ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
LẠI THỊ YẾN
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP SẢN XUẤT
VẬT LIỆU XÂY DỰNG THEO HƢỚNG BỀN VỮNG
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNH
Chuyên ngành
:
KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Mã số
:
60 31 01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN THÙY ANH
HÀ NỘI - 2014
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình do chính tôi nghiên
cứu và soạn thảo. Tôi không sao chép từ bất kỳ một bài viết nào đã được công
bố mà không trích dẫn nguồn gốc. Nếu có bất kỳ một sự vi phạm nào, tôi xin
chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Một lần nữa, tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam kết trên.
Hà Nội, tháng….năm 2014
Tác giả luận văn Lại Thị Yến MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ ii
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Tình hình nghiên cứu 6
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 11
4. Đối tượng, phạm vi và câu hỏi nghiên cứu 12
5. Phương pháp nghiên cứu 13
6. Đóng góp của đề tài 14
7. Bố cục của luận văn 15
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT
TRIỂN CÔNG NGHIỆP SẢN XUẤT VẬT LIỆU XÂY DỰNG THEO
HƢỚNG BỀN VỮNG 16
1.1. Khái niệm và vai trò của phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu xây
2.1.4. Cơ chế, chính sách của tỉnh Ninh Bình cho phát triển công nghiệp
sản xuất vật liệu xây dựng theo hướng bền vững 50
2.2. Thực trạng phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng theo
hướng bền vững ở tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2002- 2012. 52
2.2.1. Thực trạng phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng theo
hướng bền vững về kinh tế. 52
2.2.2. Thực trạng phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng theo
hướng bền vững về môi trường 59
2.2.3. Thực trạng phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng theo
hướng bền vững về xã hội 64
2.2.4. Những vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển công nghiệp sản xuất
vật liệu xây dựng ở tỉnh Ninh Bình 68
CHƢƠNG 3: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÔNG
NGHIỆP SẢN XUẤT VẬT LIỆU XÂY DỰNG THEO HƢỚNG BỀN
VỮNG Ở TỈNH NINH BÌNH 72
3.1. Quan điểm, định hướng chiến lược cho phát triển công nghiệp sản xuất
vật liệu xây dựng theo hướng bền vững ở tỉnh Ninh Bình 72
3.1.1. Định hướng tổng quát 72
3.1.2. Mục tiêu 73
3.1.3. Nguyên tắc 74
3.1.4. Lĩnh vực ưu tiên phát triển 76
3.2. Các giải pháp chủ yếu để phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu xây
dựng trên địa bàn tỉnh Ninh Bình theo hướng bền vững 76
3.2.1. Tái cấu trúc doanh nghiệp xi măng 76
3.2.2. Nâng cao hiệu quả quy hoạch ngành 79
3.2.3. Thực hiện chính sách phòng ngừa, bảo vệ môi trường trong công
nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng và phát triển công nghiệp sản xuất vật
liệu xây dựng thân thiện môi trường 79
3.2.4. Nâng cao vai trò quản lý nhà nước, có chính sách hỗ trợ các doanh
Phát triển bền vững công nghiệp
7
TTCN
Tiểu thủ công nghiệp
8
UBND
Ủy ban nhân dân
9
VLXD
Vật liệu xây dựng
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Từ sự phát triển đến phát triển bền vững 19
Bảng 2.1: Giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn phân theo thành phần
kinh tế 54
Bảng 2.2: Lao động trên địa bàn tỉnh đang làm việc trong ngành công nghiệp 67 DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu vốn đầu tư thực hiện theo giá thực tế phân theo ngành
kinh tế - (%) 58 1
được xem xét một cách có hệ thống và cụ thể hoá để có thể triển khai thực
hiện, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghiệp - lĩnh vực có ảnh hưởng quyết
định đến sự PTBV của một quốc gia.
Vật liệu xây dựng được coi là cầu nối của ngành công nghiệp-xây
dựng. Sản xuất vật liệu xây dựng hiện có một số vấn đề cần quan tâm.
Vấn đề thứ nhất, là tốc độ tăng của vật liệu xây dựng (VLXD) nhìn
chung cao hơn tốc độ tăng giá trị sản xuất của ngành Xây dựng. Theo đó, chỉ
trừ một vài loại VLXD tăng thấp do không còn phù hợp hoặc đã được thay
thế bằng một loại vật liệu khác, còn đều tăng cao hơn tốc độ tăng giá trị sản
xuất ngành Xây dựng. Tốc độ tăng của sản xuất VLXD đã đáp ứng được nhu
cầu xây dựng ở trong nước và có một phần được dùng để xuất khẩu. Chủng
loại, mẫu mã VLXD đã đa dạng, phong phú hơn, đẹp hơn; chất lượng một số
loại đã được nâng lên. Tuy nhiên, cũng có lúc sản xuất đã vượt nhu cầu, khối
lượng nhập khẩu một số loại VLXD cũng còn lớn, nhất là một số vật liệu cơ
bản như sắt, thép, gạch lát, đồ nội thất và thị trường bất động sản đóng băng
kéo dài, đã làm cho cung vượt cầu, nên lượng tiêu thụ VLXD bị giảm, làm
cho lượng sản phẩm sản xuất một vài năm nay bị sụt giảm theo. Cụ thể: gạch
nung năm 2011 giảm 1,6%; thép cán năm 2011 giảm 3,9%, năm 2012 giảm
5,5%; xi măng năm 2012 giảm 3,1%.
Vấn đề thứ hai, hầu hết các doanh nghiệp không khai thác hết năng lực
sản xuất, tỷ lệ sử dụng công suất thấp. Theo Tiến sĩ Trần Văn Huynh, Chủ
tịch Hội VLXD Việt Nam, tỷ lệ sử dụng công suất của kính xây dựng chỉ đạt
dưới 50%, vật liệu không nung dưới 55%, gốm sứ dưới 70%, xi măng dưới
80% Trong khi một số cơ sở sản xuất VLXD chưa sử dụng hết công suất thì
một số cơ sở mới ra đời chẳng những sản xuất gặp khó khăn, mà còn bị nặng
nợ bởi vốn đầu tư xây dựng…
3
Vấn đề thứ ba liên quan đến quy mô và thiết bị công nghệ. Bên cạnh
một số nhà máy có quy mô lớn, thiết bị công nghệ tiên tiến, thì phần lớn các
triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp theo hướng tập trung vào những sản
phẩm có ưu thế cạnh tranh và truyền thống của địa phương. Giai đoạn trước
mắt xác định sản xuất vật liệu xây dựng là mũi nhọn. Trong đó xi măng, thép
là sản phẩm chủ yếu.
Hơn thế nữa với điều kiện tự nhiên sẵn có của tỉnh Ninh Bình là một
tỉnh nằm ở cực Nam đồng bằng Bắc bộ, 190 50’ đến 200 27’ độ Vĩ Bắc,
105032’ đến 106027’ độ Kinh Đông. Dãy núi Tam Điệp chạy theo hướng Tây
Bắc - Đông Nam, làm ranh rới tự nhiên giữa hai tỉnh Ninh Bình và Thanh
Hoá. Phía Đông và Đông Bắc có sông Đáy bao quanh, giáp với hai tỉnh Hà
Nam và Nam Định, phía Bắc giáp tỉnh Hoà Bình, phía Nam là biển Đông.
Quốc lộ 1A, Quốc lộ 10 và đường sắt Bắc Nam chạy xuyên qua tỉnh. Tỉnh
Ninh Bình có nhiều lợi thế so sánh về vị trí địa lý, khí hậu thuận lợi, tài
nguyên khoáng sản, tài nguyên rừng đa dạng phong phú, nguồn nhân lực dồi
dào, chất lượng cao để Phát triển một nền kinh tế đa dạng theo hướng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Tại kế hoạch số 19/KH - UBND của UBND tỉnh Ninh Bình ngày 26
tháng 7 năm 2011 về phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015 tỉnh Ninh
Bình, đã đánh giá kết quả phát triển kinh tế của tỉnh Ninh Bình 5 năm 2006-
2010. Trong đó cơ cấu kinh tế (theo GDP hiện hành) của ngành công nghiệp -
xây dựng của tỉnh Ninh Bình đã có sự thay đổi nhanh chóng. Cụ thể, giai
đoạn 2001- 2005 là 38,3%. Giai đoạn 2006-2010 đã là 47,7%. Tốc độ tăng
trưởng GDP bình quân 5 năm đạt 16,5%, vượt kế hoạch. Hai năm đầu thực
hiện (2006, 2007), nền kinh tế tiếp tục đà phát triển với tốc độ tăng trưởng
5
GDP lần lượt là 17,26% và 14,9% [13, tr.45]. Năm 2008 tăng vọt lên 18,9%
là do một số nhà máy xi măng lớn đã hoàn thành xây dựng và đi vào hoạt
động. Năm 2009, do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu và suy
giảm kinh tế trong nước, tốc độ tăng trưởng GDP chỉ đạt 15,4%. Năm 2010,
kinh tế địa phương dần lấy lại đà tăng trưởng và tốc độ tăng GDP đạt 16,04%.
liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh Ninh Bình theo hướng bền vững ” đã được lựa
chọn nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu
Vấn đề phát triển bền vững công nghiệp đã được nghiên cứu, phát triển
trong một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước:
2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
(1) Hội đồng thế giới về môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc
(WCED) trong báo cáo “Tương lai của chúng ta” (Our common future) đưa ra
năm 1987, đã phân tích các nguy cơ và thách thức đe doạ sự PTBV của các
quốc gia trên thế giới. Trong đó, quan trọng nhất phải kể đến khái niệm về
PTBV là “sự đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không gây trở ngại cho
các thế hệ mai sau” đang được sử dụng rộng rãi hiện nay.
(2) Peter P. Rogers, Kazi F. Jalal và John A. Boyd trong cuốn “Giới
thiệu về Phát triển bền vững” (An Introduction to Sustainable Development)
xuất bản năm 2007 đã giới thiệu những kiến thức cơ sở về PTBV, trong đó đã
tập trung phân tích những vấn đề đo lường và chỉ số đánh giá tính bền vững;
vấn đề đánh giá, quản lý và chính sách đối với môi trường; cách tiếp cận và
mối liên kết với giảm nghèo; những ảnh hưởng và Phát triển cơ sở hạ tầng;
các vấn đề về kinh tế, sản xuất, tiêu dùng, những trục trặc của thị trường và về
vai trò của Xã hội dân sự.
7
(3) John Blewitt trong cuốn “Tìm hiểu về Phát triển bền vững”
(Understanding Sustainable Development) xuất bản năm 2008 cũng đóng
góp một phần quan trọng vào lý thuyết về PTBV, trong đó phải kể đến
những phân tích về mối Quan hệ giữa Xã hội và môi trường, PTBV và điều
hành của Chính phủ; các công cụ, hệ thống để PTBV, phác thảo về một Xã
hội bền vững.
(4) Simon Dresner trong cuốn “Các nguyên tắc của Phát triển bền
vững” (The Principles of Sustainability) xuất bản năm 2008 đã tổng hợp và
(MPI) chủ trì thực hiện với sự tham gia của các bộ, ngành, địa phương và sự
hỗ trợ hợp tác của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP), Cơ quan
Phát triển Quốc tế Đan Mạch (DANIDA), Cơ quan Phát triển quốc tế Thuỵ
Điển (SIDA), gồm 4 hợp phần chính trong đó có hợp phần nghiên cứu chính
sách PTBV. Nghiên cứu này (được thực hiện bởi nhiều nhà nghiên cứu trong
các lĩnh vực khác nhau) đã hệ thống, phân tích và cụ thể hoá chính sách
PTBV vào điều kiện cụ thể của Việt Nam trên các lĩnh vực: nông, lâm nghiệp,
thuỷ sản; Phát triển các KCN; chính sách Phát triển công nghiệp; chính sách
năng lượng; chính sách đô thị hoá; chính sách khuyến khích đầu tư trực tiếp
nước ngoài; tổng kết các mô hình PTBV. Về chính sách công nghiệp, các tác
giả - PGS.TS Phan Đăng Tuất và Lê Minh Đức (2006) trong tài liệu “Chính
sách công nghiệp theo định hướng Phát triển bền vững ở Việt Nam” trên cơ
sở đánh giá tổng quan các chính sách Phát triển công nghiệp thời kỳ 1986-
2005 đã phân tích các chính sách Phát triển công nghiệp dưới góc độ PTBV
trên ba khía cạnh: kinh tế, xã hội, môi trường từ đó đề xuất các chính sách
Phát triển bền vững công nghiệp của Việt Nam.
Tại Hội nghị thường niên, Ban Chấp hành Trung ương Hội Vật liệu xây
dựng Việt Nam đã thống nhất gửi đến Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng Bộ
9
Xây dựng (công văn số 13/HVLXDVN, ngày 20/2/2013) một số kiến nghị và
giải pháp nhằm tạo điều kiện cho Ngành Công nghiệp Vật liệu xây dựng Việt
Nam phát triển bền vững. Đây cũng chỉ là một số đề xuất mang tính chất giải
quyết vấn đề khó khăn của ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng cho
các doanh nghiệp của cả nước trong thời điểm khủng hoảng kinh tế chứ
không phải là vấn đề nghiên cứu mang tính chất khoa học.
Các tỉnh Vĩnh Phúc, Bắc Ninh cũng đã có các đề tài nghiên cứu về phát
triển công nghiệp bền vững. Các tác giả đã vận dụng lý luận về phát triển bền
vững và công nghiệp, kết hợp với thực tiễn tình hình công nghiệp địa phương
chi tiết theo từng vấn về khu công nghiệp, bảo vệ môi trường để đưa ra giải
phối hợp với Sở Tài chính và các đơn vị có liên quan triển khai nhằm phát
triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và làng nghề tỉnh Ninh Bình; Quy
hoạch khu, cụm điểm công nghiệp tỉnh Ninh Bình. Đây là các nghiên cứu khá
cơ bản, có hệ thống về công nghiệp Ninh Bình, nghiên cứu này bước đầu đã
phân tích được tiềm năng, nguồn lực và hiện trạng công nghiệp Ninh Bình,
phác thảo quy hoạch công nghiệp Ninh Bình đến năm 2015 và đang xây dựng
quy hoạch phát triển công nghiệp của tỉnh đến năm 2020. Tuy nhiên, cách
tiếp cận của các nghiên cứu này nhằm mục tiêu chính là phác thảo quy
hoạch công nghiệp Ninh Bình mà chưa đặt sự quan tâm thích đáng đến các
vấn đề về chính sách Phát triển công nghiệp, trong đó có công nghiệp sản
xuất vật liệu xây dựng và các vấn đề có liên quan về xã hội, môi trường.
Tổng quát hơn là vấn đề Phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng
theo hướng bền vững.
11
Tuy nhiên, những tài liệu trên của tỉnh Ninh Bình mới chỉ dừng lại ở
việc xác định một khung pháp lý nhằm hướng tới PTBV cho các chính sách
Phát triển kinh tế - Xã hội của tỉnh Ninh Bình, chưa đặt trọng tâm vào việc
nghiên cứu vấn đề Phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu trên địa bàn tỉnh
Ninh Bình theo hướng bền vững.
Qua khảo sát các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước,
điều dễ nhận thấy là cho tới thời điểm này chưa có một công trình nghiên cứu
nào bàn về vấn đề phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng trên địa
bàn tỉnh Ninh Bình theo hướng bền vững, do đó đề tài sẽ đi sâu nghiên cứu
vấn đề này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
+ Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở phân tích, đánh giá
thực trạng phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng theo hướng bền
vững trên địa bàn tỉnh Ninh Bình để đề xuất các giải pháp nhằm phát triển
doanh nghiệp và cộng đồng dân cư, nên các giải pháp để phát triển công
nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng theo hướng bền vững là hết sức đa dạng và
được xem xét trên nhiều góc độ khác nhau. Trong nghiên cứu này, luận văn
tập trung và giới hạn ở việc đề xuất các giải pháp về chính sách của các cơ
quan quản lý nhà nước nhằm phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu trên địa
bàn tỉnh Ninh Bình theo hướng bền vững. Bởi lẽ trong giai đoạn đầu của quá
trình CNH, HĐH và Phát triển kinh tế như của chúng ta hiện nay, thì các giải
pháp về chính sách có vai trò hết sức quan trọng, nhằm thiết lập một khuôn
13
khổ pháp lý, định hướng chính sách và hình thành quỹ đạo hoạt động vì mục
tiêu PTBV cho toàn xã hội.
- Về mặt thời gian: luận văn tập trung nghiên cứu tình hình phát triển
công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh Ninh Bình trong giai
đoạn 2002-2012. Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển công nghiệp sản xuất
vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh Ninh Bình theo hướng bền vững đến năm
2020 và có tính đến 2050.
- Câu hỏi nghiên cứu:
Câu 1: Nội dung và vai trò của phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu
xây dựng theo hướng bền vững là như thế nào ?
Câu 2: Tình hình phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng theo
hướng bền vững trong giai đoạn 2002- 2012 ở tỉnh Ninh Bình như thế nào ?
Câu 3: Để phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng trên địa
bàn tỉnh Ninh Bình theo hướng bền vững nói riêng và cả nước nói chung, cần
có những giải pháp gì ở cấp địa phương và cấp Trung ương ?
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Tiếp cận những lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí
Minh, sử dụng các phương pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị làm cơ sở,
kết hợp sử dụng các phương pháp tiếp cận hệ thống, tiếp cận lịch sử và các
phương pháp so sánh, minh họa để thực hiện đề tài:
rút ra những đánh giá tổng quát về khiếm khuyết, bất cập trong việc phát triển
công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng theo hướng bền vững trên địa bàn tỉnh
Ninh Bình.
Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu
xây dựng trên địa bàn tỉnh Ninh Bình theo hướng bền vững. 15
7. Bố cục của luận văn
Luận văn bao gồm phần mở đầu, nội dung, kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo, danh mục bảng biểu.
Trong phần nội dung, chia làm 3 chương, 9 tiết:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển công nghiệp
sản xuất vật liệu xây dựng theo hướng bền vững.
Chương 2: Thực trạng phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu xây
dựng theo hướng bền vững trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển công nghiệp sản xuất
vật liệu xây dựng theo hướng bền vững ở tỉnh Ninh Bình. 16
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP SẢN XUẤT VẬT LIỆU XÂY DỰNG
THEO HƢỚNG BỀN VỮNG
1.1. Khái niệm và vai trò của phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu xây
dựng theo hƣớng bền vững
1.1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Khái niệm vật liệu xây dựng
Thuật ngữ "phát triển bền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980
trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn
Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn
giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh
tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến
môi trường sinh thái học".
Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo
Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của Ủy ban Môi trường
và Phát triển Thế giới - WCED (nay là Ủy ban Brundtland). Báo cáo này ghi
rõ: Phát triển bền vững là "sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu
hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu
của các thế hệ tương lai ". Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm
có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo
vệ, gìn giữ. Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà
cầm quyền, các tổ chức xã hội phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích
dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội - môi trường.