Nghiên cứu các giá trị của niệu bào đồ trong chẩn đoán và theo dõi tiến trình dậy thì của trẻ gái - Pdf 13


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯ HOÀNG THỊ THỦY YÊN NGHIÊN CỨU CÁC GIÁ TRỊ CỦA NIỆU BÀO ĐỒ
TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ THEO DÕI TIẾN TRÌNH
DẬY THÌ CỦA TRẺ GÁI
Chuyên ngành : NHI KHOA
Mã số : 3.01.43
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC


CÓ THỂ TÌM HIỂU LUẬN ÁN TẠI
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện Trường Đại học Y Hà Nội
- Viện Thông tin – Thư viện Y học Trung ương
- Thư viện Bệnh viện Nhi Trung ương
- Thư viện Trường Đại học Y Dược Huế
1. Hoàng Thị Thủy Yên, Nguyễn Thu Nhạn, Trần Văn Hợp (2007) “ Các biến đổi của niệu bào đồ trong
tiến triển dậy thì của trẻ gái”, Y học Thực Hành, số 568/2007, tr : 64 - 67.

2. Hoàng Thị Thủy Yên, Nguyễn Thu Nhạn, Trần Văn Hợp (2007) “ Niệu bào đồ trong chu kỳ kinh
nguyệt của trẻ gái ”, Tạp chí Nghiên cứu Y học, số 6, Supp Vol 55, tr : 168- 172.

3. Hoàng Thị Thủy Yên và Lê Thị Phương Anh ( 2008), “ Nghiên c
ứu nồng độ hormone sinh dục trong
dậy thì của trẻ gái và các giá trị chẩn đoán ”, Y học Thực hành, số 616 + 617/2008, tr : 990 -998.

4. Hoàng Thị Thủy Yên ( 2009), “ Nghiên cứu các giá trị chẩn đoán dậy thì của siêu âm tử cung –
buồng trứng ”, Y học Việt Nam, số 2/2009, tr : 664 - 671.

ủa giới nữ và
vẫn còn giá trị cho đến ngày nay. Niệu bào đồ đặc biệt dễ dàng được chấp nhận ở trẻ gái vì không
gây đau và không xâm nhập. Phương pháp niệu bào đồ ít được biết đến và chưa được thực hiện ở
nước ta.
Do đó, luận án này nghiên cứu các giá trị khoa học của niệu bào đồ đối với các phương
pháp chẩn đoán dậy thì đang được sử dụng
ở Việt nam. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
1. Mô tả các biến đổi của các chỉ số niệu bào đồ trong các giai đoạn dậy thì của trẻ gái.
2. So sánh các giá trị của niệu bào đồ với phương pháp siêu âm tử cung-buồng trứng và định
lượng nồng độ các hormon FSH-LH-Estradiol huyết tương trong chẩn đoán dậy thì của trẻ
gái.
Ý NGHĨA THỰC TIẾN VÀ ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LU
ẬN ÁN: Đề tài đã áp dụng thành công
một kỹ thuật khá kinh điển là niệu bào đồ để đánh giá và theo dõi tiến trình dậy thì ở trẻ gái, có một
ý nghĩa thực tiến, có thể xem là một kỹ thuật thích ứng phù hợp với nước ta. Hơn nữa , kỹ thuật này
tuy đã có từ thập kỷ 50 của thể kỷ XX, áp dụng tại Pháp từ những năm 1970, nhưng vẫn còn được
sử
dụng. Kết quả , luận án đã áp dụng thành công qui trình kỹ thuật niệu bào đồ ở nước ta. Đã mô
tả và trình bày các số liệu biến đổi các chỉ số niệu bào đồ trong các giai đoạn dậy thì, đối chiếu với
các giai đoạn phát triển dấu hiệu sinh dục thứ phát. Kết quả cho thấy biến đổi của niệu bào đồ
tương thích với các dấu hiệu này theo các phươ
ng trình tuyến tính rõ ràng. Cho thấy có sự phù hợp
giữa các biến số niệu bào đồ với sự thay đổi nồng độ các hormon FSH – LH – E2 trong huyết thanh
cũng như với kích thước tử cung và buồng trứng theo các giai đoạn dậy thì với độ nhạy và độ đặc
hiệu cao.
CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN: Luận án có 111 trang, bao gồm các phần: Đặt vấn đề (3 trang );
Tổng quan tài liệu ( 32 trang); Đối tượng và phương pháp nghiên cứu (20 trang): Kết quả
nghiên
cứu (18 trang); Bàn luận (31 trang); Kết luận (1 trang) ; Kiến nghị ( 1 trang). Trong Luận án 17
trang, 16 biểu đồ, 23 hình ảnh minh họa, 2 sơ đồ.

u mô lát tầng của tam giác bàng
quang có một quá trình tăng sinh và biệt hóa, rồi bong tróc ra nước tiểu. Đặc tính bong tróc này là
cơ sở của niệu bào đồ.
1.1.4. Kỹ thuật nhuộm màu
Kỹ thuật nhuộm màu Shorr : Các tế bào ưa axit có bào tương bắt màu đỏ, các tế bào ưa
kiềm có bào tương bắt màu xanh da trời pha lẫn màu xanh lá cây nhạt. .
Kỹ thuật Hematoxyline de Harris : Làm nổi bật các chi tiết của hạt nhân.
Các chỉ số của niệu bào đồ
Ch
ỉ số trưởng thành (Index de maturation – IM ) : Từ quần thể 100 tế bào, chỉ số IM (B/I/S) bao
gồm các tỷ lệ của 3 dạng tế bào là : tế bào đáy và cận đáy –B, tế bào trung gian – I, và tế bào bề
mặt – S .
Chỉ số estrogen (Index estrogenique – IE ) : Tỷ lệ phần trăm của các tế bào thượng bì ở lớp bề
mặt ngấm estrogen, đó là những tế bào có bào tương ưa axit bắt màu đỏ, có nhân bắt màu
xanh tím đậm.

3
Chỉ số nhân đông (Index Karyopycnotique – IK ) : Tỷ lệ phần trăm của những tế bào bề mặt ưa axit
bào tương bắt màu đỏ, có nhân dạng chấm tụ màu đồng nhất, phản ánh mức độ trưởng thành nhất
của nhân và bào tương tế bào.
1.2. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ DẬY THÌ
1.2.1. Lâm sàng
1.2.1.1. Tuổi thực : Tuổi thực được tính theo ngày tháng năm sinh. Về lâm sàng, tuổi bắt đầu dậy
thì là khi xuất hiện các dấu hiệ
u sinh dục thứ phát đầu tiên. Tuổi bắt đầu dậy thì của trẻ gái nước ta
trung bình là 11 tuổi 10 tháng, tuổi có kinh lần đầu là 13 tuổi 5 tháng.
1.2.1.2. Tăng tốc độ phát triển chiều cao: Ở nữ giới, tăng tốc độ phát triển chiều cao xảy ra cùng
thời điểm hay ngay trước khi thể tích tuyến vú bắt đầu tăng, và đỉnh tăng trưởng đạt được ngay
trước khi xuất hiện kinh nguyệt.
1.2.1.3. Các giai

a dậy thì B1P1, tăng cao từ giai đoạn B2 đến B5.
1.2.3.2. Đo nồng độ estradiol trong huyết thanh
Thường quy trong lâm sàng, estradiol thường được định lượng bởi phương pháp RIA.

4
1.2.3. Các phương pháp thăm dò bài tiết hormon
Nghiên cứu nhịp tiết ban đêm của hormon FSH và LH:
LH được bài tiết theo nhịp trước khi bắt đầu dậy thì . Nồng độ trung bình của FSH và LH tăng
cao trong thời kỳ dậy do tăng cao biên độ đỉnh tiết.
Nghiệm pháp động LHRH:
Nghiệm pháp LHRH là nghiệm pháp sinh học duy nhất cho phép chẩn đoán xác định dậy thì.
Đo nồng độ FSH và LH liên tiếp vào các phút - 30’, 0’ , 10’ , 20’, 30’, 40’, 50’, 60’, 90’.
Nghiệm pháp được đánh giá chủ yếu nhờ đỉ
nh tiết của từng hormon.
Thời kỳ chưa dậy thì, đỉnh tiết của các hormon đều thấp. Ở trẻ gái, đỉnh tiết của FSH luôn
cao hơn LH.
Đến thời kỳ dậy thì, đỉnh tiết của LH tăng nhanh hơn và trở nên cao hơn FSH. Đảo ngược tỷ
lệ LH đỉnh / FSH đỉnh là dấu hiệu của dậy thì.

1.2.4. Niệu bào đồ
1.2.4.1. Niệu bào đồ giai đoạn chưa dậ
y thì
Giai đoạn chưa dậy thì, niệu bào đồ nghèo tế bào được biểu hiện ở mật độ tế bào bong ra thưa
thớt, chủ yếu là tế bào đáy và cận đáy kéo dài cho đến giai đoạn dậy thì.
1.2.5.2. Niệu bào đồ giai đoạn dậy thì
Niệu bào đồ quan sát được ở trẻ gái bình thường cho thấy biểu mô tam giác bàng quang ngày
càng được kích thích. Sự xuất hiện của các tế bào bề mặt ư
a axit báo hiệu cho thời kỳ dậy thì sắp
đến.
Các nghiên cứu này cũng đã nhận định niệu bào đồ là phương pháp dễ thực hiện, lập lại

N = (1,96)
2
.0,75.0,25 / (0,07)
2
= 147 .
Để dự phòng thất thoát mẫu, chúng tôi tăng thêm 10% cỡ mẫu tức thêm 15.
Cỡ mẫu tối thiểu 162 phân bố đều theo các giai đoạn phát triển tuyến vú. Có 165 nữ sinh khối lớp
6 của hai niên học 2005-2006 và niên học 2006- 2007 đã được chọn lựa tham gia vào nghiên cứu.
2.3.2. Các bước nghiên cứu
Bước 1 Đánh giá giai đoạn phát triển dậy thì.
Bước 2 Thực hiện các xét nghiệm niệu bào đồ, đo nồng độ hormon FSH-LH-Estradiol huyế
t thanh
, siêu âm tử cung buồng trứng.
Nhóm nữ sinh dậy thì đã có chu kỳ kinh nguyệt, được hẹn
khám và xét nghiệm nước tiểu theo chu kỳ kinh nguyệt.
Xét nghiệm đo nồng độ hormon FSH-LH- Estradiol. Siêu âm tử cung buồng trứng. Nhóm nữ sinh
dậy thì đã có chu kỳ kinh nguyệt thì các xét nghiệm đo nồng độ hormon, siêu âm tử cung buồng
trứng được tiến hành vào ngày thứ 12-14 của chu kỳ kinh nguyệt.
Bước 3: Phân chia nhóm nghiên cứu theo giai đoạn dậy thì
Bước 4: Xử lý số liệu.

2.4. KỸ THUẬT TIẾN HÀNH CÁC XÉT NGHIỆM
2.4.1. Kỹ thuật thực hiện niệu bào đồ

6
Quay ly tâm 15ml nước tiểu tốc độ 3000 vòng /phút trong 10 phút. Đổ phần váng nước
tiểu ở trên bề mặt. Dùng pipette Pasteur để lấy hết cặn dưới đáy ống. Dàn đều bệnh phẩm từ trung
tâm lam kính ra hai phía. Đánh dấu số phiến đồ. Nhuộm màu phiến đồ bằng kỹ thuật HARRIS
SHORR với thuốc nhuộm tế bào Hematoxylin Harris và thuốc nhuộm tế bào Shorr của hãng
Merck.

Tỷ lệ 21,21% 21,82
%
20,0% 18,79
%
18,18% > 0,05

Bảng 3.2. Các giai đoạn dậy thì theo phát triển lông mu

N = 165 GĐP1
n = 59
GĐP2
n = 33
GĐP3
n = 35
GĐP4
n = 29
GĐP5
n = 9
P
Tỷ lệ % 35,75% 20% 21,22% 15,28% 5,45% <0,05
3.2. CÁC BIẾN ĐỔI CỦA NIỆU BÀO ĐỒ TRONG CÁC GIAI ĐOẠN DẬY THÌ CỦA TRẺ
GÁI
3.2.1. Các biến đổi của niệu bào đồ theo giai đoạn tuyến vú
Bảng 3.3. Chỉ số IM của niệu bào đồ theo giai đoạn tuyến vú
( *) p > 0,05
IK IE B I S p
GĐB1
2,7
± 1,5
1,9

± 6,2
<0,05
GĐB4
46,6
± 3,6
14,9
± 1,8
0
38,3
± 3,4
61,7
± 3,4
<0,05
GĐB5
58,1
± 2,5
12,5
± 1,7
0
29,4
± 2,5
70,6
± 2,5
<0,05
p
Anova
< 0,05 <0,05 <0,05 <0,05 <0,05

Bảng 3.4. Chỉ số IM trong giai đoạn B2 & B3


15,9±8,9 63,8±12,6 17,9± 7,9
GĐP3

47,4±22,6 29,1± 1,4
1,80±3,2 43,8±14,6 52,1±15,9
GĐP4

53,6 ± 6,5 13,4±2,3*
0 33,1± 4,8 66,9± 4,8
GĐP5

58,4 ±1,8 12,2±1,4*
0 29,3 ± 1,0 70,7± 1,0
P
Anova

< 0,05 < 0,05 < 0,05
Bảng 3.6. Chỉ số IM trong giai đoạn P1 & P2 (*) p >0,05

B I S P
B1P1
n = 35
19,6 ± 6,9 76,4* ± 7,2 4,0 ± 2,3
B2P1
n = 24
16,4 ± 3,9 77,6*± 7,0 6,0 ± 3,0

<0,05
B2P2
n = 12

IE 0,869 >2 80,8 68,6 2,57 0,28
B 0,898 ≤ 15 71,5 74,3 2,78 0,38
I 0,808 ≤ 65 62,3 85,7 4,36 0,44
S 0,928* >6 86,8 82,9 5,06 0,16
FSH 0,894 >2,07 77,7 80,8 3,88 0,28
LH 0,949* >1,0 86,9 88,6 7,61 0,15
E2 0,947* >17,42 87,7 88,6 7,67 0,14
CCTC 0,978* >33 89,2 94,3 15,62 0,11
CDBT 0,845 >19 73,8 77,1 3,3 0,32
p <0,05
Bảng 3.9. Tương quan R (Spearman’s Rho) của các giá trị
(p < 0,001)
IK IE B I S
CC
TC
CD
BT
FSH LH E2
IK 1 0,8 -0,8 -0,9 0,9 0,9 0,8 0,9 0,9 0,9
IE 0,8 1 - 0,8 -0,8 0,9 0,8 0,7 0,8 0,8 0,9
B -0,8 -0,8 1 0,7 -0,9 -0,7 -0,7 -0,8 -0,8 -0,8
I -0,9 -0,8 0,7 1 -0,9 -0,8 -0,7 -0,8 -0,8 -0,8
S 0,9 0,9 -0,9 -0,9 1 0,9 0,8 0,9 0,9 0,9
CCTC 0,9 0,8 -0,7 -0,8 0,9 1 0,8 0,9 0,9 0,9
CDBT 0,8 0,7 -0,7 -0,7 0,8 0,8 1 0,7 0,7 0,8
FSH 0,9 0,8 -0,8 -0,8 0,9 0,9 0,7 1 0,9 0,9
LH 0,9 0,8 -0,8 -0,8 0,9 0,9 0,7 0,9 1 0,9
E2 0,9 0,9 -0,8 -0,8 0,9 0,9 0,8 0,9 0,9 1

10

trẻ 9 – 10 tuổi, 15 /67 /14 ở nhóm 11 -12 tuổi và 07/68/25 ở nhóm 13 – 14 tuổi [137]. Jezequel C
tìm thấy tế bào bề mặt của niệu bào đồ của nhóm chưa dậy thì là 3, tăng cao đến 9 ở nhóm bắt đầu
dậy thì B2, và tăng đến 14
ở giai đoạn dậy thì B4 và B5 [125].
Theo bảng 3.4. giai đoạn B2 gồm có 2 nhóm phát triển lông mu P1 và P2. Các biến đổi của
từng lớp tế bào của chỉ số IM giữa 2 nhóm B2P1 và B2P2 không khác biệt (p > 0,05) . Kết quả
tương tự ở giai đoạn B3. Giai đoạn B3 gồm có 2 nhóm phát triển lông mu P2 và P3. So sánh các chỉ
số IM (B/I/S) của giai đoạn B3P2 và B3P3 không có khác biệt có ý nghĩa (p > 0,05) . Các kết quả
nghiên cứu này chứng tỏ các chỉ số của niệu bào đồ ph
ụ thuộc theo giai đoạn phát triển tuyến vú do
hoạt động của hormon estrogen
.
Giai đoạn B4 và B5, mẫu nước tiểu được lấy ở giữa chu kỳ kinh nguyệt cho thấy một sự
tăng cao vượt trội của các tế bào bề mặt S.
4.1.2.2. Chỉ số nhân đông IK theo giai đoạn tuyến vú
Bảng 3.3. cho tăng cao một cách có ý nghĩa trong suốt tiến trình dậy thì. Chỉ số nhân đông
IK phản ánh mức độ trưởng thành cao nhất của hạt nhân và bào tương tế bào niêm mạc tam giác
bàng quang dướ
i tác động của hormon sinh dục estrogen. Ở giai đoạn B4 và B5, do xét nghiệm
được thực hiện vào giữa chu kỳ kinh nguyệt nên chỉ số nhân đông IK cao cách biệt hơn các giai
đoạn dậy thì trước đó.

11
Các nghiên cứu khác cũng nhận thấy tương tự. Martineau xét nghiệm niệu bào đồ mỗi cách
đều đặn mỗi 6 tháng ở nhóm trẻ dậy thì sớm gồm có 7 nữ và 3 nam.
Kết quả cho thấy ở trẻ gái dậy thì sớm, chỉ số IK tăng cao rõ rệt hơn chỉ số IE, song song
với sự gia tăng nồng độ các hormon hướng sinh dục và estrogen máu [135]. 4.1.2.3. Chỉ số estrogen IE theo giai đoạn tuyến vú

không có vai trò quyết định trong khởi phát dậy thì và thay đổi các chỉ số niệu bào như đã phân tích
ở phần trên.
4.1.3.2. Chỉ số IK và IE theo giai đoạn lông mu
Bảng 3.5. cho thấy các giá trị của chỉ số nhân đông IK tăng cao theo giai đoạn lông mu (p
< 0,05).
Tương tự như trong giai đoạn phát triển tuyến vú, các giá trị của chỉ
số IE tăng cao rõ từ
giai đoạn P1 đến P3, sau đó giảm dần từ giai đoạn P4 đến P5. Tuy nhiên không có sự khác biệt có ý
nghĩa ( p > 0,05) của chỉ số IE giai đoạn P4 và P5.
Như phần trên đã nhận xét, khi tuyến vú ở trẻ gái đã phát triển hoàn chỉnh từ giai đoạn B4
đến giai đoạn trưởng thành B5, thì các giai đoạn phát triển lông mu tiếp tục phát triển. Cuối thời kỳ
dậy thì, các
đặc tính sinh dục có thể phát triển ở các giai đoạn tương đương nhau. Trẻ gái dậy thì có
thể có biểu hiện tuyến vú và lông mu cùng giai đoạn, như giai đoạn B4P4 và B5P5.

12
Do các biến đổi của chỉ số IK và IE phụ thuộc vào hoạt động của hormon estrogen nên có
cùng xu thế tiến triển theo lông mu trong tiến trình dậy thì bình thường. 4.1.4. Các biến đổi của niệu bào đồ trong chu kỳ kinh nguyệt
Bảng 3.7. cho thấy các thay đổi của chỉ số trưởng thành IM ( B/I/S ) tế bào bề mặt cao - S
tăng vọt từ 68,3% đến 100% giữa chu kỳ kinh nguyệt, giai đoạn rụng trứng . Lencionie mô tả các
thay đổi của ni
ệu bào đồ trong chu kỳ kinh nguyệt của nữ giới, tương tự như các biến đổi của phiến
đồ âm đạo [78], [133].
Theo Robine khi các kết quả niệu bào đồ lập lại nhiều lần ở thiếu nữ chậm kinh tiên phát
hay thứ phát cho thấy dạng nghèo tế bào, cần có thăm khám nội tiết - thần kinh toàn diện [137].
Như vậy, niệu bào đồ tỏ ra có giá trị trong định hướng chẩn đoán phân biệt d
ậy thì muộn có

lông mu phát triển sớm. Niệu bào đồ còn giúp chẩn đoán dậy thì sớm, dậy thì muộn, các rối loạn
kinh nguyệt tiên phát hay thứ phát, và giám sát theo dõi điều trị. Do đó, niệu bào đồ có một vị trí
nhất định trong bilan thăm dò hormon sinh dục của trẻ gái.
4.2.2. Tương quan các giá trị chẩn đoán của các phương pháp
Ch
ỉ số IK của niệu bào đồ có tương quan thuận rất chặt chẽ với chỉ số IE, lớp tế bào S của
niệu bào đồ, với p < 0,001. Các giá trị của chỉ số IK tương quan chặt chẽ với các giá trị của chiều

13
cao tử cung, nồng độ hormon FSH, LH, E2. Các nghiên cứu về giá trị chẩn đoán dậy thì sớm của
các chỉ số niệu bào đồ với các phương pháp siêu âm và thăm dò hormone [9], [41], [125] cũng tìm
thấy tương quan R chặt chẽ của các chỉ số với nhau. Như vậy, chỉ số IK, chỉ số IE của niệu bào đồ
trong tiến trình dậy thì được biến đổi cùng phương thức như các giá trị của các phương pháp xét
nghiệm khác. Do
đó, niệu bào đồ có tính giá trị và tin cậy cao để chẩn đoán dậy thì tương đương
như các phương pháp đang sử dụng khác là siêu âm tử cung – buồng trứng và định lượng hormon
sinh dục FSH-LH-E2 huyết tương.


đoán dậy thì của niệu bào đồ và các phương pháp nghiên cứu
- Giá trị chẩn đoán dậy thì của chỉ số IK với nồng độ hormon LH, hormon Estradiol huyết tương, và
chiều cao tử cung trên siêu âm tương đương nhau. Diện tích dưới ROC của các chỉ số không có sự khác
biệt có ý nghĩa, p > 0,05.
- Chỉ số IK của niệu bào được biến đổi cùng phương thức như nồng độ hormon LH, hormon
Estradiol huyết tương và chiều cao tử cung trong chẩn
đoán dậy thì : tương quan R (Rho
Spearman’s) thuận chặt chẽ, R ≥ 0,7.
15
KIẾN NGHỊ

Sau khi nghiên cứu kỹ thuận niệu bào đồ và thực hiện đề tài này, tôi có kiến nghị sau:
Đào tạo huấn luyện kỹ thuật viên thực hiện, trang bị các thiết bị cần thiết triển khai rộng rãi
kỹ thuật niệu bào đồ. Niệu bào đồ là kỹ thuật thích nghi thích cần được sử dụng như xét nghiệm
sàng lọc trong các cơ sở Y tế phục vụ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status