ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
o0o
NGUYỄN DUY DUÂN
ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI
TẠI TỈNH BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN TRỌNG XUÂN
Hà Nội - Năm 2015
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU ii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ ii
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 6
3.1. Mục đích nghiên cứu 6
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 6
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 6
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu 6
4.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài 6
5. Phƣơng pháp nghiên cứu 7
6. Kết cấu Luận văn 8
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP
NƢỚC NGOÀI 9
1.1. Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài và dự án đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài 9
1.1.1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài 9
1.1.1.1. Khái niệm 9
1.1.1.2. Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài 10
1.1.1.3. Các hình thức của đầu tư trực tiếp nước ngoài 14
2.2.1. Thực trạng thu hút các dự án FDI 41
2.2.1.1. Quy mô và tốc độ thu hút dự án FDI 41
2.2.1.2. Cơ cấu dự án và vốn FDI theo ngành 45
2.2.1.3. Cơ cấu dự án và vốn FDI theo hình thức đầu tư 46
2.2.1.4. Cơ cấu dự án và vốn FDI theo đối tác 48
2.2.1.5. Cơ cấu dự án và vốn FDI theo địa bàn đầu tư: 49
2.2.2. Thực trạng triển khai thực hiện các dự án FDI 51
2.3. Đánh giá chung về hoạt động thu hút và triển khai thực hiện các
dự án đầu tƣ FDI vào tỉnh Bắc Giang 54
2.3.1. Những kết quả đạt được 54
2.3.2. Những hạn chế 62
2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế 65
Chƣơng 3: ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG THU
HÚT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI VÀO TỈNH BẮC GIANG 71
3.1. Bối cảnh kinh tế mới và định hƣớng tăng cƣờng thu hút FDI vào Bắc
Giang 71
3.1.1. Bối cảnh kinh tế mới ảnh hƣởng tới FDI vào Bắc Giang 71
3.1.2. Định hƣớng thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài 73
3.2. Giải pháp tăng cƣờng thu hút các dự án FDI vào tỉnh Bắc Giang 76
3.2.1. Nâng cao nhận thức và trình độ đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản
lý 77 3.2.2. Đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác vận động xúc tiến đầu tƣ 78
3.2.3. Làm tốt công tác quy hoạch, từng bƣớc hoàn thiện kết cấu hạ tầng các
khu công nghiệp, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh 80
3.2.4. Chú trọng đào tạo và cung ứng nguồn nhân lực 82
3.2.5. Tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa công tác cải cách thủ tục hành chính,
từng bƣớc cải thiện chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) 83
3.2.6. Nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý đầu tƣ trực tiếp
tác và phát triển kinh tế.
PCI: Provincial Competitiveness Index – Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh.
PPP: Public – Private – Partnership – Mô hình hợp tác công tƣ.
R&D: Research and Development – Nghiên cứu và phát triển.
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn.
UBND: Ủy ban nhân dân.
USD: Đô la Mỹ.
VĐK: Vốn đăng ký.
WTO: World Trade Organization – Tổ chức Thƣơng mại Thế giới.
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 1.1: Tình hình thu hút FDI của tỉnh Bắc Ninh từ 2001 đến 4/2014 27
Bảng 1.2: Tình hình thu hút FDI của tỉnh Hải Dƣơng từ 2001 đến tháng 4/2014. 29
Bảng 2.1. Tăng trƣởng kinh tế của Bắc Giang những năm gần đây. 37
Bảng 2.2: Thực trạng thu hút các dự án FDI của tỉnh Bắc Giang giai đoạn 41
1997- 4/2014. 41
Bảng 2.3: Cơ cấu dự án và vốn FDI theo ngành tỉnh Bắc Giang 45
từ 1997 đến 4/2014. 45
Bảng 2.4: Cơ cấu dự án và vốn FDI theo hình thức đầu tƣ tỉnh Bắc Giang 46
từ 1997 đến 4/2014. 46
Bảng 2.5: Cơ cấu dự án và vốn FDI theo đối tác tỉnh Bắc Giang 49
từ 1997 đến 4/2014. 49
Bảng 2.6: Cơ cấu dự án và vốn đăng ký phân theo địa bàn huyện, thành phố từ
1997 đến 4/2014. 50
Bảng 2.7: Cơ cấu dự án và vốn FDI tỉnh Bắc Giang theo địa bàn từ 50
1997 đến 4/2014. 50
Bảng 2.8: Thực trạng triển khai thực hiện các dự án FDI tỉnh Bắc giang từ 52
1997 đến tháng 4/2014. 52
Bảng 2.9: Thực trạng giải ngân vốn FDI tỉnh Bắc Giang giai đoạn 1997- 4/2014. 53
Phòng. Từ Bắc Giang có thể dễ dàng tới sân bay Nội Bài, cửa khẩu quốc tế Lạng
Sơn, cảng biển Hải Phòng và Quảng Ninh. Tuy vậy, kể từ khi tách tỉnh (ngày
01/01/1997) đến nay, Bắc Giang vẫn là tỉnh có xuất phát điểm thấp.
Thời gian qua, môi trƣờng đầu tƣ và kinh doanh của tỉnh Bắc Giang đã đƣợc
cải thiện đáng kể nên công tác vận động thu hút nguồn vốn FDI đã đạt đƣợc những
kết quả quan trọng. Trong giai đoạn 2006-2010, số vốn FDI đăng ký đạt trên 476
triệu USD, gấp 16,4 lần so với giai đoạn 2001-2005; giai đoạn 2011-4/2014 số vốn
FDI đăng ký đạt gần 1,6 tỷ USD, gấp 3,3 lần so với giai đoạn 2006-2010. Góp phần
chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hƣớng tích cực, nông nghiệp giảm từ 49% 2
(năm 2006) xuống 26,4% (năm 2013); công nghiệp - xây dựng tăng từ 25% (năm
2006) lên 37,8% (năm 2013). Góp phần nâng cao kim ngạch xuất khẩu năm 2013
lên 1.655 triệu USD (gấp 18,8 lần so với năm 2006). Năm 2013, các dự án FDI
đóng góp ngân sách khoảng 195 tỷ đồng và sử dụng thƣờng xuyên khoảng 55.000
lao động.
Tuy nhiên, công tác vận động, thu hút nguồn vốn FDI còn nhiều hạn chế, chƣa
tƣơng xứng với tiềm năng, thế mạnh của tỉnh. So với các tỉnh lân cận có những điều
kiện tƣơng đồng nhƣ Hải Dƣơng, Bắc Ninh, số vốn FDI của Bắc Giang còn nhỏ,
hiệu quả các dự án chƣa cao. Một số dự án sử dụng diện tích đất lớn, công nghệ ở
mức trung bình khá, giá trị gia tăng thấp (các dự án sản xuất hàng may mặc xuất
khẩu). Công tác xúc tiến đầu tƣ chƣa chuyên nghiệp, chƣa xác định đƣợc ngành
trọng điểm, quốc gia mục tiêu. Việc xây dựng và quảng bá hình ảnh của địa phƣơng
chƣa bài bản. Còn thiếu một chiến lƣợc trong công tác vận động thu hút đầu tƣ.
Tháng 10 năm 2010, Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lần thứ XVII,
nhiệm kỳ 2010-2015 đã đặt ra mục tiêu tổng quát phấn đấu đƣa Bắc Giang vƣợt qua
tình trạng chậm phát triển trƣớc năm 2015, trở thành tỉnh trung bình khá trong khu
vực miền núi và trung du phía Bắc, phấn đấu đạt tốc độ tăng trƣởng tổng sản phẩm
nguyên nhân của tình hình là gì? Cần có những giải pháp gì để tăng cƣờng thu hút
nguồn vốn FDI ở Bắc Giang?
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài.
Đỗ Hoàng Long (2006) “Tác động của toàn cầu hoá kinh tế đối với dòng vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam” - Luận án tiến sỹ kinh tế, Trƣờng Đại
học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội. Đề tài nghiên cứu tiến trình toàn cầu hoá kinh tế và
tác động của tiến trình này đối với sự vận động của dòng vốn FDI trên thế giới và
Việt Nam; với phạm vi những tác động của toàn cầu hoá kinh tế đối với giá trị và cơ
cấu của dòng vốn FDI vào Việt Nam trong khoảng thời gian từ giữa thập kỷ 1980
tới cuối năm 2006. Đề tài đã hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn của tiến trình
toàn cầu hoá kinh tế và khẳng định toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan,
vừa có tính hệ thống, kế thừa, vừa có tính đột biến của nền kinh tế thế giới. Phân
tích tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam và cơ hội đối với Việt Nam 4
trong việc tiếp cận với thị trƣờng vốn quốc tế, trong đó có nguồn vốn FDI; phân tích
tác động của toàn cầu hoá kinh tế đối với việc cải thiện môi trƣờng thu hút vốn FDI
của Việt Nam, đối với giá trị và cơ cấu FDI vào Việt Nam qua các kênh môi trƣờng
đầu tƣ, thị trƣờng và các yếu tố nguồn lực sản xuất; phân tích một số bất cập trong
quá trình thu hút FDI của Việt Nam, trong đó nhấn mạnh việc Việt Nam đã chƣa
thành công trong việc sử dụng các yếu tố nội lực để thu hút và định hƣớng dòng
FDI vào những lĩnh vực mong muốn và để phát huy đƣợc lợi thế so sánh của mình;
trên cơ sở các phân tích về tác động của toàn cầu hoá kinh tế đối với sự vận động
của dòng FDI vào Việt Nam trong thời gian qua và một số dự báo về xu hƣớng vận
động của dòng FDI trên thế giới thời gian tới, Luận án gợi ý một số giải pháp nhằm
đẩy mạnh công tác thu hút FDI vào Việt Nam thông qua cải thiện môi trƣờng đầu
tƣ, thị trƣờng và nguồn lực sản xuất.
Công trình của Nguyễn Đăng Liệu có đề cập đến vấn đề thu hút vốn FDI tại
tỉnh Bắc Giang, công trình này mới chỉ nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về
KCN, thu hút vốn đầu tƣ phát triển các KCN và thực trạng thu hút vốn đầu tƣ phát
triển các KCN của tỉnh Bắc Giang, qua đó đề xuất những giải pháp nhằm thu hút
vốn đầu tƣ phát triển các KCN trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, nhƣng đề tài chƣa đi
sâu, tập trung nghiên cứu có hệ thống về hoạt động thu hút, triển khai các vốn FDI
vào tỉnh Bắc Giang để làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hƣớng tới nền công nghiệp
sử dụng công nghệ hiện đại, góp phần nâng cao vị thế của tỉnh và thời gian nghiên
cứu chỉ đến năm 2006, trƣớc khi Việt Nam gia nhập WTO.
Nhƣ vậy, các công trình nghiên cứu trên đây đã đề cập đến vấn đề thu hút
vốn FDI tại một số địa phƣơng nói riêng, vào các KCN của cả nƣớc nói chung,
nghiên cứu tác động của toàn cầu hoá kinh tế đối với dòng vốn FDI vào Việt Nam,
hay tìm ra những nguyên nhân từ phía Nhà nƣớc cản trở hoạt động triển khai các dự
án FDI tại Việt Nam. Tuy nhiên, cho đến nay chƣa có công trình nào nghiên cứu
một cách đầy đủ, toàn diện và cập nhật về thực trạng hoạt động thu hút, triển khai
các dự án FDI tại tỉnh Bắc Giang. Do vậy, việc tìm ra các giải pháp nhằm tăng
cƣờng thu hút, triển khai các dự án FDI tại tỉnh Bắc Giang sẽ đƣợc đề cập trong
Luận văn này là hết sức cần thiết, đáp ứng đƣợc yêu cầu của thực tiễn đặt ra.
6
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là: Từ việc hệ thống hoá lý luận cơ bản và
kinh nghiệm thực tiễn về FDI, Luận văn phân tích, đánh giá đúng thực trạng hoạt
động thu hút và triển khai các dự án FDI trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, qua đó đề
xuất một số giải pháp tháo gỡ khó khăn, vƣớng mắc nhằm giúp tỉnh Bắc Giang tăng
cƣờng thu hút và triển khai có hiệu quả các dự án đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào
biệt, tác giả Luận văn có sử dụng phƣơng pháp điều tra, khảo sát thực tế trong
nghiên cứu một số nội dung của đề tài.
Phương pháp logic – lịch sử
Phƣơng pháp lô gích đƣợc sử dụng để trình bày những nguyên lý cơ bản về
FDI và dự án FDI. Phƣơng pháp lịch sử đƣợc sử dụng để nghiên cứu kinh nghiệm
thu hút FDI tại một số địa phƣơng. Sử dụng kết hợp phƣơng pháp lô gích và phƣơng
pháp lịch sử đƣợc thể hiện tập trung nhất trong cấu trúc toàn bộ Luận văn.
Phương pháp thống kê
Phƣơng pháp thống kê đƣợc sử dụng phổ biến trong Chƣơng 2. Các bảng số
liệu qua các năm của Ban quản lý các KCN tỉnh Bắc Giang, của Sở Kế hoạch và
Đầu tƣ Bắc Giang, của UBND tỉnh Bắc Giang, đã đƣợc thống kê nhằm cung cấp
tƣ liệu cho việc phân tích, so sánh trong các nội dung phân tích hoạt động thu hút và
triển khai các dự án FDI ở tỉnh Bắc Giang.
Phương pháp phân tích - tổng hợp
Phƣơng pháp phân tích - tổng hợp đƣợc sử dụng trong toàn bộ Luận văn. Tuy
nhiên, phƣơng pháp này đƣợc sử dụng chủ yếu trong Chƣơng 2 - Phân tích và đánh
giá thực trạng hoạt động thu hút và triển khai các dự án FDI ở tỉnh Bắc Giang. Từ
các thông tin đƣợc thu thập, tiến hành phân tích các nội dung và đánh giá những kết
quả đạt đƣợc, những hạn chế và nguyên nhân của tình hình tại tỉnh Bắc Giang.
Trong Luận văn, tác giả sử dụng các công cụ phân tích kinh tế nhƣ: dãy số
liệu, biểu đồ, để minh họa một số nội dung.
Nguồn dữ liệu sử dụng trong đề tài đƣợc lấy từ Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ,
UBND tỉnh Bắc Giang, Sở Kế hoạch và Đầu tƣ Bắc Giang, Ban Quản lý các KCN
tỉnh Bắc Giang, các bài nghiên cứu và sách chuyên khảo đã đƣợc công bố.
8
6. Kết cấu Luận văn
1
)
Theo khái niệm của IMF đƣa ra năm 1977 (trong báo cáo cán cân thanh
toán hàng năm): Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là quá trình mà nhà đầu tƣ thực hiện
công việc đầu tƣ kinh doanh hoạt động ở nền kinh tế khác với nền kinh tế ở đất
nƣớc mình nhằm thu về những lợi ích lâu dài. Mục đích của nhà đầu tƣ là giành
đƣợc tiếng nói có hiệu quả trong việc quản lý doanh nghiệp.
Luật Đầu tƣ năm 2005 của Việt Nam (khoản 2, Điều 3) thì đầu tƣ trực tiếp
nƣớc ngoài là hình thức đầu tƣ do nhà đầu tƣ nƣớc ngoài bỏ vốn đầu tƣ và tham
gia quản lý hoạt động đầu tƣ. Trong đó, nhà đầu tƣ nƣớc ngoài là tổ chức kinh tế,
cá nhân nƣớc ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động động đầu tƣ tại Việt Nam;
vốn đầu tƣ đƣợc hiểu là tiền và các tài sản hợp pháp khác để thực hiện các hoạt
động đầu tƣ. 10
Nhƣ vậy, từ những khái niệm trên, có thể đƣa ra một khái niệm dễ tiếp cận
hơn nhƣ sau: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hoạt động đầu tư do các tổ chức kinh
tế và cá nhân nước ngoài tự mình hoặc cùng với các tổ chức kinh tế của nước sở tại
bỏ vốn vào một đối tượng nhất định, trực tiếp quản lý và điều hành để thu lợi trong
kinh doanh. Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài thường được tiến hành thông
qua các dự án - gọi là dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Để thực hiện hoạt động đầu tƣ trực tiếp ở nƣớc ngoài, các nhà đầu tƣ có thể bỏ
vốn xây dựng, mua các cơ sở kinh doanh ở nƣớc ngoài để là chủ sở hữu toàn bộ,
Thứ ba, chủ sở hữu đầu tƣ có thể là ngƣời nƣớc ngoài, sở hữu 100% vốn hoặc
đồng chủ sở hữu vốn với một tỷ lệ nhất định đủ mức khống chế và trực tiếp tham
gia quản lý hoạt động của doanh nghiệp.
Tỷ lệ sở hữu vốn khống chế này từ 10% trở lên trong tổng số vốn của doanh
nghiệp tùy luật pháp mỗi nƣớc quy định. Đây là yếu tố quyết định đến tính chất trực
tiếp của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài trong việc đƣa ra các quyết định đầu tƣ và quản trị
doanh nghiệp. Chính vì có sự thay đổi cơ bản về hình thức sở hữu trong FDI nên
cần có thể chế bảo hộ quyền sở hữu của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài rõ ràng và chặt chẽ
thì mới tạo môi trƣờng đầu tƣ hấp dẫn. Việc bảo đảm tỷ lệ sở hữu ở mức khống chế
còn là cơ sở để các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài trở thành những chi
nhánh của các công ty ở nƣớc đầu tƣ. Đặc trƣng này là cơ sở để phân biệt sự khác
nhau giữa FDI với hoạt động thƣơng mại, gia công quốc tế.
Thứ tư, đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài chủ yếu do các công ty xuyên quốc gia
thực hiện, bởi chủ thể hoạt động đầu tƣ là tƣ nhân với mục tiêu cơ bản thu lợi nhuận
(trừ một số doanh nghiệp nhà nƣớc và một ít đầu tƣ của Chính phủ).
Hoạt động FDI diễn ra khi có thị trƣờng đầu tƣ có khả năng tạo lợi nhuận cao,
nghĩa là có chênh lệch về tỷ suất lợi nhuận của vốn và chi phí giữa nƣớc đầu tƣ và
nƣớc nhận đầu tƣ do lợi thế so sánh. Điều này phân biệt nguồn vốn FDI và nguồn
vốn ODA. Các khoản ODA của Chính phủ gắn với những cam kết và ràng buộc
chặt chẽ giữa nƣớc viện trợ và nƣớc nhận viện trợ, chịu sự chi phối đáng kể bởi
quan hệ chính trị giữa hai nƣớc. Các pháp nhân và thể nhân đầu tƣ ODA có thể gây
sức ép với nƣớc tiếp nhận phải có những điều chỉnh nhất định về chính sách, thể chế
và cả những vấn đề liên quan đến dân chủ, nhân quyền. ODA phần lớn là vốn vay
nên nếu không đƣợc sử dụng hiệu quả sẽ làm cho nƣớc nhận viện trợ trở thành con
nợ với gánh nặng nợ nần mà các thế hệ sau phải chịu trách nhiệm hoàn trả. Trong 12
khi đó, FDI ít có khả năng xảy ra tình trạng này vì chủ yếu là đầu tƣ do doanh
13
phiếu thƣờng hoặc quyền bỏ phiếu trong các doanh nghiệp FDI để cho các nhà đầu
tƣ có tiếng nói hay tham gia quản lý trong các doanh nghiệp FDI.
Việc điều hành và trực tiếp ra quyết định đầu tƣ là điều kiện để nhà đầu tƣ
thực hiện đƣợc chiến lƣợc kinh doanh của họ một cách chủ động và tối ƣu. Tuy
nhiên, trên thực tế thƣờng nảy sinh khoảng cách giữa mục tiêu thu hút vốn đầu tƣ
của Chính phủ với chiến lƣợc kinh doanh của nhà đầu tƣ, do mục tiêu của Chính
phủ và mục tiêu của nhà đầu tƣ tuy về cơ bản đã có nhiều điểm gặp nhau nhƣng
không phải là tất cả mà trên một số nội dung cụ thể cũng còn những điểm chƣa thật
giống nhau. Chẳng hạn, mục tiêu ƣu tiên hàng đầu của Chính phủ là việc làm và đẩy
mạnh xuất khẩu, trong khi một số nhà đầu tƣ chỉ coi trọng việc thu lợi nhuận tối đa
và chiếm lĩnh thị phần trong nƣớc. Chính phủ nƣớc tiếp nhận đầu tƣ muốn hƣớng
FDI vào các dự án kết cấu hạ tầng nhƣ đƣờng sá, sân bay, bến cảng, với lƣợng
vốn đầu tƣ rất lớn, tỷ suất lợi nhuận thấp và thời gian thu hồi vốn khá dài, trong khi
các nhà đầu tƣ thƣờng chú trọng các dự án có thời hạn đầu tƣ ngắn và tỷ lệ thu hồi
vốn cao, Đặc điểm này đòi hỏi chính phủ nƣớc tiếp nhận đầu tƣ chủ động quy
hoạch phát triển các ngành, các vùng và có các chính sách hấp dẫn phù hợp với
từng ngành, lĩnh vực để thu hút FDI.
Thứ sáu, xu hƣớng dịch chuyển FDI phổ biến là từ những nƣớc phát triển sang
các nƣớc đang phát triển.
FDI ban đầu do các công ty xuyên quốc gia của các nƣớc công nghiệp phát
triển đầu tƣ vào các nƣớc thuộc địa để khai thác nguyên liệu, thị trƣờng tiêu thụ và
nguồn lao động giá rẻ, Do đó, khái niệm FDI chủ yếu đƣợc sử dụng để chỉ sự vận
động của vốn từ các nƣớc chính quốc sang các nƣớc thuộc địa, từ các nƣớc công
nghiệp phát triển sang các nƣớc đang phát triển. Sau đó, xuất hiện các hoạt động
đầu tƣ lẫn nhau giữa các nƣớc phát triển với nhau và tiếp đó là dòng vốn di chuyển
từ các nƣớc đang phát triển ra nƣớc ngoài kể cả sang các nƣớc công nghiệp phát
triển để khai thác tính không hoàn hảo của thị trƣờng. Hai dòng vốn di chuyển vào
và ra này khác nhau về chiều hƣớng vận động và tác động của chúng đến nền kinh
thời gian nhất định; hết thời hạn kinh doanh, nhà đầu tƣ chuyển giao không bồi
hoàn công trình đó cho Nhà nƣớc Việt Nam.
15
1.1.2. Dự án đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
1.1.2.1. Khái niệm
Đầu tƣ là việc nhà đầu tƣ bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình
để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tƣ theo quy định của Luật Đầu tƣ
và các quy định của pháp luật có liên quan. Hoạt động đầu tƣ thƣờng đƣợc thực
hiện theo một chƣơng trình đã định sẵn (gọi là dự án đầu tƣ) trong khoảng thời gian
tƣơng đối dài để thu đƣợc lợi ích lớn hơn cho nhà đầu tƣ, cho xã hội. Dự án đầu tƣ
là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn vào một đối tƣợng nhất định, trên địa
bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định và giải trình kết quả thu đƣợc từ hoạt
động đầu tƣ. Việc các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài bỏ vốn vào đầu tƣ ở một quốc gia khác
thông qua một dự án đầu tƣ gọi là dự án đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài.
Nhƣ vậy: Dự án đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là những dự án đầu tƣ do các tổ
chức kinh tế và cá nhân ở nƣớc ngoài tự mình hoặc cùng với các tổ chức kinh tế
hoặc cá nhân ở nƣớc tiếp nhận đầu tƣ bỏ vốn đầu tƣ, trực tiếp quản lý và điều hành
để thu lợi trong kinh doanh.
1.1.2.2. Đặc trưng cơ bản của dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài
Ngoài những đặc điểm của một dự án đầu tƣ nói chung đó là hoạt động bỏ vốn
có tính lâu dài, luôn có chi phí và kết quả, là hoạt động mang nặng tính rủi ro, dự án
FDI có các đặc trƣng mang tính đặc thù:
Nhà đầu tƣ nƣớc ngoài trực tiếp tham gia hoặc tự mình quản lý, điều hành đối
tƣợng bỏ vốn; Các bên tham gia vào dự án FDI có quốc tịch khác nhau, sử dụng
nhiều ngôn ngữ khác nhau; dự án FDI chịu sự chi phối đồng thời của nhiều hệ thống
cấp Giấy CNĐT. Khoảng thời gian của giai đoạn này phụ thuộc vào nhiều yếu tố
nhƣ quy mô, tính chất của dự án, và đặc biệt là môi trƣờng đầu tƣ của nƣớc tiếp
nhận. Giai đoạn này quyết định thành công hay thất bại ở các giai đoạn sau của dự
án.
Giai đoạn triển khai thực hiện dự án FDI
Giai đoạn này tính từ khi dự án FDI đƣợc cấp Giấy CNĐT cho đến khi bàn
giao công trình để đƣa vào sản xuất kinh doanh. Trong giai đoạn này thì vấn đề thời
gian là quan trọng hơn cả, bởi 85-99,5% vốn đầu tƣ của dự án đƣợc chi ra nằm khê 17
đọng trong suốt thời gian thực hiện dự án, mà vốn không sinh lời, vì vậy, thời gian
càng kéo dài thì tổn thất càng lớn với nhà đầu tƣ.
Giai đoạn vận hành khai thác dự án FDI
Giai đoạn này tính từ khi dự án đƣợc bàn giao để đƣa vào sản xuất kinh doanh
chính thức cho đến khi thanh lý dự án. Đây chính là giai đoạn các doanh nghiệp có
vốn FDI hoạt động dƣới sự quản lý, điều hành của bộ máy quản trị doanh nghiệp,
giai đoạn này cũng rất quan trọng bởi nó tạo ra kết quả của dự án, nếu vận hành tốt
thì dự án đƣợc coi là có hiệu quả, từ đó sẽ giúp doanh nghiệp có thể mở rộng quy
mô dự án, ngƣợc lại thì có thể dự án phải thu hẹp quy mô, thậm chí giải thể.
Giai đoạn kết thúc hoạt động của dự án FDI
Việc kết thúc của dự án FDI xảy ra khi hết thời hạn hoạt động ghi trong Giấy
CNĐT mà các bên không muốn tiếp tục kéo dài thêm thời hạn hoạt động của dự án,
hoặc khi dự án FDI phải giải thể trƣớc thời hạn vì các lý do khác nhau.
1.1.3. Các nhân tố ảnh hƣởng tới FDI
1.1.3.1. Tình hình an ninh, chính trị - xã hội
Sự ổn định chính trị là yếu tố mà các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đặc biệt quan tâm
và yếu tố này thƣờng tỷ lệ thuận với lƣợng vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài. Sự ổn
định chính trị cho phép nhà đầu tƣ có thể dự đoán đƣợc những rủi ro có thể xảy ra
ngoài, gồm các yếu tố nhƣ: nhà kho, cầu cảng, sân bay, đƣờng xá, điện nƣớc, bƣu
chính viễn thông,…Nếu cơ sở hạ tầng của địa phƣơng hiện đại, đồng bộ thì sẽ tiết
kiệm chi phí đầu tƣ, tiết kiệm thời gian cho nhà đầu tƣ trong quá trình triển khai và
vận hành dự án.
1.1.3.5. Các yếu tố văn hoá xã hội
Các yếu tố văn hoá cũng ảnh hƣởng tới thu hút FDI vì nếu giữa bên chủ đầu tƣ
với bên nhận đầu tƣ có sự tƣơng đồng về văn hoá thì sẽ thuận lợi hơn trong quá
trình kinh doanh và vận hành dự án đầu tƣ có hiệu quả. Trong nhiều trƣờng hợp,
yếu tố văn hoá còn quyết định dự án có thể triển khai và đi vào hoạt động đƣợc hay
không. Chẳng hạn nhƣ một dự án đầu tƣ kinh doanh của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đầu
tƣ vào một lĩnh vực đƣợc cho là nhạy cảm ở nƣớc tiếp nhận đầu tƣ thì dự án đó sẽ
bị từ chối cấp phép, trong khi đó ở nƣớc họ lĩnh vực họ định đầu tƣ kinh doanh đó
không hề bị cấm.