờ nhạt, mang
tính địa phương, tùy thuộc vào mỗi vị thần được tôn vinh ở mỗi cộng đồng.Vì
vậy quá trình thực hành nghi lễ tín ngưỡng không ổn định.
Về mặt pháp quy, Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo năm 2004 định nghĩa,
hoạt động tín ngưỡng “… là hoạt động thể hiện sự tôn thờ tổ tiên; tưởng niệm và
tôn vinh những người có công với nước, với cộng đồng; thờ cúng thần, thánh,
biểu tượng có tính truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác tiêu
biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức, xã hội”.
Từ những định nghĩa và khái niệm trên, trong luận văn này, tín ngưỡng
được hiểu là một sản phẩm văn hóa được hình thành trong mối quan hệ giữa con
người với tự nhiên, giữa con người với xã hội, mối quan hệ giữa con người với
chính bản thân mình. Tín ngưỡng bao gồm hệ thống niềm tin của con người vào
các lực lượng siêu nhiên hoặc các vị nhân thần và cho rằng những đối tượng đó
tại trong cuộc sống hằng ngày như là một phương tiện sáng tạo văn hoá”
[Folklore thế giới - Một số công trình nghiên cứu cơ bản Ngô Đức Thịnh - Frank
Proschan, NXB Khoa học Xã hội 2005, Hà Nội, tr.280]. Ý kiến này minh họa
cho quan điểm của giáo sư Ngô Đức Thịnh, nhìn chung coi văn hóa tín ngưỡng
là phần “hình thức” và niềm tin của con người chính là phần “linh hồn” cốt lõi
của tín ngưỡng. Niềm tin vào lực lượng siêu nhiên và văn hóa tín ngưỡng chính
là hai bộ phận chính cấu thành lên tín ngưỡng cũng như sự phổ biến của chúng
trong xã hội loài người.
Trong quá trình nghiên cứu tài liệu các công trình nghiên cứu về văn hóa,
tôn giáo – tín ngưỡng; tác giả nhận thấy các nhà nghiên cứu thường không đưa
ra định nghĩa cụ thể về văn hóa tín ngưỡng. Nguyên nhân có thể do sự phức tạp
trong định nghĩa Văn hóa (có tới 164 định nghĩa về văn hóa) và nhiều quan điểm
khác nhau về tín ngưỡng. Các nhà nghiên cứu về tín ngưỡng thường chỉ lý giải
và những đưa ra lập luận logic về sự tồn tại văn hóa tín ngưỡng trong xã hội
nhằm tránh những tranh luận không cần thiết về mặt tên gọi, ngôn ngữ.
15
Trong luận văn này, văn hóa tín ngưỡng được hiểu theo cách giải thích
của Giáo Sư Ngô Đức Thịnh.
1.1.2 Cơ sở hình thành tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng
Đối chiếu tín ngưỡng với tôn giáo và xác định sự khác biệt giữa chúng là
một công việc cần thiết trong việc xác định cơ sở hình thành tín ngưỡng.
Tín ngưỡng đôi khi được hiểu là tôn giáo do các nhà nghiên cứu xem xét
lại các khái niệm khác nhau giữa quan điểm về tôn giáo – tín ngưỡng của cách
phân loại văn hóa Đông - Tây. Nhìn chung các quan điểm về tôn giáo – tín
ngưỡng cho rằng điểm khác biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo ở chỗ, tín ngưỡng
mang tính dân tộc, dân gian nhiều hơn tôn giáo. Tín ngưỡng không có tổ chức
chặt chẽ và có giáo đường như tôn giáo. Khi nói đến tín ngưỡng người ta thường
nói đến tín ngưỡng của một dân tộc hay một số dân tộc có một số đặc điểm
chung còn tôn giáo thì thường là không mang tính dân gian. Tín ngưỡng không
thức về thế giới, về con người và vị trí của con người trong thế giới đó. Nhận
thức sơ khai về các hiện tượng tự nhiên, xã hội vẫn còn sơ đẳng, mang đậm tính
huyền thoại dẫn đến việc thiêng hóa và tôn thờ. Trải qua thời gian và lớp lăng
kính di truyền văn hóa, hiện nay tín ngưỡng đã trở thành một hình thức văn hóa
– văn hóa tín ngưỡng tồn tại lâu bền trong xã hội loài người.
Nếu chỉ nhìn nhận dưới góc độ triết học, khoa học; tín ngưỡng và đôi khi
tôn giáo chỉ đơn thuần là một biểu hiện nhận thức lạc hậu của con người, không
phù hợp với quan điểm duy vật của hệ tư tưởng Marxist. Tuy nhiên đứng dưới
lăng kính văn hóa, tín ngưỡng là những di sản văn hóa biểu lộ đặc trưng tri thức
truyền thống, thể hiện thế giới quan và nhân sinh quan của những thế hệ trước;
phần nào còn tồn tại trong tâm thức của xã hội hiện đại. Đặc biệt khi trở thành
văn hóa tín ngưỡng, giá trị của chúng còn mang tính bảo tồn và duy trì đường
vạch nối giữa quá khứ - hiện tại, giữa các thế hệ đi trước - thế hệ hiện tại – thế hệ
tương lai, góp phần định hình lên bản sắc các nền văn hóa.
1.1.3 Các hình thức biểu hiện của tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng
17
- Tín ngưỡng vạn vật hữu linh: Từ thời cổ đại đã xuất hiện học thuyết nói
về linh hồn, đó là thuyết vật linh (Animism). Theo thuyết này thì tất cả mọi loài,
mọi thứ trên trái dất từ con người đến con thú, những vật vô tri vô giác như cỏ
cây , đất đá cũng đều có linh hồn . Quan niệm này tồn tại trong dân gian qua các
câu nói, viết : " Hồn thiêng sông núi " “Hồn nước " Tuy nhiên tùy theo phong
tục tập quán mỗi quốc gia mà sự định nghĩa và tin tưởng có vài khác biệt, điểm
quan trọng nhất trong niềm tin đó là con người tin tưởng rằng vạn vật đều có linh
hồn bất diệt, kể cả con người.
Đối với các nhà triết học cổ đại như Platon, Pythagore, Hereclite,
Empedocles, Aristote Epicure họ đều có nghiên cứu và đề cập nhiều đến linh
hồn và coi linh hồn như là một thể quan trọng trong sự chuyển hóa đời sống . Về
sau có Ploton, Descarts, Pascan, Schopenhauer, Ralph Waldo Emerson, Prederic
Wlliam Henry Myers tiếp nối sự nghiên cứu tìm hiểu cũng như tin tưởng vào sự
ngưỡng này vẫn còn hiện hữu trong một số nghi lễ truyền thống trong sinh hoạt
làng xã ở Việt Nam do đặc tính di truyền văn hóa của xã hội loài người.
- Tín ngưỡng thờ đá: Đá được suy tôn kể từ khi con người biết sử dụng
công cụ lao động chế tác từ đá thời nguyên thủy. Là một công cụ lao động mang
lại hiệu quả cao, cộng với việc sử dụng các hòn đá đập vào nhau, con người có
thể tạo ra lửa. Đá được coi là có sức mạnh siêu nhiên, được con người tôn thờ và
được coi là vật thiêng, dùng để trấn áp các lực lượng đen tối nên được cắm
quanh mộ người chết (người Mường cổ). Một số địa phương cất hòn đá vào
điểm thờ tự công cộng như đình, miếu. Người Việt – Mường tạc tượng chó đá để
trấn áp tà khí. Ngày nay, tín ngưỡng thờ đá còn biểu hiện qua việc thiêng hóa
những nhũ đá trong các hang động có gắn liền với điểm di tích tôn giáo và tín
ngưỡng.
- Tín ngưỡng thờ cây: Con người cho rằng mọi cây cổ thụ đều có linh hồn,
đặc biệt những cây cổ thụ có vị trí nơi vắng vẻ thường là nơi cư trú của những
linh hồn lang thang không nơi nương tựa. Xúc phạm đến cây cổ thụ là động đến
19
những linh hồn đó và cuộc sống con người sẽ không được yên ổn. Cây cổ thụ
thường gắn với miếu, đình và được xem là một biểu tượng linh thiêng trong tâm
thức con người từ xa xưa.
Tín ngưỡng vạn vật hữu linh còn có nhiều biểu hiện khác như totem giáo
hoặc được biểu hiện qua phong tục tập quán truyền thống như: tục thờ cúng tổ
tiên, tục thờ “hồn cây Đa, ma cây Gạo”… Tính đa dạng của nó còn được thể
hiện rất cụ thể trong nếp sống văn hóa, đất lề quê thói vẫn còn tồn tại đến ngày
nay ở từng dân tộc sinh sống trên dải đất hình chữ S. Trong quá trình tiếp xúc
văn hóa, tín ngưỡng vạn vật hữu linh cũng du nhập những nghi lễ của các tôn
giáo lớn như đạo Phật, đạo Giáo… theo hướng thế tục hóa.
- Tín ngưỡng thờ tứ pháp ở Việt Nam có nguồn gốc văn hóa nông nghiệp
trồng lúa nước, do đó các hiện tượng tự nhiên có tác động mạnh mẽ đến mùa
màng được người Việt tôn sùng, thờ cúng. Trong số các hiện tượng tự nhiên thì
nghiên cứu cho rằng tín ngưỡng phồn thực có ảnh hưởng qua lại với văn hóa
người Chăm xưa, với biểu tượng nổi tiếng là Linga – Yoni. Thực ra, quan niệm
này đã được dân gian hóa từ trước; dưới hình thức các tục hèm trong lễ hội
truyền thống của người tiền Việt – Mường, với rất nhiều vật thờ cúng, tượng
thần, phù điêu trên các chi tiết đắp nổi bằng vôi vữa, đục đẽo bằng gỗ trên cửa
võng, xà ngang, đầu đấu đình làng, miếu, chùa ở Việt Nam. Điển hình hơn cả là
tục bắt chạch trong chum hay hành vi đâm biểu tượng dương vật vào hình âm vật
bằng gỗ trong lễ hội xuân ở Phú Thọ, Bắc Giang, Hà Tây, Bắc Ninh
- Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên: Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên xuất phát từ
quan niệm cho rằng những thế hệ đi trước khi mất đi không hoàn toàn từ bỏ cõi
dương gian mà vẫn tồn tại dưới một hình thức siêu hình, trong những dịp đặc
biệt như ngày giỗ, lễ tết, sóc vọng… thường quay trở lại gia đình để trông nom,
phù hộ, độ trì thế hệ sau. Quan niệm này tạo ra một chiều sâu văn hóa và chiều
rộng về ý thức gia đình. Gia đình không chỉ bao gồm những người còn sống, mà
có cả những người đã khuất. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên không chỉ giới hạn
21
trong một gia đình hạt nhân mà còn được mở rộng ra chi họ, dòng tộc. Đến thời
hiện đại, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên được nâng tầng cấp quốc gia khi tất cả
người Việt đều thừa nhận vua Hùng là ông tổ khai sinh đất nước. Ngày 10 tháng
3 âm lịch được coi là quốc giỗ, người dân trong cả nước đều được nghỉ và tổ
chức cúng giỗ, viếng đền Hùng (Phú Thọ), thể hiện tinh thần uống nước nhớ
nguồn của dân tộc. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên có từ lâu đời, là lá chắn văn hóa
vững vàng xuyên suốt quá trình lịch sử. Người Pháp khi xâm lược Việt Nam
nhìn nhận hiện tượng tín ngưỡng này như là một tôn giáo thế tục và coi đó là
một rào cản vô hình ngăn chặn quá trình “khai hóa” văn minh ở Đông Dương,
trong đó có quá trình truyền bá Thiên chúa giáo.
- Tín ngưỡng thờ thành hoàng làng: Theo một số nhà nghiên cứu văn hóa,
thờ thành hoàng ở nước ta có nguồn gốc từ Trung Quốc. Tuy nhiên, tục thờ
thành hoàng của người Trung Quốc chủ yếu hướng vào thờ cúng vị thần trông
sông Hồng, do nơi đây phải thường xuyên chống chọi với lũ lụt, bảo vệ mùa
màng, con người và vật nuôi.
Tín ngưỡng thờ thủy thần phổ biến ở những ngôi làng ven biển hoặc gần
sông lớn. Tục thờ thủy thần biểu hiện lòng tôn kính đối với vị thần bảo trợ, mang
lại bình yên cho những chuyến đi dài ngày trên biển hoặc trên sông nước, hoặc ít
nhất là biểu lộ lòng tôn kính để vị thần này không gây hại cho nghề nghiệp của
những người làm nghề đánh bắt thủy sản. Tín ngưỡng thờ thủy thần gắn liền với
việc thờ các vật thủy linh như rồng, rắn. Khu vực đồng bằng sông Hồng xưa kia
vẫn còn là địa vực gần biển, do đó di sản thờ cúng thủy thần vẫn còn nhiều dấu
vết trong các làng Việt cổ. Thờ thủy thần cũng được biểu hiện qua tục thờ cá ông
của cư dân Việt sinh sống ven biển.
Một số tín ngưỡng khác hiện nay vẫn còn tồn tại phổ biến ở các làng quê
Việt Nam như tín ngưỡng thờ cây hương, tín ngưỡng thờ ông Đống, bà Đống, tín
ngưỡng thờ đức thánh Trần, tín ngưỡng cầu mưa và tín ngưỡng thờ thần thổ
địa…
23
1.1.4 Điều kiện hình thành, tồn tại và phát triển của Văn hóa tín ngưỡng.
- Điều kiện tự nhiên: Môi trường tự nhiên là một trong những nhân tố lớn
hình thành lên các nền văn hóa. Theo cuốn cơ sở văn hóa Việt Nam, văn hóa
được hình thành dựa trên cách thức ứng xử của con người môi trường tự nhiên.
Khi con người phát triển đến một trình độ nhất định hình thành lên các xã hội có
tổ chức được gọi là môi trường xã hội nhân văn. Tập quán ứng xử của bản thân
con người với xã hội – tự nhiên tạo ra văn hóa và lớp văn hóa ấy là cơ sở cho
việc con người có nội tâm, tư tưởng và tình cảm hay mối quan hệ với chính bản
thân. Mối quan hệ con người – tự nhiên, con người – xã hội, con người – bản
ngã chính là ba mối quan hệ cơ bản cho việc xuất hiện văn hóa. Đặc điểm hình
thành lên tín ngưỡng cũng không nằm ngoài quy luật đó.
Môi trường tự nhiên của văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam bao gồm những
đặc điểm sau: