1
LÝ LUẬN VỀ VIỆC THÀNH LẬP CƠ CHẾ BẢO HIẾN Ở NƯỚC TA HIỆN
NAY
I. Phần mở đầu
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Cơ chế bảo hiến theo nghĩa hiện nay xuất hiện đầu tiên ở Mỹ vào thế kỉ XIX.
Và cho đến nay nó đã xuất hiện ở đa số các quốc gia dưới nhiều hình thức khác
nhau như Tòa án hiến pháp, Hội đồng bảo hiến….Ở Việt Nam, Cơ chế bảo
hiến đã ra đời trong bản Hiến pháp năm 1946 và tiếp tục hoàn thiện trong các
bản hiến pháp năm 1959, 1980 và 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001và gần đây
nhất là sửa đổi năm 2013. Tuy nhiên hiện nay ở nước ta chưa có một cơ quan
bảo hiến chuyên trách độc lập nào. Sự phát triển của các cơ chế bảo hiến trên
thế giới và những kết quả mà chúng mang lại cùng với mục tiêu xây dựng nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở trong nước đòi hỏi chúng ta cần có cách
nhìn khác hơn về cơ chế bảo hiến. Vì vậy mà việc nghiên cứu về cơ chế bảo
hiến là rất cần thiết. Trong nội dung bài này, tôi xin được đề cập đến.
Cơ chế bảo hiến của nước ta hiện nay như thế nào? Cơ chế này có hiệu quả
không? Nếu không thì cơ chế nào sẽ phù hợp với nước ta?
Đã xuất hiện từ lâu và việc nghiên cứu này nhưng vẫn còn nhiều ý kiến tranh
cãi khác nhau.Đã xuất hiện trong dự thảo hiến pháp sửa đổi vài nhận được rất
nhiều ý kiến tán thành, tuy nhiên hiện nay bản hiến pháp đã được thông qua
nhưng vẫn không ghi nhận một cơ chế bảo hiến nào. Và với tôi một người đang
học tập, nghiên cứu về khoa học pháp lý cũng mong muốn góp ý kiến về vấn đề
này. Với đề tài lý luận về cơ chế bảo hiến ở nước ta hiện nay tôi mong muốn sẽ
tìm hiểu sâu hơn về vấn đề và góp ý kiến trảo đổi về vấn đề này.
1
2
2. Mục đích nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài “ lý luận cơ chế bảo hiến tại Việt Nam” để làm sang tỏ quá
trình hình thành, tồn tại và phát triển của cơ chế bảo hiến tại Việt Nam. Những
cơ chế bảo hiến tồn tại trên thế giới và các phương án bảo hiến mà Việt Nam có
3
4
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƠ CHẾ BẢO HIẾN
I. Khái niệm về bảo hiến, cơ chế bảo hiến
1. Khái niệm về bảo hiến
a. Theo nghĩa hẹp: bảo hiến (bảo vệ hiến pháp) về ý nghĩa cốt lõi được hiểu là
kiểm soát tính hợp hiến (hợp với hiến pháp) của các đạo luật, là xem xét
những đạo luật được đưa ra có phù hợp với tinh thần và nội dung của Hiến
pháp hay không. Theo cách hiểu này, bảo hiến không nhằm vào các văn bản
dưới luật. Sự bảo hiến chỉ nhằm vào những đạo luật do Quốc hội (Nghị viện)
đưa ra. Cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước là bên có thẩm quyền Bảo
hiến.
b. Theo nghĩa rộng: bảo hiến được hiểu là kiểm soát tính hợp hiến của các hành
vi của các định chế chính trị được quy định trong Hiến pháp (bao gồm cả
luật của Quốc hội và các văn bản dưới luật) . Thực tiễn của chế độ bảo hiến
ở các nước cho thấy, các định chế bảo hiến được sinh ra không chỉ đơn
thuần là kiểm soát tính hợp hiến của hành vi lập pháp. Toà án Hiến pháp ở
nhiều quốc gia châu Âu bên cạnh việc kiểm soát tính hợp hiến của các đạo
luật của Nghị viện còn thực hiện nhiều chức năng khác để bảo vệ nội dung
và tinh thần của Hiến pháp như giải quyết tranh chấp giữa lập pháp và hành
pháp, giữa liên bang và tiểu bang, giữa trung ương và địa phương; kiểm soát
tính hợp hiến trong hành vi của Tổng thống cũng như của các quan chức
trong bộ máy hành pháp
2. Cơ chế bảo hiến [1]:
a. Theo nghĩa hẹp: cơ chế bảo hiến là một thiết chế được tổ chức và hoạt động
theo những nguyên tắc và quy định của pháp luật để thực hiện các biện pháp
4
5
nhằm bảo đảm cho Hiến pháp được tôn trọng, chống lại mọi sự vi phạm
đề tranh chấp giữa liên bang và chủ thể của các bang. Ở đây không nằm ngoài
phạm vi là một ngành luật, mà nở mô hình này còn bảo vệ tinh thần của Hiến
pháp.
Mô hình này có ưu điểm: là bảo hiến không trừu tượng vì nó liên quan đến
những vụ việc cụ thể nên bảo vệ Hiến pháp một cách cụ thể. Mọi hành vi trong
bất cứ lĩnh vực nào cũng được xem xét dưới góc độ vi hiến, để xử lý. Nhờ đó
mà mô hình này dễ áp dụng rộng rãi và các nhà thực hiện việc bảo hiến gặp ít
khó khăn hơn trong việc áp dụng cơ chế để bảo vệ Hiến pháp.
Nhược điểm của mô hình này đó là phán quyết của Tòa án về tính hợp hiến chỉ
có hiệu lực ràng buộc đối với các bên tham gia tố tụng và khi một đạo luật được
Tòa án xác định là trái Hiến pháp thì đạo luật đó không còn giá trị áp dụng và
chỉ có hiệu lực bắt buộc đối với các Tòa án cấp dưới, nếu là phán quyết của Tòa
án tối cao thì có giá trị bắt buộc đối với cả hệ thống tư pháp. Như vậy, Tòa án
không có thẩm quyền hủy bỏ đạo luật bị coi là trái với Hiến pháp và về hình
thức đạo luật đó vẫn còn hiệu lực nhưng trên thực tế sẽ không được Tòa án áp
dụng vì truyền thống án lệ. Ở Mỹ không có phân biệt án cho các loại toà và đều
do một thẩm phán xét xử.,đặc trưng của cơ chế tài phán hệ thống Toà án Mỹ: sự
kiểm tra mang tính phổ biến (đạo luật, các văn bản quy phạm pháp luật, các quy
định hành chính), mỗi toà án đều có chức năng kiểm tra, giám sát, phán quyết
về tính hợp hiến khi xem xét các vụ việc cụ thể, phán quyết của Toà án trong
những trường hợp đó khôg mang tính phổ biến đối với mọi trường hợp trước đó
mà chỉ có giá trị đối với các bên đương sự. Tức là quy phạm pháp luật trong
6
7
trường hợp này không bị bãi bỏ. Tuy nhiên, với truyền thống án lệ thì nó gần
như mất hiệu lực trên thực tế. Do đó, tạo ra một hệ thống các đạo luật tuy còn
thời hiệu áp dụng nhưng không thể áp dụng. Sự trùng lặp giữa án lệ, các đạo
luật làm cho tòa án cấp dưới khó áp dụng.
2. Mô hình châu Âu ( mô hình tập trung)
Thẩm quyền của các cơ quan bảo hiến chuyên trách trong mô hình châu Âu giới
quyền bảo hiến được trao cho cả cơ quan bảo hiến chuyên trách (tòa án Hiến
pháp) và các Tòa án thuộc hệ thống tư pháp, trong đó thẩm quyền của Tòa án
Hiến pháp và Tòa án Tối cao đối với những vụ việc cụ thể được quy định ngay
trong Hiến pháp, các tòa án khác khi giải quyết một vụ việc cụ thể có quyền
xem xét tính hợp hiến của các đạo luật và được quyền không áp dụng các đạo
luật được cho là không phù hợp.
Như vậy, các mô hình bảo hiến chủ yếu trên thế giới dù có khác nhau nhưng đều
có chung mục đích là bảo vệ Hiến pháp, bảo vệ tính tối cao của Hiến pháp. Các mô
hình đều có những ưu khuyết điểm riêng. Nhưng đó đều là mô hình bảo hiến theo
cơ chế phán quyết của Toà án (cơ chế phán quyết). Còn mô hình bảo hiến của
chúng ta hiện nay là cơ chế giám sát, không phải là phán quyết. Ở nước ta chưa có
sự tồn tại độc lập của bất kỳ một cơ quan nào thực hiện chức năng trên nên việc
thành lập một cơ quan như vậy là vô vùng cần thiết.
8
9
Chương 2
MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG CƠ CHẾ BẢO HIẾN TẠI VIỆT NAM VÀ CÁC
PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN
I. Cơ chế bảo hiến – nhu cầu tất yếu
Như phần mở đầu đã có đề cập, một trong những đặc trưng chung nhất của Nhà
nước pháp quyền là tính tối cao của Hiến pháp, pháp luật, trước hết là vị trí tối
thượng của Hiến pháp. Hiến pháp và Nhà nước pháp quyền, đó là hai yếu tố không
thể tách rời nhau, không thể có cái này mà không có cái kia. “Lý thuyết về Hiến
pháp (Chủ nghĩa lập hiến) đồng thời cũng là lý thuyết về Nhà nước pháp quyền.
Nội dung, yêu cầu của Hiến pháp cũng chính là nội dung, yêu cầu của Nhà nước
pháp quyền Nói cách khác, nội dung của Hiến pháp điều chỉnh những vấn đề
thuộc về nội dung, yêu cầu của Nhà nước pháp quyền”[3]. Vì vậy, Hiến pháp, tính
tối thượng của Hiến pháp trở thành một đòi hỏi không thể tách rời Nhà nước pháp
quyền. Nhưng sự hiện diện của Hiến pháp chỉ là yếu tố cần chứ chưa phải là đủ của
một chế độ dân chủ, của một Nhà nước pháp quyền. Vì vậy, để chế độ Hiến
đến tính dân chủ của một Nhà nước, một chế độ, một xã hội và đến sự tồn vong
của một thể chế. Tính tối cao của Hiến pháp được quy định trong Hiến pháp nước
ta như sau Điều 119 Hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung: “Hiến pháp là luật cơ bản
của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất. Mọi
văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp. Mọi hành vi vi phạm Hiến
pháp đều bị xử lý”. Tính tối cao (tối thượng) của Hiến pháp không phải chỉ được
khẳng định trên văn bản bằng những con chữ mà chúng ta cần phải có cơ chế đảm
bảo nó được thực hiện trong thực tế. Do đó, đòi hỏi tất yếu ở đây là cần có cơ chế
10
11
bảo vệ.
Không những vậy, cơ chế bảo hiến còn là một đòi hỏi, một nhu cầu mang tính
nguyên tắc. Đó chính là nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa. Pháp chế xã hội chủ
nghĩa được hiểu là chế độ tuân thủ nghiêm chỉnh, chính xác hiến pháp và luật của
mọi chủ thể của các quan hệ pháp luật. Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa
Việt Nam năm 1992 sửa đổi bổ sung quy định tại điều 2 “Nhà nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân,
do Nhân dân, vì Nhân dân”. Nguyên tắc này cũng được coi là một trong những
nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ở Việt Nam.
Trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp, cần triệt để tôn trọng, thi hành
nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật. Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
đòi hỏi phải bảo đảm tính thống nhất của pháp chế, bảo đảm tính tối cao của hiến
pháp và luật, bảo đảm và bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của công dân đã
được pháp luật quy định, ngăn chặn kịp thời và xử lí nhanh chóng, công minh mọi
hành vi vi phạm pháp luật, bảo đảm sự thống nhất giữa pháp chế và tính hợp lí,
công bằng”[5]. Như vậy, nguyên tắc này đã khẳng định tính tối cao của Hiến pháp.
Đã là nguyên tắc thì phải được tuân thủ nghiêm ngặt. Nhưng trên thực tế, nguyên
tác này bị vi phạm là khó tránh khỏi do nước ta chưa có một cơ quan bảo hiến nào.
Do đó, để ngăn ngừa và xử lí việc vi phạm, một nhu cầu tất yếu là phải có biện
pháp bảo vệ. Cơ chế bảo hiến đáp ứng được nhu cầu đó.
13
9. Quyết định thành lập, bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ của Chính phủ; thành
lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; thành lập, bãi bỏ cơ
quan khác theo quy định của Hiến pháp và luật;
10. Bãi bỏ văn bản của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính
phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân
tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội;
…….
Điều 74 :”Uỷ ban thường vụ Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau
đây:
…
2- Ra pháp lệnh về những vấn đề được Quốc hội giao; giải thích Hiến pháp,
luật, pháp lệnh;
3- Giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp
lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; giám sát hoạt động của
Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm
toán Nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội thành lập;
4- Đình chỉ việc thi hành văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà
án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật,
nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội quyết định việc bãi bỏ văn bản
đó tại kỳ họp gần nhất; bãi bỏ văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ,
Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với pháp lệnh,
nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;
….
13
14
7- Giám sát và hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân; bãi bỏ nghị
quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với
Hiến pháp, luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; giải tán Hội đồng
giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước. Quốc hội thực hiện
quyền giám sát tối cao của mình tại kỳ họp Quốc hội trên cơ sở hoạt động giám
sát của ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, ủy ban của Quốc hội,
Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội”. Còn hoạt động giám sát của
từng cơ quan lại bao gồm cả hoạt động bảo vệ tính tối cao của Hiến pháp thông
qua việc xem xét các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước
khác có trái với Hiến pháp hay không. Điều này được thể hiện qua các quy định
của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003 về hoạt động giám sát của
các cơ quan này:
- Quốc hội có quyền xem xét văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước,
ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân
tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật,
nghị quyết của Quốc hội[7].
- Ủy ban thường vụ Quốc hội có quyền xem xét văn bản quy phạm pháp luật
của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát
nhân dân tối cao có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội,
pháp lệnh, nghị quyết của ủy ban thường vụ Quốc hội[8].
- Hội đồng dân tộc và ủy ban của Quốc hội có quyền xem xét văn bản quy phạm
pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan
15
16
ngang bộ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, văn bản quy
phạm pháp luật liên tịch giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở trung ương
hoặc giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cơ quan trung ương của tổ chức
chính trị – xã hội có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội,
pháp lệnh, nghị quyết của ủy ban thường vụ Quốc hội và văn bản quy phạm pháp
luật của cơ quan nhà nước cấp trên. Như vậy, cơ chế bảo hiến của nước ta hiện nay
là cơ chế giám sát theo mô hình của Quốc hội vì Quốc hội giữ vai trò giám sát tối
cao việc tuân thủ theo Hiến pháp. Đây là mô hình này cũng bộc lộ nhiều khiếm
khuyết. Quá nhiều chủ thể, nhiều tầng nấc làm hạn chế và làm lu mờ vai trò giám
giữ nguyên khi Chính phủ ban hành Nghị định 17 năm 2006 để sửa đổi, bổ sung
một số điều của Nghị định 181. Cho đến ngày 13-6-2006, khi Bộ Tư pháp cùng Bộ
Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư liên tịch số 04 hướng dẫn thẩm
quyền công chứng, chứng thực các giao dịch đất thì mọi sự đã thay đổi. Cụ thể,
nếu bên có bất động sản là tổ chức trong nước thì hợp đồng phải được công chứng
tại phòng công chứng, không được đến UBND cấp xã. Thông tư này rõ ràng và dễ
áp dụng nhưng ngặt nỗi lại “đá” nghị định lại trở thành làm khổ dân. Dân đang
đứng “giữa hai con đường” không biết theo ai. Hồ sơ nộp đến cơ quan chức năng
thì vẫn nằm đấy do cơ quan không bíêt áp dụng văn bản nào và không dám chứng
vì sợ mình không có thẩm quyền! Tuy nhiên, vụ việc vẫn chưa có cơ quan chức
năng nào lên tiếng.
Gần đây là Thông tư 27/2012 của Bộ Công an quy định bắt buộc phải điền họ tên
cha mẹ lên CMND. Điều này đã gặp phải phản ứng khá dữ dội từ phía dư luận.
Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật (Bộ Tư pháp) đã vào cuộc xem xét và
“tuýt còi” vì trái với quy định trong Bộ luật Dân sự và Công ước Quốc tế về quyền
17
18
trẻ em mà Việt Nam đã ký kết tham gia. Thủ tướng Chính phủ sau đó đã yêu cầu
Bộ Công an tiến hành sửa đổi Thông tư 27 và Nghị định 170/2007 theo hướng bỏ
việc ghi họ tên cha mẹ trên CMND. Tuy nhiên cũng đã có hàng chục nghìn người
dân ở Hà Nội đang phải mang CMND này vì vừa được cấp trước khi quy định bị
chỉ trích.
Ngoài ra, Thông tư 04/2013 của Bộ GD-ĐT sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy
chế thi tốt nghiệp THPT đã quy định người có bằng chứng về vi phạm quy chế thi
phải có trách nhiệm gửi cho nơi tiếp nhận theo quy định; không được phát tán
thông tin cho người khác, dưới bất kỳ hình thức nào. Sau khi dư luận lên tiếng
phản ánh quy định này trái với luật Khiếu nại tố cáo và Cục Kiểm tra văn bản quy
phạm pháp luật có ý kiến, Bộ GD-ĐT đã phải ban hành ngay Thông tư 06 sửa đổi,
bổ sung Thông tư 04, bỏ quy định này.
Gần đây nhất là thông tư liên tịch của Bộ Công an, Bộ Công thương và Bộ Khoa
III. Các phương án về cơ chế bảo hiến ở nước ta hiện nay
Dường như ở nước ta không còn tranh luận về sự cần thiết thành lập cơ chế bảo
hiến nữa, nhất là khi có những tuyên bố, quy định của Hiến pháp và pháp luật
về nhà nước pháp quyền, tính tối thượng của hiến pháp,… Nhận thấy được yêu
cầu của thực tiễn cũng như tầm quan trọng của cơ chế bảo hiến hữu hiệu, tại
Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng Sản Việt Nam, báo cáo
chính trị của ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX (ngày 10/04/2006) đặt ra
19
20
yêu cầu: “Xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám xác tính hợp hiến, hợp
pháp của các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền; “xây dựng
cơ chế phán quyết về những hành vi vi phạm hiến pháp trong hoạt động lập
pháp, hành pháp và tư pháp”. Quan điểm của Đảng ta đã khẳng định chúng ta
phải có một cơ chế phán quyết. Đó là một định hướng tiến bộ và đúng đắn, phù
hợp yêu cầu thực tế. Đó là định hướng tài phán Hiến pháp. Đây là một định
hướng để xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề thành lập cơ chế tài phán hiến pháp ở
nước ta, nhưng chung quy lại hiện nay, có 3 phương án khác nhau về cơ chế tài
phán hiến pháp ở nước ta[9]:
Phương án 1: Quốc hội thành lập ủy ban giám sát hiến pháp trực thuộc Quốc
hội để giúp Quốc hội thực hiện việc bảo hiến đối với các văn bản pháp
luật do Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối
cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, chính quyền địa phương ban hành. Thành
viên của ủy ban giám sát hiến pháp phải là các đại biểu Quốc hội được bầu theo
thủ tục thông thường. Ủy ban giám sát hiến pháp có trách nhiệm trình báo cáo
kết quả giám sát của mình để Quốc hội xem xét và quyết định.Với mô hình ủy
ban giám sát hiến pháp này, Quốc hội tiếp tục được khẳng định là cơ quan
quyền lực nhà nước cao nhất. Về thực chất ủy ban giám sát hiến pháp chỉ là một
cơ quan thuộc Quốc hội, một cơ cấu mang tính giúp việc chứ không thể trở
thành một cơ cấu có quyền quyết định về tính hợp hiến của các văn bản pháp
thực hiện quyền lực nhà nước từ phía Đảng cầm quyền - Đảng Cộng sản VN.
Nếu phương án này được xây dựng thì khả năng độc lập và sức mạnh tài phán
của cơ quan bảo hiến này được đảm bảo trước hết bởi Đảng Cộng sản VN.Với
mô hình này, người đứng đầu cơ quan bảo hiến (có thể là tòa án hiến pháp) sẽ
21
22
do Quốc hội bầu ra trong số các đại biểu Quốc hội, các thành viên của các cơ
quan này có thể do Quốc hội hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hộiphê chuẩn theo
đề nghị của Chủ tịch nước.Cơ chế bảo hiến với mô hình cơ quan bảo hiến độc
lập tất yếu sẽ làm thay đổi các quan hệ tổ chức quyền lực nhà nước, trong đó
vai trò của Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất sẽ phải được nhận
thức lại.
Cơ chế đã có, nhưng để lựa chọn một mô hình thích hợp thì cần phải căn nhắc.
Để có thể lựa chọn mô hình, cần thiết phải học tập kinh nghiệm thế giới vì họ đi
trước ta đồng thời phải nhận thấy ưu khuyết điểm của từng mô hình để lựa chọn
mô hình phù hợp nhất.
Tuy nhiên, dù theo mô hình nào thì cũng phải triệt để quan điểm : Triệt để đảm
bảo bản chất Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tuyệt đối tránh chệch hướng xã hội
chủ nghĩa; Đảng cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo (thực tế cơ chế này do
Đảng ta khởi xướng); bảo đảm nguyên tắc độc lập, cơ quan thực hiện quyền tài
phán Hiến pháp phải có khả năng độc lập trong việc đưa ra phám quyết về tranh
chấp, vi phạm Hiến pháp.
Sau đây là những ưu khuyết điểm của các phương án trên[10]:
Về phương án 1, ưu điểm của phương án này là không làm cồng kềnh thêm bộ
máy nhà nước hiện hành, thành lập thêm Ủy ban giám sát Hiến pháp của Quốc
hội cũng tương tự như vừa qua Quốc hội quyết định thành lập thêm Ủy ban Tư
pháp và Ủy ban Tài chính - Ngân sách được tách ra từ Ủy ban pháp luật và Ủy
ban Kinh tế và Ngân sách của Quốc hội. Thành lập cơ quan này không cần sửa
đổi Hiến pháp, chỉ sửa đổi Luật tổ chức Quốc hội, Quốc hội vẫn giữ được vai
trò là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, vẫn thực hiện chức năng giám sát
luật của Quốc hội không phải dường như mâu thuẫn với quy định của Hiến
pháp hiện hành: “Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất”, “Quốc hội
23
24
thực hiện quyền giám sát tối cao” (Điều 69 và Điều 70 của Hiến pháp sửa đổi)
như một số người e ngại. Vì chúng ta có thể sửa đổi những quy định này
của Hiến pháp hiện hành, mà theo tôi là để “phán quyết về những vi phạm Hiến
pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp” như Văn kiện Đại hội
Đảng lần thứ X đã đề ra, không thể trao cho TATC thẩm quyền này. Hơn nữa,
theo tôi, chức năng, thẩm quyền xét xử các vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, lao
động và hành chính của TATC hiện nay và trong tương lai ở nước ta còn quá
tải, nên TATC của nước ta không thể chuyên tâm chăm lo lĩnh vực mới là giám
sát Hiến pháp và phán quyết các vi phạm Hiến pháp được. Đấy là chưa kể yêu
cầu về: tiêu chuẩn thẩm phán, số lượng thẩm phán, cách thức bổ nhiệm thẩm
phán, nhiệm kỳ của thẩm phán, thủ tục tố tụng của TATC (Tòa án tư pháp)
và Tòa án Hiến pháp nếu được thành lập ở nước ta sẽ là rất khác nhau.
Về phương án 3, Theo phương án này, Tòa án Hiến pháp sẽ là một thiết chế
hoàn toàn mới trong cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước ta, được thành lập ra để
chuyên thực hiện nhiệm vụ bảo vệ tính tối cao của Hiến pháp. Chánh án và các
Thẩm phán Tòa án Hiến pháp với một nhiệm kỳ duy nhất và dài (10 hay 15
năm và không được tái bổ nhiệm) có thể sẽ do Chủ tịch nước bổ nhiệm sau khi
được Quốc hội chuẩn y. Nhiệm kỳ Tòa án Hiến pháp khi phán quyết về các vi
phạm Hiến pháp (hay không vi phạm) trong hoạt động lập pháp, hành pháp và
tư pháp là theo nguyên tắc độc lập và chỉ tuân theo Hiến pháp chứ không phải
tuân theo pháp luật như Tòa án nhân dân các cấp khi xét xử các vụ án hình sự,
dân sự, kinh tế… Tính độc lập của cơ quan bảo vệ Hiến pháp đảm bảo tính cân
bằng trong quan hệ quyền lực giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp,
quyền hành pháp và quyền tư pháp.
Thành lập Tòa án Hiến pháp để phán quyết các vi phạm hiến pháp trong hoạt
động lập pháp, hành pháp và tư pháp là phương án được áp dụng khá phổ biến