BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
NGUYỄN VĂN BÌNH
PHÂN LẬP, TUYỂN CHỌN VI SINH VẬT CÓ KHẢ NĂNG
PHÂN GIẢI MẠNH XENLULOZA TỪ PHẾ PHỤ PHẨM
NÔNG NGHIỆP
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, NĂM 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page i
LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan ñây là công trình nghiên cứu của bản thân, ñược xuất phát
từ yêu cầu phát sinh trong công việc ñể hình thành hướng nghiên cứu. Các số liệu
có nguồn gốc rõ ràng tuân thủ ñúng nguyên tắc và kết quả trình bày trong luận văn
ñược thu thập ñược trong quá trình nghiên cứu là trung thực chưa từng ñược ai công
bố trước ñây.
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Bình
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii MỤC LỤC
LỜI CAM ðOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii
MỞ ðẦU 1
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Khối lượng và thành phần phế phụ phẩm nông nghiệp 3
1.1.1. Khái niệm phế phụ phẩm nông nghiệp 3
1.2. Các biện pháp xử lí phế phụ phẩm nông nghiệp 7
1.2.1. ðốt 7
1.2.2. Ủ làm phân 7
1.2.3. Biện pháp vùi trực tiếp vào ñất, trên ruộng 8
1.2.4. Sử dụng làm thức ăn chăn nuôi 9
1.3. Cơ sở khoa học của quá trình phân giải chất thải rắn hữu cơ bằng con
ñường sinh học 10
2.5.6. ðánh giá hiệu quả của chế phẩm vi sinh vật 32
2.5.7. Phương pháp xử lý số liệu 33
Chương 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 34
3.1. Phân lập, tuyển chọn vi sinh vật từ các mẫu nghiên cứu 34
3.1.1. Phân lập VSV có khả năng phân giải Xenluloza 34
3.1.2. ðánh giá hoạt tính enzym ngoại bào của 57 chủng vi sinh vật 35
3.2. ðánh giá ñặc tính sinh học của V5, T1, X10 và N21 39
3.2.1. Hình thái, kích thước của V5, T1, X10 và N21 39
3.2.2. Lựa chọn môi trường nuôi cấy thích hợp 42
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
3.2.3. ðánh giá khả năng thích ứng pH của V5, T1, X10 và N21 45
3.2.4. ðánh giá khả năng thích ứng nhiệt ñộ của V5, T1, X10 và N21 46
3.2.5. ðánh giá khả năng kháng kháng sinh của V5, T1, X10 và N21 48
3.3. Sản xuất chế phẩm vi sinh vật. 51
3.3.1. ðánh giá tính ñối kháng của V5, T1, X10 và N21. 51
3.3.2. Sản xuất và ñánh giá chất lượng chế phẩm vi sinh vật 52
3.4. Xử lý rơm rạ bằng chế phẩm vi sinh vật 57
3.4.1. Kết quả thí nghiệm chậu vại 57
3.4.2. Kết quả xử lý rơm rạ quy mô ñống ủ lớn 58
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 67
1. Kết luận 67
2. Kiến nghị 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
PHỤ LỤC 75
Bảng 3.9. Kết quả phân tích các chậu vại sau 35 ngày 57
Bảng 3.10. Diễn biến nhiệt ñộ ñống ủ 60
Bảng 3.11. Kết quả phân tích các ñống ủ sau 35 ngày 62
Bảng 3.12. Khối lượng phân hữu cơ sau khi ủ ở các công thức thí nghiệm 63
Bảng 3.13. Chi phí ñể xử lý 1 tấn rơm rạ 64
Bảng 3.14. Lượng khí thải vào môi trường do ñốt rơm rạ ngoài ñồng ruộng 65Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. Lượng rơm rạ trung bình thải ra hàng năm của các nước thuộc khu vực
ðông Nam Á 5
Hình 1.2. Ước tính lượng rơm rạ ngoài ñồng ruộng ở một số tỉnh vùng ñồng bằng
Sông Hồng (ðặng Kim Chi, 2011) 5
Hình 1.3. Quá trình phân hủy xenluloza (Klyosov, 1995) 13
Hình 2.1. Mô hình cấy vạch nghiên cứu tính ñối kháng 30
Hình 3.1. Sự phân bố của VSV trong các nguồn phế thải 35
Hình 3.2. Hoạt tính xenlulaza của V5, T1, X10 và N21 39
Hình 3.3. Khuẩn lạc và hình thái vi khuẩn V5 40
Hình 3.4. Khuẩn lạc và hình thái vi khuẩn T1 40
Hình 3.5. Khuẩn lạc và hình thái sợi xạ khuẩn X10 41
RWC : Rice-wheat consortiumRF : Rectusflexibilis
TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
TD và MNPB
: Trung du và miền núi phía Bắc
VK : Vi khuẩn
VSV : Vi sinh vật
XK : Xạ khuẩn
SP : Species
S : Spira Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
MỞ ðẦU
Hiện nay phế thải là một vấn nạn ảnh hưởng trực tiếp ñến ñời sống con
người, các hoạt ñộng xã hội, quá trình sản xuất, chế biến nông công nghiệp. Phế thải
không chỉ gây ô nhiễm môi trường, gây ñộc hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây
trồng mà còn làm mất ñi cảnh quan văn hóa ñô thị và nông nghiệp – nông thôn. Phế
thải có nhiều nguồn khác nhau: rác thải sinh hoạt, rác thải ñô thị, phế thải sau thu
hoạch, phế thải từ các nhà máy công nghiệp
Việt Nam là một nước nông nghiệp với khoảng 74% dân số làm nghề nông,
do ñó lượng phế phụ phẩm sau thu hoạch rất lớn và ña dạng. Hàng năm trên ñồng
ruộng ñể lại hàng triệu tấn phế phụ phẩm, bao gồm: rơm rạ, lõi ngô, rễ cây, thân, lá
thực vật… Những phế thải này phần lớn bị ñốt gây ô nhiễm môi trường không khí,
- Lấy mẫu phế phụ phẩm ñã hoai mục ñể phân lập.
- Các thí nghiệm phải lặp lại, ghi chép rõ ràng, cẩn thận số liệu và thường
xuyên chụp ảnh ghi lại quá trình thực hiện ñề tài ñể làm minh họa.
- ðánh giá các ñặc tính sinh học ñể lựa chọn ñược các chủng VSV có khả
năng phân giải mạnh xenluloza, protein, tinh bột ñể sản xuất chế phẩm.
- Thử nghiệm hiệu quả của chế phẩm VSV sản xuất và so sánh với ñối chứng
và chế phẩm khác thông qua theo dõi các chỉ tiêu ñống ủ.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Khối lượng và thành phần phế phụ phẩm nông nghiệp
1.1.1. Khái niệm phế phụ phẩm nông nghiệp
Phế phụ phẩm nông nghiệp là những sản phẩm phụ thu ñược từ cây trồng sau
khi thu hoạch như: Rơm rạ, thân ngô, thân lạc, ngọn mía, bã mía, cỏ khô, bã sắn,
các loại lá rau…
ðây là loại phế thải có khả năng phân hủy sinh học do nó chứa thành
phần hữu cơ, vi sinh vật có thể phân hủy sử dụng làm dinh dưỡng trong quá
trình sinh trưởng và phát triển của mình. Các chất thải có khả năng phân hủy
sinh học tốt như cỏ dại, lá cây…, các chất có khả năng phân hủy sinh học kém
(Triệu tấn chất khô/ năm)
Rơm lúa 8,7 42,6
Cây ngô (ñã thu bắp) 1,15 4,5
Dây lạc 0,76 1,32
Dây lang 0,13 0,15
Ngọn, lá sắn 0,54 0,72
Lá mía 0,30 0,54
Tổng cộng 10,54 49,83
Nguồn: Tổng cục thống kê, 2012
Như vậy, tổng cộng lượng phế phụ phẩm nông nghiệp ở Việt Nam cực kỳ lớn,
ñạt ñến 49,83 triệu tấn chất khô/năm, trong ñó rơm lúa chiếm ñến 85,49% tương
ñương với 42,6 triệu chất khô/năm.
Vì vậy việc sử dụng các chủng VSV có khả năng phân giải các chất xơ sợi ñể
phân huỷ rơm rạ, phế thải rau, quả thành mùn và tái chế thành phân hữu cơ sẽ nâng
cao hiệu quả sử dụng rơm rạ, không gây lãng phí ñồng thời trả lại nguồn dinh
dưỡng mất ñi hàng năm cho ñất trồng.
a. Rơm rạ
Theo số liệu thống kê ở Việt Nam, 70% dân số làm nông nghiệp và lúa là
cây trồng chính, do vậy lượng rơm rạ sau thu hoạch là rất lớn, ước khoảng gần
26,9 triệu tấn/ năm ñứng thứ 2 sau Indonesia (so với các nước thuộc khu vực
ðông Nam Á).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5 Hình 1.1. Lượng rơm rạ trung bình thải ra hàng năm của các nước thuộc khu vực
ðông Nam Á
Hình 1.2. Ước tính lượng rơm rạ ngoài ñồng ruộng ở một số tỉnh vùng ñồng bằng
Ngọn mía là phần trên của cây mía ñược chặt bỏ lại trên ñồng ruộng sau khi thu
hoạch cây mía. Ngọn mía bao gồm 3 phần khác nhau: phần lá xanh trên cây, phần bẹ
lá và phần lõi ngọn cây non. Năng suất ngọn mía thay ñổi ñáng kể tùy theo giống mía,
thời gian thu hoạch, ñiều kiện trồng và chăm sóc. Thông thường ngọn mía chiếm
khoảng 10 – 18% tổng sinh khối trên mặt ñất của cây mía. Theo lý thuyết thì lượng
ngọn mía thu ñược từ mỗi ha mía (khoảng 21 tấn) ñủ ñể làm nguồn thức ăn xanh cả
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7
năm cho 2 con bò hay trong 4 tháng thiếu cỏ của vụ ñông xuân/mùa khô cho 6 con bò.
Trong lá mía, ngọn mía thì xenluloza, hemixenluloza, lignin là 3 thành phần chính.
1.2. Các biện pháp xử lí phế phụ phẩm nông nghiệp
1.2.1. ðốt
ðây là biện pháp khá phổ biến ở nước ta. Quá trình ñốt diễn ra nhanh, dễ làm
và xử lí ñược cùng lúc một lượng lớn chất thải rắn hữu cơ nhưng bù lại nó làm mất
gần như hoàn toàn lượng N. Lượng P mất ñi khoảng 25%, K mất ñi khoảng 20% và
S mất từ 5 – 60%. Lượng dinh dưỡng mất mát lại tuỳ thuộc vào cách thức ñốt.
Nguyễn Xuân Thành và cs., (2000); Lê Văn Nhương và Nguyễn Lan Hương,
(2001) cho rằng biện pháp ñốt gây ra nhiều vấn ñề về môi trường như khói, bụi. ðặc
biệt việc ñốt phế phụ phẩm thường chỉ tập trung vào mùa thu hoạch nên việc ñốt tàn
dư thực vật ñại trà trên diện rộng còn gây ra rất nhiều khó khăn phiền toái cho giao
thông nông thôn. Mặt khác ñốt tàn dư trên ñồng ruộng ñã phá hủy khu hệ vi sinh vật
ñất làm nhiệt ñộ mặt ñất tăng cao gấp nhiều lần bình thường.
Torigue và cs., (2000); Chen, Kang-Shin và cs., (2008) cho rằng biện pháp
ñốt rơm rạ là biện pháp ñơn giản, dễ làm, giảm giá thành, và giảm thiểu sâu bệnh
hại nên nông dân vẫn thường xuyên áp dụng. Nhưng ñây cũng là biện pháp gây mất
mát một lượng lớn chất dinh dưỡng, và gây ô nhiễm môi trường không khí nghiêm
trọng, ảnh hưởng ñến sức khỏe của con người. Vì vậy hiện nay một số nước ñã ban
hành luật cấm ñốt phế thải nông nghiệp trên ñồng ruộng, ví dụ ở Mỹ, Ấn ðộ
này rất mất thời gian vì có thể khu hệ vi sinh vật có sẵn trong ñống ủ cần một thời
gian nhất ñịnh ñể nhân nhanh sinh khối. Do ñó, nếu phân lập các chủng vi sinh vật
phù hợp, sau ñó tuyển chọn ñánh giá ñặc tính sinh học và nhân sinh khối rồi bổ
sung vào ñống ủ, sẽ rút ngắn thời gian ủ và làm tăng dinh dưỡng của ñống ủ.
Nhìn về tổng thể, quá trình ủ là quá trình phân hủy sinh học các hợp chất
hữu cơ xảy ra do nhóm vi sinh vật dị dưỡng như: vi khuẩn, nấm, xạ khuẩn và
ñộng vật nguyên sinh, trong ñó vai trò của hệ sinh vật phân giải xenluloza và
ligin là rất quan trọng.
1.2.3. Biện pháp vùi trực tiếp vào ñất, trên ruộng
Danutawat và Nguyễn Thị Kim Oanh (2007) thì phế phụ phẩm sau thu
hoạch ñược vùi trực tiếp vào ñất, sau ñó các vi sinh vật bản ñịa tiến hành nhân sinh
khối, phân huỷ chúng ñể cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng vụ sau, cải thiện các
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9
ñặc tính lý hoá, sinh học của ñất, nâng cao ñộ phì nhiêu của ñất ñể sản xuất ổn ñịnh
lâu dài. ðây là việc làm không những trả lại cho ñất hầu hết các nguyên tố dinh
dưỡng cây trồng ñã lấy ñi từ ñất, mà còn kiểm soát ñược sâu bệnh và mầm mống
của nó còn sót lại trên những phế thải này.
ðề tài KN 01-10-08, “ Sử dụng hợp lý sản phẩm phụ nông nghiệp nhằm tăng
năng suất cây trồng và ổn ñịnh ñộ phì nhiêu của ñất bạc màu” do ðỗ Thị Xô,
Nguyễn Văn ðại thực hiện ñã chứng minh: vùi phế phụ phẩm nông nghiệp ñã làm
tăng năng suất cây trồng từ 4-21% so với ñối chứng; các công thức vùi phế phụ
phẩm cả 3 vụ cho năng suất cao hơn các công thức ñược vùi phế phụ phẩm 1 vụ;
vùi phế phụ phẩm có thể tiết kiệm ñược phân khoáng.
Việc vùi rơm rạ vào ñất mặc dù tác dụng lên năng suất lúa vụ kế tiếp là
không lớn so với việc lấy rơm rạ ra khỏi ñồng ruộng, nhưng về lâu dài thì ảnh
hưởng này là thấy rõ. Nếu kết hợp song song việc bón phân hàng vụ cho lúa cùng
với việc vùi rơm rạ vào ñất sẽ ñảm bảo ñược dinh dưỡng N, P, K và S cho lúa, và
lớn nhất có thể kể ñến của phương pháp là không áp dụng ñược cho phế thải ngành
gỗ và cụ thể là mùn cưa.
1.3. Cơ sở khoa học của quá trình phân giải chất thải rắn hữu cơ bằng con
ñường sinh học
Do bản chất của phế phẩm nông nghiệp chủ yếu là xenluloza nên việc nghiên
cứu cơ sở khoa học của quá trình phân giải chất thải rắn hữu cơ bằng con ñường
sinh học là một ñiều cần thiết.
1.3.1. Cấu trúc phân tử và khả năng bền vững của xenluloza
Theo Weinberg (1973),
xenluloza là thành phần chính của tế bào thực vật
chiếm khoảng 20% trong một số loài cỏ, 45% trên gỗ và trên 90% trên sợi bông.
Xenluloza kết hợp với hemixenluloza và lignin tạo nên ñộ cứng cho thành tế bào.
Xenluloza là polysacarit mạch thẳng gồm 1.400 ñến 12.000 gốc β – D
glucopyranoza liên kết với nhau bằng liên kết β – 1,4 glucozit thành dạng chuỗi, có
công thức cấu tạo là (C
6
H
10
O
5
)n hay [C
6
H
7
O
2
(OH)
3
]n. Xenluloza có cấu tạo sợi và
trên môi trường có hàm lượng xenluloza cao nhất hay có chất cảm ứng thích hợp.
Vì vậy, có thể coi sự tổng hợp xenlulaza là có tính cảm ứng không chặt chẽ vì
xenluloza là cơ chất không hòa tan, phân tử lớn, bản thân không thể thâm nhập vào
tế bào ñể gây ra các phản ứng sinh hóa. Vì vậy ñể thu ñược nguồn enzym cao người
ta thường sử dụng cơ chất không thể thủy phân như: Bã mía, rơm rạ, giấy loại hoặc
có thể nuôi cấy kết hợp với VSV ñồng hóa tốt xenlobioza.
Agrios, G.N (1997) nhận ñịnh rằng sự kìm hãm tổng hợp xenlulaza xảy ra rất
mạnh mẽ trong môi trường có chứa hydratcacbon dễ tiêu, ñặc biệt là glucoza. Khi
ñó, quá trình sinh tổng hợp xenlulaza chưa bắt ñầu. Thậm chí khi tế bào ñang tổng
hợp xenlulaza người ta bổ sung glucoza thì cường ñộ tổng hợp xenlulaza bị giảm
ngay lập tức.
Nhiều sản phẩm của chu trình Kerbs (axit nitric, succinic…) là chất ức chế
quá trình sinh tổng hợp xenlulaza. Nguồn nitơ hữu cơ tác ñộng rõ rệt tới quá trình
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
tổng hợp xenlulaza, khi nuôi Thermoactinomyces trên môi trường có avicel nếu bổ
sung nước chiết nấm men hay pepton thì khả năng sinh C1, C2 sẽ tăng lên.
Cơ chế phân giải xenluloza
Quá trình phân giải xenluloza của VSV ñược thực hiện bởi phức hệ enzym
xenlulaza. Phức hệ này gồm 3 enzym chủ yếu sau ñây:
- Endoglucanaza hay CMCaza có khả năng cắt ñứt các liên kết bên trong
phân tử xenluloza làm giảm nhanh chiều dài chuỗi, làm tăng chậm các nhóm khử,
thủy phân liên kết β – 1,4 glucozit một cách tùy tiện và giải phóng xenlodextrin,
xenlobioza và glucoza. Enzym này phân giải mạnh mẽ các xenluloza hòa tan nhất là
dạng xenluloza vô ñịnh hình nhưng hoạt ñộng rất yếu ở vùng kết tinh.
- Exoglucanaza có khả năng tấn công chuỗi xenluloza từ ñầu không khử và
giải phóng xenlobioza và glucoza. Enzym này không phân giải xenluloza kết tinh
cũng như các xenluloza hòa tan, tác dụng yếu lên CMC nhưng hoạt ñộng mạnh lên
E
2
: Xenlobiohydrolaza E
4
: Exoglucozidaza
Con ñường (4) E
4
là enzym xúc tác, nhưng trong trường hợp còn có cả E
1
hay E
2
có khi cả hai enzym này cùng xúc tác với E
4.
Con ñường (5) ngoài E
1
còn có cả E
2
cùng xúc tác.
Klyosov (1995) khẳng ñịnh các thành phần trên ñi theo con ñường nào phụ
thuộc vào cấu trúc phân tử cơ chất và mức ñộ polime hóa, ñiều kiện thủy phân,
thành phần phức hợp xenlulaza và một số yếu tố khác.
Vi sinh vật phân giải xenluloza:
Trong tự nhiên, khu hệ VSV có khả năng phân giải xenluloza rất ña dạng và
phong phú ngoài nấm mũ lớn (Mushrooms) còn bao gồm cả vi khuẩn, nấm, xạ
khuẩn. ðể phân giải xenluloza tự nhiên ñòi hỏi sự tham gia phối hợp của phức hệ
enzym xenlulaza rất phức tạp. Các VSV thường không có khả năng tạo ra ñược một
tỉ lệ các enzym cân ñối. Vì thế trong quá trình phân giải xenluloza cần có sự hiệp
ñồng ñể tạo ra phức hệ enzym xenlulaza hoàn chỉnh.
viride. Nguồn cacbon thích hợp cho tổng hợp xenlulaza ở Aspergillus fumigatus ưa
ấm và ưa nhiệt là giấy lọc hay rơm nghiền. Ở Aspergillus tereus là giấy lọc còn ở
Trichoderma viride là hỗn hợp cám và củ cải ñường. Bổ sung các chất dễ ñồng hóa
như gluco xenlobioza vào môi trường nuôi cấy chứa xenluloza có thể làm pH của
môi trường giảm ñi cùng sự giảm hoạt tính xenlulaza của các chủng nấm
Trichoderma.
Các loài nấm phân giải xenluloza thường gặp trong ñống ủ như: Alternaria,
Aspergillus, Chaetominum, Copprinus, Fomes, Fusarium, Myrotheccium, Penicillium,
Polypones, Rhizoctonia, Rhizopus, Trichoderma, Verticilli …
+ Jacob (1908) ñã nhận ñịnh về Vi khuẩn (VK) như sau: ðã có rất nhiều công
trình nghiên cứu về VK phân giải xenluloza. Năm 1785 lần ñầu tiên L.Popov ñã phát
hiện ra rằng các VK kỵ khí tham gia vào quá trình lên men xenluloza. Thế kỷ 19 các
nhà khoa học ñã phân lập ñược một số VSV kỵ khí có khả năng phân giải xenluloza
từ phân và dạ cỏ của ñộng vật nhai lại.
Sin (1951) cho rằng vi khuẩn cũng có khả năng phân giải xenluloza nhưng
cường ñộ không mạnh bằng nấm sợi. Do vậy ñể phân giải xenluloza tự nhiên, các
loài VK khác nhau phải phối hợp với nhau ñể cùng phân giải trong mối quan hệ hỗ
sinh. Các VK hiếu khí có khả năng phân giải xenluloza khá mạnh như
Cellulomonas, Vibrio, Archomobacter. Một số niêm vi khuẩn có khả năng này thì
ñáng chú ý là Cytophara, Sporocytophara, Soragium…
+ Xạ khuẩn (XK): Bên cạnh nấm và VK, XK cũng có khả năng phân giải
xenluloza, ñáng chú ý là Streptomyces, Actinomyces, Nocardia, Mycromonospora.
Sin (1951) nhận ñịnh XK phân giải xenluloza ñược phân lập từ các mẫu ñất,
mùn rác, mẫu bùn, những nơi có chứa xenluloza. Người ta thường sử dụng XK ñặc
biệt là Streptomyces trong việc phân hủy rác sinh hoạt. Những XK này thường
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15
thuộc nhóm ưa nhiệt, sinh trưởng, phát triển tốt ở nhiệt ñộ 45
quan trọng lắm, nhưng nếu xảy ra quá trình yếm khí sẽ sinh ra nhiều axit hữu cơ do ñó
làm giảm pH của ñống ủ. Cho cacbonat, vôi và các chất có tính kiềm khác vào trong