i
LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Bắc Giang là một tỉnh thuộc vùng trung du miền núi phía Bắc, có nhiều tiềm
năng để phát triển kinh tế nhưng hạn chế về nguồn vốn đầu tư. Cùng với quá trình
công nghiệp hóa - hiện đại hóa nền kinh tế cả nước trong xu thế toàn cầu hóa và
quốc tế hóa, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong những nguồn lực
quan trọng và hữu hiệu nhằm khắc phục tình trạng thiếu vốn, công nghệ và kinh
nghiệm quản lý tiên tiến để phát triển kinh tế của tỉnh. Đến nay, thành phần kinh tế
có vốn đầu tư nước ngoài đã bước đầu chứng tỏ được vai trò của nó trong việc tạo
ra động lực thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển.
Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế khó khăn, ít kinh nghiệm trong thu hút và
triển khai các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài, trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt
với các tỉnh lân cận trong công tác này. Thực tế đó đã trở thành một trong những
thách thức đối với các nhà hoạch định chính sách và doanh nghiệp của tỉnh Bắc
Giang, là một vấn đề cấp thiết hiện nay. Vì vậy, đề tài: “Các dự án đầu tư trực tiếp
nước ngoài tại tỉnh Bắc Giang-Thực trạng và phương hướng phát triển” được tác
giả chọn để nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài là đánh giá thực trạng hoạt động thu hút và
triển khai các DA FDI trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, qua đó đề xuất một số giải pháp
tháo gỡ khó khăn, vướng mắc nhằm giúp tỉnh Bắc Giang tăng cường thu hút và
triển khai có hiệu quả các DA FDI vào địa bàn tỉnh.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động thu hút và triển khai các DA
FDI. Phạm vi nghiên cứu của đề tài là hoạt động thu hút và triển khai các DA FDI
trên địa bàn tỉnh Bắc Giang từ năm 1992 đến nay.
và cá nhân nước ngoài tự mình hoặc cùng với các tổ chức kinh tế của nước sở tại bỏ
vốn vào một đối tượng nhất định, trực tiếp quản lý và điều hành để thu lợi trong
kinh doanh.
1.1.1.2. Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài
FDI có những đặc trưng: Chủ đầu tư có quốc tịch nước ngoài; Nhà đầu tư
nước ngoài trực tiếp tham gia quản lý, điều hành các DA FDI; FDI thường được
thực hiện thông qua việc xây dựng doanh nghiệp mới, mua lại toàn bộ, một phần cơ
sở kinh doanh hoặc mua cổ phiếu để thôn tính hoặc sát nhập các doanh nghiệp lại;
FDI là hình thức đầu tư mà nhà đầu tư không dễ dàng rút vốn khỏi nước sở tại; FDI
không chỉ đơn thuần là vốn, mà kèm theo đó là công nghệ, kỹ thuật, phương thức
quản lý tiên tiến, những yếu tố này di chuyển ra khỏi biên giới quốc gia.
1.1.1.3. Các hình thức thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
Hoạt động thu hút FDI thường được thực hiện thông qua các hình thức sau:
Hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC); Doanh nghiệp liên doanh; Doanh nghiệp
100% vốn ĐTNN; Hợp đồng xây dựng - vận hành - chuyển giao (BOT), BTO,
BT…Tuy nhiên, phổ biến nhất với 2 hình thức: doanh nghiệp liên doanh và doanh
nghiệp 100% vốn ĐTNN.
1.1.2. Dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.2.1. Khái niệm dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài
iv
Việc các nhà ĐTNN bỏ vốn vào đầu tư ở một quốc gia khác thông qua một
DA đầu tư gọi là dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (DA FDI).
DA FDI là những dự án đầu tư do các tổ chức kinh tế và cá nhân ở nước
ngoài tự mình hoặc cùng với các tổ chức kinh tế hoặc cá nhân ở nước tiếp nhận đầu
tư bỏ vốn đầu tư, trực tiếp quản lý và điều hành để thu lợi trong kinh doanh.
1.1.2.2. Các đặc trưng cơ bản của dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài
DA FDI có các đặc trưng: Nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp tham gia hoặc tự
1.2.1.1. Xúc tiến đầu tư nước ngoài
Xúc tiến đầu tư nước ngoài bao gồm tất cả các hoạt động, biện pháp mà các
địa phương sử dụng để làm cho các nhà ĐTNN nắm bắt được các cơ hội đầu tư ở
địa phương, hiểu và tin tưởng vào môi trường đầu tư địa phương, trên cơ sở đó các
nhà ĐTNN sẽ quyết định đầu tư vào các hoạt động SXKD tại địa phương. Một số
biện pháp chủ yếu mà các địa phương có thể sử dụng là quảng cáo thông qua hội
chợ, triển lãm, tham gia các hội nghị XTĐT trong và ngoài nước, đưa ra những ưu
đãi đối với các DA FDI.
1.2.1.2. Thụ lý hồ sơ dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài
Sau khi các nhà ĐTNN quyết định đầu tư, họ sẽ trình bày ý định đầu tư bằng
văn bản để Ban QL các KCN hay Sở KH-ĐT tỉnh xem xét, nếu được các cơ quan
này chấp thuận thì họ sẽ được cung cấp mẫu đơn xin đăng ký cấp GCNĐT và các
hướng dẫn kèm theo. Luật Đầu tư 2005 quy định việc cấp GCNĐT được thực hiện
theo một trong hai quy trình: đăng ký cấp GCNĐT và thẩm định cấp GCNĐT.
1.2.1.3. Xét duyệt và cấp giấy phép hoạt động cho các dự án đầu tư trực tiếp
nước ngoài
Trong thời hạn 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở KHĐT lập báo cáo thẩm tra, trình UBND cấp tỉnh xem xét, quyết định và trong thời
hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo thẩm tra, UBND tỉnh quyết
định việc cấp GCNĐT. Đối với DA do Ban QL các KCN cấp GCNĐT, trong thời
hạn 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Ban QL các KCN tổng hợp
vi
ý kiến để quyết định cấp GCNĐT. Trường hợp nhà đầu tư không được chấp thuận,
cơ quan tiếp nhận hồ sơ DA đầu tư gửi thông báo bằng văn bản cho nhà đầu tư,
trong đó nêu rõ lý do. Trong thời hạn 07 ngày làm việc sau khi cấp GCNĐT, cơ
quan tiếp nhận hồ sơ DA đầu tư sao gửi GCNĐT đến các Bộ, Ngành liên quan.
1.2.1.4. Tổ chức hệ thống bộ máy quản lý Nhà nước đối với các dự án đầu tư
trực tiếp nước ngoài
Do đó mà tăng sức hấp dẫn của địa phương đối với các nhà đầu tư.
1.3.4. Trình độ phát triển kinh tế và quy mô thị trường
Đối với một địa phương, trình độ phát triển kinh tế và quy mô thị trường có
thể ảnh hưởng lớn đến khả năng mở rộng quy mô sản xuất, khả năng tìm đầu ra cho
doanh nghiệp. Do đó, nhà đầu tư hết sức quan tâm tới những địa phương có trình độ
phát triển kinh tế cao và quy mô thị trường lớn.
1.3.5. Con người và nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực của địa phương cần đáp ứng được yêu cầu lành nghề, có tác
phong công nghiệp chứ không phải lao động giản đơn, giá rẻ. Nếu đáp ứng được
điều này thì sẽ tạo được sức hấp dẫn lớn đối với nhà đầu tư, giúp nhà đầu tư nhanh
chóng đưa DA vào giai đoạn vận hành và vận hành có hiệu quả cao.
1.3.6. Đánh giá môi trường đầu tư của một địa phương
Để đánh giá môi trường đầu tư của các địa phương, người ta thường sử dụng
chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI). Chỉ số này được các nhà đầu tư sử dụng
làm nguồn thông tin tham khảo khi đưa ra các quyết định đầu tư và tác động đến các
sáng kiến, chính sách về đầu tư tại nhiều địa phương.
1.4. Sự cần thiết tăng cường thu hút các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
tỉnh Bắc Giang
1.4.1. Các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần bổ sung nguồn vốn đầu
tư cho tỉnh
Để thực hiện mục tiêu trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2020, khu vực có
vốn ĐTNN trên địa bàn tỉnh Bắc Giang thực sự có vai trò lớn và tầm quan trọng
viii
đáng kể trong việc giải quyết những khó khăn về vốn để khai thác tiềm năng sẵn có
của tỉnh. Việc thu hút nguồn vốn FDI là hết sức cần thiết trong chiến lược phát triển
KT-XH của tỉnh trong thời gian tới.
1.4.2. Các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp Bắc Giang khai thác được
1.5.1. Kinh nghiệm của tỉnh Hải Dương
Hải Dương là một địa phương mới nổi lên như một điểm sáng trong thu hút
FDI, tỉnh xếp vị trí thứ 16 trên cả nước trong thu hút FDI. Hải Dương đạt được
thành quả này là do: Có môi trường thuận lợi thu hút đầu tư phát triển các KCN;
Tỉnh hỗ trợ đào tạo và cung cấp công nhân cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư được
hỗ trợ kinh phí giải phóng mặt bằng theo các hình thức đa dạng, linh hoạt; Chính
quyền tỉnh Hải Dương luôn chú trọng đến việc tạo cơ chế thông thoáng nhưng đúng
luật trong hoạt động đẩy mạnh thu hút FDI; Các cấp chính quyền, các ngành luôn
chủ động, kịp thời trong việc giải quyết những vấn đề liên quan đến thủ tục hành
chính; Tỉnh quan tâm chăm sóc tốt các nhà đầu tư đã đầu tư, giúp các doanh nghiệp
làm ăn có hiệu quả, sớm có lợi nhuận.
1.5.2. Kinh nghiệm của tỉnh Bắc Ninh
Bắc Ninh hiện đứng thứ 18 trong cả nước về thu hút FDI. Tỉnh có được
thành công này bởi một số lý do: Sự chuẩn bị tốt công tác quy hoạch, đầu tư hạ tầng
KCN, luôn đi trước một bước và ổn định lâu dài; Đa dạng hóa các hình thức đầu tư
xây dựng hạ tầng KCN, lựa chọn và ưu tiên doanh nghiệp có năng lực, kinh nghiệm,
có khả năng làm tốt công tác tiếp cận và đàm phán với các nhà đầu tư lớn; Tỉnh đã
chuyển hướng XTĐT theo chuỗi để kéo theo nhiều nhà đầu tư thứ cấp khác tạo giá
trị gia tăng cao, thay thế hình thức xúc tiến đơn lẻ trước đây; Tạo điều kiện thuận lợi
và thời gian ngắn nhất cho các nhà đầu tư trong tiếp cận đất đai, thủ tục đầu tư,
nguồn nhân lực; Có sự chỉ đạo điều hành tích cực của UBND tỉnh, không chỉ dừng
lại ở việc mời gọi mà Bắc Ninh còn hỗ trợ, thúc đẩy hoạt động triển khai DA và mở
rộng DA sau cấp phép đầu tư. Sẵn sàng dành ưu đãi vượt khung cho DA đặc biệt.
x
1.5.3. Bài học hữu ích đối với Bắc Giang
Về quy hoạch: xác định một trong những mục tiêu quan trọng của quá trình
thu hút các DA FDI là xây dựng các KCN - đây sẽ là hạt nhân của đô thị hiện đại;
Tây Yên Tử, Suối Mỡ. Ngoài ra có thể xây dựng các sân golf, khu nghỉ dưỡng.
Rừng của Bắc Giang có hệ động thực vật phong phú, nhiều nguồn gen quý; có vị trí
quan trọng, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, môi trường sinh thái và đời sống
nhân dân. Phần lớn các mỏ khoáng sản đã được đánh giá trữ lượng hoặc xác định
tiềm năng dự báo. Tuy không có nhiều mỏ khoáng sản lớn nhưng lại có một số loại
là nguồn nguyên liệu quan trọng để phát triển công nghiệp của tỉnh
* Về điều kiện xã hội: dân số Bắc Giang khoảng hơn 1,7 triệu người, lao
động xã hội chiếm hơn 60% tổng dân số, chủ yếu là lao động trẻ, đây là tiềm năng
lớn của tỉnh. Hiện Bắc Giang có 2 trường Cao đẳng đào tạo, 1 trường Cao đẳng
nghề, 1 Trung tâm đào tạo và cung ứng nhân lực, 1 Trung tâm ngoại ngữ tin học, 4
trường Trung cấp nghề và 56 cơ sở dạy nghề, đáp ứng phần lớn nhu cầu nguồn nhân
lực cho các khu, CCN tại địa phương. Con người Bắc Giang hiền hậu, mến khách,
trọng nghĩa tình, luôn khát khao phát triển.
* Kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội: Bắc Giang có hệ thống giao thông khá đa
dạng với 3 loại hình: đường bộ, đường sông và đường sắt được phân bố hợp lý,
thuận lợi cho vận chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu, dễ dàng thông thương với các
vùng kinh tế trọng điểm trong nước và quốc tế. Hệ thống lưới điện Quốc gia được
kéo đến từng xã, gồm các cấp điện áp 220, 110, 35 và 22 KV. Hệ thống cấp nước
sạch đã được đầu tư và đáp ứng yêu cầu sử dụng nước cho các khu đô thị và KCN.
Hệ thống bưu chính viễn thông được chú trọng đầu tư và không ngừng phát triển,
đáp ứng nhu cầu trao đổi thông tin. Hệ thống thương mại nội tỉnh phân bố đều khắp
đến huyện và đến các xã, góp phần đẩy nhanh lưu thông hàng hoá. Hệ thống tín
dụng ngân hàng, bảo hiểm đáp ứng cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Trên địa
bàn tỉnh đã có 5 KCN và sẽ bước đầu hình thành thêm một số KCN mới dọc tuyến
QL 1A, QL 31, QL 37 và tỉnh lộ 398.
Với môi trường đầu tư thông thoáng, cởi mở, luôn tạo mọi điều kiện tốt nhất
cho các nhà đầu tư của tỉnh và tinh thần làm việc tận tâm, tận lực của lãnh đạo và
xii
xiii
qua Bộ Ngoại giao xây dựng mối quan hệ với các Đại sứ quán Việt Nam ở nước
ngoài để quảng bá hình ảnh tỉnh Bắc Giang.
* Thực hiện vận động thu hút đầu tư: Tranh thủ sự ủng hộ của Chính phủ,
các Bộ, Ngành để vận động, thu hút nguồn ngân sách Trung ương và nguồn ODA.
Tập trung cho các DA xây dựng kết cấu hạ tầng thiết yếu, hạ tầng ngoài KCN.
* Cung cấp dịch vụ và hỗ trợ cho nhà đầu tư: Đã làm tốt công tác tư vấn hỗ
trợ ban đầu cho nhà đầu tư, trong việc cung cấp thông tin về: định hướng đầu tư;
quy hoạch KCN; các chính sách khuyến khích, ưu đãi đầu tư; trình tự, thủ tục hành
chính; giá dịch vụ; giá thuê đất, giá nhân công…
2.2.2.2. Quy trình thụ lý, cấp, duyệt dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài
Các thủ tục tiếp nhận hồ sơ được thực hiện thống nhất theo quy định của
Chính phủ và được thực hiện theo cơ chế “một cửa liên thông” tại BQL các KCN
hoặc Sở KH-ĐT tỉnh Bắc Giang. Bên cạnh đó, thời gian đăng ký, thẩm định cấp
GCNĐT cũng được rút ngắn hơn nhiều so với quy định chung, cụ thể: DA đầu tư
vào KCN: 05 ngày với DA thuộc diện đăng ký cấp GCNĐT; 10 ngày với DA thuộc
diện phải thẩm tra đầu tư; 20 ngày với DA thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện; DA
đầu tư ngoài KCN: 06 ngày với DA thuộc diện đăng ký cấp GCNĐT; 10 ngày với
DA phải xin ý kiến các cơ quan liên quan; 18 ngày với DA thuộc diện thẩm tra đầu
tư; Các thủ tục hành chính khác trong quá trình thực hiện DA như khắc dấu, cấp mã
số thuế, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy phép xây dựng, đăng ký môi
trường cũng được thực hiện theo cơ chế một cửa với thời gian ngắn nhất.
2.2.2.3. Các chế độ ưu đãi của tỉnh
Các DA đầu tư vào tỉnh Bắc Giang được hưởng đầy đủ mọi ưu đãi theo quy
định của Chính phủ và còn được hưởng những ưu đãi của riêng tỉnh, như: Đảm bảo
các điều kiện tốt nhất về an ninh, môi trường đầu tư và sự nhất quán về chính sách ưu
đãi cho các nhà đầu tư; Hỗ trợ kinh phí đào tạo nghề cho lao động địa phương. Hỗ
trợ kinh phí bồi thường giải phóng mặt bằng. Tỉnh đảm nhiệm bồi thường, giải phóng
được không nhiều. Giai đoạn 1991-1996 được xem là thời kỳ “bùng nổ ” ĐTNN tại
Việt Nam với 1.781 DA và tổng vốn đầu tư đăng ký là 37,1 tỷ USD. Giai đoạn
xv
1997-2000 được coi là thời kỳ suy thoái. Có 961 DA được cấp phép với tổng vốn
đăng ký hơn 13 tỷ USD. Giai đoạn 2001-2005, thu hút được 20,8 tỷ USD, vượt 73%
mục tiêu. Hai năm 2006 và 2007, dòng vốn ĐTNN vào nước ta tăng đáng kể (32,3
tỷ USD). Điều này cho thấy dấu hiệu của “làn sóng ĐTNN” thứ 2 vào Việt Nam.
Nhưng, năm 2008, các con số về ĐTNN tại Việt Nam đã gây ra sự bất ngờ, vượt xa
mọi dự báo của các cơ quan chức năng và các nhà kinh tế. FDI đăng ký cấp mới và
tăng thêm tại Việt Nam đã đạt 64,011 tỷ USD. Kết quả nêu trên, xuất phát trước hết
từ niềm tin của các nhà đầu tư vào triển vọng phát triển của nước ta, nhất là giữ
vững ổn định an ninh chính trị và cải thiện môi trường đầu tư, thể chế kinh tế tiếp
tục được hoàn thiện cùng với việc thực hiện mở cửa nền kinh tế theo lộ trình cam
kết WTO.
2.3.1.2. Tình hình triển khai các dự án
Vốn thực hiện có xu hướng tăng qua các năm nhưng với tốc độ chậm trong
khi vốn đăng ký và số lượng DA cấp mới tăng mạnh. Giai đoạn 1991-1996, vốn
thực hiện mới đạt 7,1 tỷ USD, chiếm 44% tổng vốn đăng ký mới; Giai đoạn 19972000 vốn thực hiện đạt 13,5 tỷ USD, tăng 89% so với giai đoạn trước; 5 năm 20012005, vốn thực hiện đạt 14,3 tỷ USD, chiếm 64,8% tổng vốn đăng ký mới; riêng 2
năm 2006 và 2007, tổng vốn thực hiện đạt 8,7 tỷ USD, bằng 27 % tổng vốn đăng
ký mới, nhưng vốn thực hiện năm 2007 tăng 12% so với năm 2006, và sẽ là tiền đề
cho việc giải ngân của 2 năm 2008, 2009 tăng cao do có nhiều DA quy mô vốn
đăng ký lớn. Vốn giải ngân năm 2008 đã xác lập kỷ lục: các doanh nghiệp FDI tại
Việt Nam đã giải ngân số vốn lên tới 11,5 tỷ USD, tăng 43,2% so với năm 2007.
2.3.2. Kết quả thu hút, triển khai các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài của
tỉnh Bắc Giang
2.3.2.1. Về hoạt động thu hút các dự án
* Quy mô và tốc độ thu hút DA FDI tại Bắc Giang: Cho đến hết tháng
1992
1
792.500
-
792.500
2
1999
1
600.000
-24,29
600.000
3
2001
3
7.100.000
2004
8
4.405.820
-44,39
550.728
7
2005
7
18.440.000
318,54
2.634.286
8
2006
6
14.237.377
9 tháng 2009
7
48.610.133
Tổng
76
438.300.000
-
6.944.305
5.767.105
Nguồn: Sở KH-ĐT Bắc Giang, năm 2009
(*): Những năm không có trong bảng là những năm Bắc Giang không có DA
FDI nào.
* Cơ cấu DA và vốn FDI theo ngành: Nhìn vào cơ cấu đầu tư theo ngành
của các DA FDI tại tỉnh Bắc Giang ta thấy, ngành công nghiệp đặc biệt chiếm ưu
thế. Điều này phù hợp với điều kiện và thế mạnh của tỉnh. Các DA đầu tư vào
ngành Nông nghiệp chưa khai thác được thế mạnh của tỉnh về cây nông sản; ngành
xvii
95,14
2
Nông nghiệp
2
2,63
1.400.000
0,32
3
Dịch vụ
3
3,95
19.920.000
4,54
76
100
trị thực hiện 40,8 triệu USD, nâng tổng số vốn FDI thực hiện từ trước đến nay đạt
trên 159 triệu USD, bằng 36,6% so với tổng vốn đăng ký, còn 8 DA chưa triển khai.
Trong 8 DA này, có 2 DA nhà đầu tư không triển khai thực hiện, cơ quan quản lý
đang đề nghị rút GP; 6 DA còn lại vẫn có khả năng triển khai. Cả tỉnh có 3 DA bị
thu hồi GCNĐT trước thời hạn do hoạt động không hiệu quả. Ngoài ra, trong số 34
DA đã hoạt động có 02 DA tạm ngừng hoạt động một năm liên tục không thông báo
cho cơ quan QLNN về đầu tư, đang bị đề nghị thu hồi GP đầu tư. Tình hình triển
khai thực hiện các DA được thể hiện ở bảng dưới đây.
Bảng 2.8: Tình hình triển khai các DA FDI tỉnh BG từ 1992 đến 9/2009
Nhóm Chỉ tiêu
Số DA
Tỷ trọng (%)
Dự án đang triển khai
34
44,75
Dự án đang hoạt động SXKD
29
38,16
Dự án KD không hiệu quả đã thu hồi
3
2
Tổng
Nguồn: Sở KH-ĐT, Ban QL các KCN Bắc Giang, năm 2009
2.4. Đánh giá chung hoạt động thu hút, triển khai các dự án đầu tư trực tiếp
nước ngoài vào tỉnh Bắc Giang
2.4.1. Những mặt đạt được
Kể từ khi DA FDI đầu tiên đầu tư vào tỉnh năm 1992 cho đến hết 9/2009,
lượng vốn FDI vào tỉnh Bắc Giang tăng liên tục qua các năm. Nếu như năm 2001,
Bắc Giang mới thu hút được 8.492.500 USD, thì đến hết 9/2009 lượng vốn thu hút
được đã tăng lên đến 438.300.000 USD, tăng 51,6 lần.
xix
* Quy mô bình quân một DA: có xu hướng tăng qua các giai đoạn, đã có
những DA quy mô tương đối lớn như đầu tư vào tỉnh, chứng tỏ Bắc Giang hoàn
toàn có khả năng thu hút được những DA có quy mô lớn trong thời gian tới.
* Về cơ cấu đầu tư theo ngành: trên địa bàn tỉnh phần lớn số DA và vốn
đầu tư tập trung vào ngành công nghiệp, và chủ yếu là công nghệ cao, điều này làm
góp phần làm gia tăng giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh, chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng CNH-HĐH.
* Về cơ cấu vốn đầu tư theo hình thức đầu tư: các DA FDI được thực hiện
dưới 2 hình thức là doanh nghiệp liên doanh và doang nghiệp 100% vốn ĐTNN.
* Về cơ cấu đầu tư theo đối tác: tỉnh Bắc Giang đã thu hút được các đối tác
lớn như Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc. Đã có sự đa dạng hóa trong
cơ cấu đầu tư theo đối tác.
* Về cơ cấu đầu tư theo địa bàn: Khu vực trọng điểm thu hút FDI của tỉnh
2.4.3. Nguyên nhân của những tồn tại
* Nguyên nhân khách quan: Môi trường đầu tư quốc tế có nhiều biến động.
Thêm vào đó, Việt Nam không được vi phạm “xé rào, trải thảm đỏ” để thu hút đầu
tư như trước nữa. Cạnh tranh thu hút vốn FDI tiếp tục diễn ra ngày càng gay gắt và
quyết liệt giữa các tỉnh, các vùng trong cả nước.
* Nguyên nhân chủ quan: Nhận thức của một bộ phận cán bộ lãnh đạo tỉnh
còn hạn chế. Hoạt động XTĐT dù đã được tỉnh quan tâm, song chưa thực sự được
đẩy mạnh, chưa đa dạng về hình thức. Bắc Giang có ít và còn thiếu các DA quy mô
lớn, công nghệ hiện đại. Cơ sở hạ tầng vẫn còn những bất cập. Chất lượng nguồn
nhân lực trên địa bàn chưa đáp ứng được tốt yêu cầu của các nhà đầu tư, nhất là
nhân lực chất lượng cao. Công tác cải cách hành chính đã được cải tiến đáng kể
nhưng vẫn cần phải được cải thiện hơn nữa để đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ
mới. Công nghiệp phụ trợ của tỉnh còn thiếu và yếu. Những ưu đãi mà tỉnh dành
cho các nhà ĐTNN trong tương quan so với các tỉnh khác chưa nhiều.
xxi
CHƯƠNG 3
QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG
THU HÚT, TRIỂN KHAI CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI VÀO TỈNH BẮC GIANG ĐẾN NĂM 2020
3.1. Quan điểm thu hút, triển khai các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài của
tỉnh Bắc Giang
3.1.1. Quan điểm về thu hút các dự án
3.1.1.1. Tăng cường thu hút các dự án đầu tư vào ngành công nghiệp và dịch vụ
Công nghiệp và dịch vụ là lĩnh vực then chốt trong chiến lược phát triển KTXH của tỉnh. Thu hút các DA FDI vào lĩnh vực này sẽ giúp tỉnh khai thác được tiềm
năng, phát huy thế mạnh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương theo hướng nâng
cao tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ, phù hợp với xu thế phát triển chung.
3.1.1.2. Tăng cường thu hút các dự án có quy mô lớn, công nghệ hiện đại
quan trong quá trình triển khai DA.
3.1.2.2. Đẩy mạnh đầu tư hạ tầng KCN, CCN
Khi xem xét đầu tư vào một địa phương, các nhà đầu tư nước ngoài rất quan
tâm đến sự phát triển về cơ sở hạ tầng tại nơi tiếp nhận đầu tư. Vì cơ sở hạ tầng
không phát triển, không đồng bộ sẽ làm tăng chi phí và rủi ro đối với quá trình sản
xuất kinh doanh, nên việc đầu tư phát triển các KCN, CCN nhằm thu hút các DA
FDI là việc làm hết sức cần thiết.
3.1.2.3. Khuyến khích các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng vốn, mở rộng
quy mô sản xuất
Khi DA FDI đã hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định, việc các DA FDI
tăng vốn là rất cần thiết. Nó chứng tỏ hiệu quả của hoạt động thu hút và triển khai
DA FDI ở địa phương, cũng như sự đóng góp của khu vực này đối với nền kinh tế.
Vì vậy, tỉnh cần đưa ra các biện pháp khuyến khích các DA FDI mở rộng quy mô
sản xuất kinh doanh.
xxiii
3.2. Phương hướng thu hút các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Bắc
Giang đến năm 2020
3.2.1. Phương hướng phát triển KT-XH của tỉnh
Quan điểm và mục tiêu phát triển của tỉnh Bắc Giang: Phát huy nội lực và
tích cực thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài, nhằm khai thác hiệu quả các tiềm năng, thế
mạnh của tỉnh để phát triển công nghiệp, dịch vụ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ
cấu lao động, phấn đấu đến năm 2020, Bắc Giang trở thành tỉnh công nghiệp. Để
thực hiện được mục tiêu đó, thu hút nguồn vốn FDI là điều kiện rất cần thiết trong
việc đáp ứng nhu cầu vốn cho địa phương.
3.2.2. Định hướng thu hút các dự án
3.2.2.1. Thu hút các dự án vào các ngành công nghiệp chế biến XK, công nghệ
cao, có lợi thế về sử dụng nhiều lao động
trong đánh giá vai trò của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong nền kinh
tế tỉnh nhà; Thường xuyên tổ chức gặp mặt lãnh đạo các cơ quan quản lý chính
quyền để quán triệt cụ thể những quan điểm của cả tỉnh về vai trò của khu vực kinh
tế có vốn ĐTNN; Cần có những chế tài mạnh, xử lý nghiêm minh những hành vi
gây phiền hà, sách nhiễu, quan liêu, hách dịch, những hành vi phá hoại phi lý.
3.3.1.2. Tăng cường hơn nữa công tác xúc tiến đầu tư nước ngoài
Đẩy mạnh công tác XTĐT dưới nhiều hình thức, tiếp nhận có lựa chọn các
DA đầu tư và thẩm tra chặt chẽ; Xác định được các ngành trọng điểm và nhà đầu tư
tiềm năng; Tranh thủ tối đa sự ủng hộ của Chính phủ và các Bộ, Ngành Trung ương
trong công tác vận động, thu hút các DA ĐTNN.
3.3.1.3. Đẩy mạnh hơn nữa cải cách thủ tục hành chính
Tập trung rà soát, bãi bỏ các thủ tục hành chính, các giấy phép, các quy định
không cần thiết; Tiếp tục thực hiện tốt cơ chế “một cửa” về đầu tư và cơ chế “một
cửa liên thông” trong đăng ký kinh doanh và đầu tư; Đơn giản hoá và công khai các
quy trình, thời hạn giải quyết, thực hiện cơ chế “một cửa liên thông” tại hai đầu mối
là Ban QL các KCN và Sở KH-ĐT nhằm tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư; Cải cách
xxv
thủ tục hành chính trong việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và các giao
dịch liên quan đến đất đai.
3.3.1.4. Nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Bắc Giang cần thực hiện các giải pháp để nâng hạng chỉ số này so với năm
2008, phấn đấu năm 2009 nằm trong nhóm trung bình và nhóm khá vào năm 2010.
3.3.1.5. Nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý ĐTNN
Thường xuyên rà soát, đánh giá và giải quyết kịp thời các vướng mắc phát
sinh của DA; Nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ, công chức nhằm đảm bảo thực hiện
tốt những quy định của Luật Đầu tư và quy định mới về phân cấp quản lý Nhà nước
về đầu tư; Phân định rõ trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị có liên quan trong quản