ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG LƯU QUỐC VIỆT NGHIÊN CỨU NHỮNG VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG CỦA
MỘT SỐ DỰ ÁN THỦY ĐIỆN TẠI VÙNG TÂY BẮC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
HÀ NỘI – 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG LƯU QUỐC VIỆT
NGHIÊN CỨU NHỮNG VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG CỦA
cùng tôi trong suốt thời gian qua.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà nội, ngày 05 tháng 11 năm 2014
Học viên Lưu Quốc Việt
LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Lưu Quốc Việt
Lớp: K9
Chuyên ngành: Môi trường trong phát triển bền vững (Chương trình đào tạo thí điểm)
Khóa học: 2012 - 2014
Tôi xin cam đoan quyển luận văn được chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn
của PGS.TSKH Nguyễn Xuân Hải với đề tài nghiên cứu trong luận văn “Nghiên cứu
những vấn đề môi trường của một số dự án thuỷ điện tại vùng Tây Bắc”.
Đây là đề tài nghiên cứu mới, không trùng lặp với các đề tài luận văn nào
trước đây, do đó không có sự sao chép của bất kì luận văn nào. Nội dung của luận
văn được thể hiện theo đúng quy định, các nguồn tài liệu, tư liệu nghiên cứu và sử
dụng trong luận văn đều được trích dẫn nguồn.
Nếu xảy ra vấn đề gì với nội dung luận văn này, tôi xin chịu hoàn toàn trách
nhiệm theo quy định./.
Hà Nội, ngày 05 tháng 11 năm 2014
NGƯỜI VIẾT CAM ĐOAN
Học viên
2.2.2. Đánh giá tác động của việc tái định cư đến môi trường xã hội của một
số dự án thủy điện 16
2.2.3. Định hướng và đề xuất biện pháp khắc phục những vấn đề còn tồn tại
của công tác tái định cư 17
2.2.4. Hiện trạng thực hiện quá trình thiết kế thu dọn lòng hồ của một số dự
án thủy điện 19
2.2.5. Đánh giá công tác thiết kế và thực hiện thu dọn lòng hồ của một số
dự án thủy điện) 20
2.3. Phương pháp nghiên cứu 21
2.3.1. Phương pháp điều tra khảo sát thực điạ, tham vấn ý kiến cộng đồng 21
2.3.2. Phương pháp phân tích dữ liệu 21
2.3.3. Phương pháp phân tích, tính toán DO 22
2.3.4. Phương pháp chuyên gia 22
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23
3.1. Quá trình thiết kế và thực hiện thu dọn lòng hồ thủy điện Lai Châu 23
3.1.1. Cơ sở thực hiện thiết kế thu dọn lòng hồ thủy điện Lai Châu 23
3.1.2. Phương pháp thiết kế thu dọn lòng hồ thủy điện Lai Châu 31
3.1.3. Đề xuất các phương án thiết kế thu dọn lòng hồ thủy điện Lai Châu 36
Bảng 2.1 - Các thông số chính nhà máy thủy điện Lai Châu 12
Bảng 3.1 - Hàm lượng DO tại các vị trí lấy mẫu đại diện qua các đợt quan trắc 27
Bảng 3.2 - Diện tích & Sinh khối thực vật chia theo từng thảm trong vùng ngập 32
Bảng 3.3 - Diện tích và sinh khối các khu lựa chọn thu dọn theo thảm TV 39
Bảng 3.4 - Sinh khối PHN, PHC/ha dự kiến thu dọn vùng hồ TĐ Lai Châu 40
Bảng 3.5 - Sinh khối phân hủy nhanh, chậm từng khu vực dự kiến thu dọn 40 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Vùng Tây Bắc là vùng miền núi phía Tây của miền Bắc Việt Nam, có chung
đường biên giới với Lào và Trung Quốc. Vùng này có khi được gọi là Tây Bắc Bắc
Bộ và là một trong 3 tiểu vùng của Bắc Bộ Việt Nam (2 tiểu vùng còn lại là Đông
Bắc và Đồng bằng sông Hồng).
Tây Bắc là nơi có tiềm năng về đất đai, tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản
và thuỷ điện nhất cả nước – đây là lợi thế để phát triển các ngành công nghiệp khai
thác, chế biến khoáng sản, thuỷ điện, sản xuất giấy, sản xuất xi măng, chế biến gỗ…
Trong thời gian qua, Vùng Tây Bắc được Đảng, Chính phủ quan tâm đặc biệt
và có nhiều chính sách đầu tư, ưu đãi nhằm nâng cao đời sống kinh tế-xã hội. Thực
hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW của Bộ Chính trị, Chính phủ đã giành một khối lượng
vốn khá lớn tập trung vào vùng, thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia,
chương trình 135, các dự án Quốc gia, các dự án sử dụng trái phiếu Chính phủ, công
trái giáo dục, các hỗ trợ có mục tiêu khác Nhiều dự án quốc gia đã và đang triển
khai đầu tư tại đây là tiền đề cho việc phát triển kinh tế xã hội tại vùng Tây Bắc.
Các địa phương trong vùng Tây Bắc thuộc Danh mục các địa bàn có điều
lưu vực. Hơn nữa, với các nhà máy thủy điện đã đi vào vận hành chưa có một
nghiên cứu đánh giá tác động nào được thực hiện để đánh giá hiệu quả và những
vấn đề môi trường phát sinh bởi nhà máy. Xuất phát từ thực tế trên, việc xác định và
đánh giá những tác động môi trường đang nảy sinh ở khu vực Tây Bắc là hết sức
cần thiết. Đây là cơ sở để đưa ra được các biện pháp giảm thiểu với mục tiêu phát
triển các thủy điện bền vùng tại đây.
1.1.1. Những vấn đề môi trường của các nhà máy thủy điện
Những tác động môi trường điển hình từ các nhà máy thủy điện đã được nhận
biết và đánh giá tập trung vào những vấn đề sau:
- Ngập lụt và xói lở bờ sông do thay đổi chế độ nước hạ lưu và vận hành xả
không đúng quy trình.
- Hạn hán và suy giảm chất lượng nước hạ lưu do lưu lượng xả của các nhà
máy phụ thuộc vào chế độ vận hành nhà máy, hơn nữa hầu hết các nhà máy không
có cửa xả đáy để có thể xả trong trường hợp mực nước hồ thấp dưới mực nước chết.
- Suy giảm dòng chảy bùn cát ở hạ du do công trình không có thiết kế cống xả
đáy làm thiếu hụt lượng phù xa bổ sung độ màu cho đất nông nghiệp hạ lưu, cát sạn
sỏi, thêm vào đó là hiện tượng khai thác cát đang diễn ra khó kiểm soát làm ảnh
hưởng hình thái sông và sinh kế của người dân sống dựa vào tài nguyên này.
- Suy giảm tài nguyên sinh học nhất là rừng. Mất rừng và ảnh hưởng đến đa
dạng sinh học với diện tích rừng ngập trong lòng hồ cùng toàn bộ diện tích đất sản
4
xuất của khu vực này bị mất, thêm vào đó nạn chặt phá rừng ngày càng gia tăng
mạnh do khai thác gỗ và người dân không có đất sản xuất. Rừng phòng hộ đầu
nguồn bị lâm tặc chặt phá do lợi dụng địa thế, đường thủy trên lòng hồ và thực vật
chết dần vì ngập nước làm cho tốc độ suy giảm tài nguyên rừng quá nhanh ở khu
vực xung quanh dự án kéo theo đó là suy giảm đa dạng sinh học. Hậu quả có thể
thấy được đó là hiện tượng rửa trôi, xói mòn đất xung quanh gây bồi lắng lòng hồ
làm giảm dung tích lòng hồ do, làm ảnh hưởng đến khả năng cắt lũ.
b. Hạn hán, sa mạc hóa hạ du và nhiễm mặn
Việc lấy nước bất hợp lý, không tuân thủ chế độ xả tối thiểu và không xem
xét tính toán đến dòng chảy môi trường về hạ du của các NMTĐ trên các hệ thống
sông đã gây ra những tác động: (1) Thiếu nước sản xuất nông nghiệp ở hạ du do
không đủ nước cho các công trình thủy lợi, đặc biệt là các trạm bơm làm cho đất bị
bạc màu, giảm năng suất cây trồng; (2) Nguy cơ sa mạc hóa hạ lưu, do việc tích
nước của các hồ chứa đã dẫn đến hình thành các đoạn sông chết sau đập, nhiều diện
tích đất nông nghiệp không đủ nước tưới gây khô hạn và sa mạc hóa; (3) Xói mòn
và sạt lở bờ sông; (4) Vấn đề nhiễm mặn.
Như vậy, các điều kiện về vận hành nhà máy, đặc biệt là loại nhà máy đường
dẫn sau đập cần phải được quy định để giảm tác động tiêu cực về dòng chảy mùa
kiệt và yêu cầu bảo vệ rừng trở nên cấp thiết và bắt buộc đối với các lưu vực sông.
c. Úng ngập vào mùa lũ
Chế độ vận hành của các nhà máy thủy điện và cơ chế lấy nước của các nhà
máy, đặc biệt là các nhà máy loại chuyển dòng sang lưu vực khác sẽ gây ra hiện
tượng ngập lụt bất thường ở lưu vực tiếp nhận, nhiều diện tích đất bị ngập sâu trong
nước, nhiều khu vực ven sông bị sạt lở phá hủy các công trình giao thông, công
trình thủy lợi gặm dần các bãi bồi màu mỡ ven sông, mất mùa do chưa kịp thu
hoạch, ảnh hưởng đến an sinh xã hội, làm đảo lộn sinh hoạt của người dân. 6
d. Vấn đề ổn định cuộc sống của người dân tái định cư, đặc trưng văn hóa và
cơ sở hạ tầng
Với một số dự án nghiên cứu, kết quả khảo sát cho thấy hầu hết các khu tái
định canh và định cư này đều tồn tại nhiều vấn đề như kéo dài thời gian đền bù di
dân, khu tái định canh và định cư được xây dựng nhưng chất lượng không đảm bảo,
không phù hợp với phong tục tập quán và đồng bộ về cơ sở hạ tầng nên người dân
không ổn định được đời sống. Hầu hết đất tái định canh chất lượng không đảm bảo
sở đó áp dụng cách tiếp cận tổng hợp liên ngành khi phân tích vấn đề về môi trường
tại một số dự án thủy điện.
- Tiếp cận hệ thống:
Các thủy điện được xây dựng với mục đích để phát triển kinh tế, nâng cao
đời sống cho nhân dân. Mặc dù vậy việc xây dựng các thủy điện cũng mang lại
nhiều tác động đến vấn đề môi trường tại khu vực.
Các hợp phần môi trường tự nhiên luôn tồn tại trong một thể thống nhất đồng
thời chịu tác động của các quá trình tự nhiên và tác động của con người khai thác tài
nguyên, làm thay đổi tính chất của môi trường tự nhiên thông qua các hoạt động
phát triển kinh tế-xã hội. Việc nghiên cứu một số vấn đề về môi trường tại một số
thủy điện sẽ giúp đưa ra được những đánh giá, nhận xét trên cơ sở tiếp cận hệ thống
môi trường xã hội và tự nhiên của các vùng bị ảnh hưởng do việc xây dựng và hoạt
động cảu các nhà máy thủy điện. Tiếp cận hệ thống là cơ sở đảm bảo các đánh giá ,
nhận cét về một số vấn đề môi trường tại cá thủy điện có tính khách quan cao.Theo
cách tiếp cận này thì các vấn đề về môi trường của các thủy điện tại vùng Tây Bắc
liên quan chặt chẽ đến việc phát triển kinh tế cũng như đảm bảo chất lượng cuộc
sống của con người.
- Tiếp cận tổng hợp:
Như đã nói,việc xây dựng và vận hành các thủy điện mang lại nhiều lợi ích
về kinh tế nhưng cũng lại nảy sinh nhiều vấn đề về môi trường. Vì vậy, để giải
quyết các vấn đề kinh tế của việc xây dựng và vận hành các thủy điện và vấn đề về
8
môi trường mà nó đem lại cần phải áp dụng cách tiếp cận tổng hợp: liên ngành, liên
khu vực, liên cơ quan, liên hệ thống trên cơ sở tôn trọng lợi ích ngành hài hòa với
lợi ích toàn cục.
Tiếp cận tổng hợp tạo sự quản lý thống nhất về không gian cũng như thống
nhất giữa các cấp quản lý trung ương, vùng và địa phương, giữa các ngành, giữa
quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội và quy hoạch sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ
Pháp luật Việt Nam không giải thích khái
niệm tái định cư; tuy nhiên, nhiều văn bản vẫn quy định về tái định cư. Có thể khái
quát rằng, tái định cư là việc bố trí chỗ ở mới cho người bị thu hồi đất mà không
còn chỗ ở nào khác trong phạm vi cấp xã nơi có đất bị thu hồi và phải di chuyển chỗ
ở. Hình thức tái định cư bao gồm: bằng nhà ở, bằng đất ở hoặc bằng tiền.
Luật đất đai 2014 cũng không có khái niệm về tái định cư nhưng vẫn sử dụng
cụm từ tái định cư trong các điều: Điều 85; 86 và 93. Qua đây cho thấy, khái niệm
“tái định cư” thiên về chính sách tạo lập chỗ ở.
Vấn đề “hậu tái định cư”: Các quy định hiện hành liên quan đến tái định cư
đều chỉ dừng lại ở thời điểm hoàn thành khu tái định cư để các hộ dân có thể vào
sinh sống. Pháp luật nước ta thiếu những quy định cần thiết để bảo đảm rằng, người
dân có thể sống, sinh hoạt và ổn định lâu dài tại các khu tái định cư đó. Xây dựng
các quy định cụ thể về hậu tái định cư là một yêu cầu bức thiết hiện nay, đặc biệt
trong tình trạng nhiều hộ gia đình “tái nghèo vì tái định cư”, “khốn quẫn trong vùng
tái định cư” do mất đất sản xuất.
Vấn đề “bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ”: Quy định khu tái định cư phải “bằng
hoặc tốt hơn nơi ở cũ” là quy định mang tính nhân văn sâu sắc. Tuy nhiên, khi
không được hướng dẫn cụ thể, khái niệm này trở thành yêu cầu hình thức, khó xác
định được nội dung. Thực tế cho thấy, tái định cư phải thực sự cải thiện được chất
lượng cuộc sống và sinh hoạt của người dân trên một hay nhiều phương diện. Diện
tích tái định cư xét theo từng hộ có thể bằng hoặc lớn hơn diện tích thửa đất ở cũ
nhưng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, cơ sở hạ tầng xã hội của một khu tái định cư đúng
nghĩa chắc chắn phải cải thiện so với trước đó. Hơn nữa, nếu sử dụng cụm từ “bằng
10
hoặc tốt hơn” thì có hộ sẽ “bằng nơi ở cũ” nhưng có hộ sẽ “tốt hơn nơi ở cũ”; vậy
khi đó liệu có bảo đảm công bằng giữa các hộ dân với nhau?
Định nghĩa theo WB (OP/BP 4.12): Do dự án có thể yêu cầu thu hồi đất và
Tây Bắc.
Vị trí công trình
Công trình xây dựng trên địa phận Thị trấn Nậm Nhùn, huyện Nậm Nhùn,
tỉnh Lai Châu.
Hồ thủy điện Lai Châu sẽ làm ngập một phần đất tự nhiên của 9 xã, thị trấn
thuộc 2 huyện Mường Tè và Nậm Nhùn của tỉnh Lai Châu (TT Nậm Nhùn, xã Nậm
Hàng, Nậm Manh, Nậm Chà, Mường Mô thuộc huyện Nậm Nhùn; Can Hồ, TT
Mường Tè, Bun Tở, Nậm Khao, Mường Tè xã.
Qui mô công trình
Cao trình mức nước dâng bình thường (MDBT) : 295,00 m;
Cao trình mức nước chết : 270,00 m;
Dung tích toàn bộ : 1.215 triệu m
3
;
Dung tích hữu ích : 711 triệu m
3
;
Diện tích hồ chứa ứng với MNDBT : 3.963 ha;
12
Công suất lắp máy : 1.200 MW;
Điện lượng bình quân hàng năm : 4.704 tỷ kWh.
Thông số chính của công trình thuỷ điện Lai Châu xem bảng sau:
Bảng 2.
1 - Các thông số chính nhà máy thủy điện Lai Châu
TT Thông số & chỉ tiêu Đơn vị Thông số
1 Qmax m
3
13
Vị trí công trình
Công trình thuỷ điện Huội Quảng nằm trên sông Nậm Mu, thuộc hệ thống
sông Đà. Tuyến đầu mối nằm cách Bản On, xã Khoen On, huyện Than Uyên, tỉnh
Lai Châu khoảng 2,5 km về phía hạ lưu. Hồ chứa thuỷ điện Huội Quảng, diện tích
khoảng 8,7 km2 ứng với MNDBT 370 m, nằm trọn trong huyện Than Uyên; hồ có
dung tích toàn bộ 184,2 triệu m3 và dung tích hữu ích 16,28 triệu m3. Nhà máy
thuỷ điện Huội Quảng bố trí cách cụm đầu mối khoảng 5 km về phía hạ lưu, thuộc
địa phận xã Chiềng Lao, huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
Qui mô công trình
Cao trình mức nước dâng bình thường (MNDBT) : 370,00 m;
Cao trình mức nước chết : 368,00 m;
Dung tích toàn bộ : 184,42 triệu m
3
;
Dung tích hữu ích : 16,28 triệu m
3
;
Diện tích hồ chứa ứng với MNDBT : 870 ha;
Công suất lắp máy : 520 MW;
Điện lượng bình quân hàng năm : 1.829,3 triệu kWh.
Số hộ/ số người di chuyển : 980/6459 hộ/người
2.2. Nội dung nghiên cứu
2.2.1. Hiện trạng thực hiện việc tái định cư của một số dự án thủy điện
Theo thống kê chưa đầy đủ thì riêng với các công trình thủy điện lớn (thủy
điện Lai Châu, thủy điện Lai Châu, thủy điện Huội Quảng, thủy điện Bản Chát …)
tại Tây Bắc đã thực hiện gần hoàn thành kế hoạch di dân tái định cư. Công tác này
đòi hỏi phải di chuyển cả cộng đồng dân cư, làm ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống
định cư buộc Quốc hội phải tháo gỡ, giải quyết ngân sách cho thấy rõ rằng hiện nay
chúng ta còn thiếu một quy hoạch bài bản và tầm nhìn dài hơi cho các công trình thuỷ
điện cũng như trách nhiệm và trình độ quản lý hạn chế của một số ngành liên quan
đến công tác di dời, tái định cư.
Để phục vụ xây dựng các công trình Thủy điện, công tác đền bù giải phóng
mặt bằng và đặc biệt là công tác di dân ra khỏi lòng hồ là một nỗ lực lớn của chính
quyền địa phương các huyện cũng như các tỉnh. Tuy nhiên, đằng sau thắng lợi của
những cuộc di dân này thì hàng nghìn người dân về vùng tái định cư gặp phải
không ít khó khăn như loay hoay tìm đất để sản xuất, hoặc có thì cũng chỉ là đất
15
khô cằn, không sản xuất được. Cuộc sống của đồng bào vốn quen với tập quán tự
do, trỉa hạt trên nương rẫy, rồi săn bắn, hái lượm trong rừng. Về các khu tái định
cư tập quán hoàn toàn khác lạ với cuộc sống ban đầu nên người dân rất khó nắm
bắt tiến bộ của khoa học kỹ thuật.
Về công tác chuyển dân đến các khu (điểm) tái định cư, tiến độ diễn ra
cũng rất chậm. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến sự chậm trễ này:
Trước tiên là do chất lượng công tác quy hoạch tổng thể di dân, tái định cư
còn thấp. Nhiều khu (điểm) tái định cư đã được phê duyệt nhưng tính khả thi chưa
cao, vì thực tế khu được quy hoạch còn thiếu nguồn nước, thiếu đất sản xuất so
với bản quy hoạch đã được phê duyệt…
Thêm vào đó, do quy định hiện nay về giá đền bù đất sản xuất tăng, giá
ngày công và vật liệu xây dựng tăng nhiều so với giá tính trong Quyết định
196/QĐ-TTg, trong khi đó, do Chính phủ đã quy định khống chế suất đầu tư bình
quân 500 triệu đồng/hộ nên việc lập quy hoạch chi tiết của các địa phương gặp
nhiều khó khăn, vì vừa phải đảm bảo cả yêu cầu đền bù đầy đủ và ổn định đời
sống lâu dài cho dân, đồng thời vẫn phải đảm bảo không vượt mức trần về vốn đền
bù đã quy định. Hệ luỵ của sự chậm chễ này là công tác giải ngân.
Thực tế, một số quy định về thủ tục phê duyệt quy hoạch chi tiết khu (điểm)
không thống nhất, nguồn vốn không được quy định cụ thể, người dân bị tái định
cư không được tham gia bàn bạc, thảo luận quá trình tái định cư của mình. Cơ chế
chính sách trong việc quản lý các dự án di dân tái định cư chưa tạo được điều kiện
thông thoáng cho quá trình thực hiện do đó tiến độ công trình không được đảm
bảo cũng như không tạo nên sự đồng thuận cao giữa người dân nơi đi lẫn người
dân sở tại ở nơi đến.
- Do việc triển khai đầu tư xây dựng các công trình thuỷ điện thường diễn
ra ở miền núi, vùng sâu vùng xa, dân trí thấp nên dễ xảy ra những tiêu cực, dưới
nhiều hình thức, đòi hỏi ngoài chính sách, cơ chế quy trình chặt chẽ còn phải có sự
quan tâm thường xuyên đối với hoạt động kiểm tra, giám sát, báo cáo và xử lý kịp
thời giữa các cấp. Vai trò kiểm tra, theo dõi, đôn đốc và giám sát của các cơ quan
cấp tỉnh và các bộ ngành trung ương trong công tác di dân, tái định cư còn lỏng
lẻo. Nguyên tắc công khai, dân chủ, minh bạch, chính xác, công bằng và kịp thời
17
trong thống kê, áp giá, đền bù, hỗ trợ cho các hộ dân chưa được coi trọng. Nói một
cách khác chính sách chưa dựa trên cách tiếp cận trao quyền cho người dân. Tư
duy của các cán bộ thực hiện công tác di dân vẫn theo kiểu cũ (cần hướng chỉ đạo,
lập kế hoạch từ trên xuống dưới trong công tác tái định cư).
2.2.3. Định hướng và đề xuất biện pháp khắc phục những vấn đề còn tồn tại của
công tác tái định cư
Trong quá trình lập kế hoạch di dân, tái định cư nên khuyến khích các hình
thức di dân không tập trung theo phương thức xen ghép và tự nguyện nhằm hạn
chế sức ép đất đai tập trung, tăng cường khả năng tự điều chỉnh, tiến tới hồi phục
nhanh cuộc sống của các hộ dân sau tái định cư. Việc người dân được tham gia đề
xuất điểm tái định cư, lựa chọn thiết kế nhà ở và cơ sở hạ tầng ở khu vực tái định
cư cần được thực hiện nghiêm túc. Muốn vậy, người dân cần được thông tin đầy
đủ và kịp thời về chính sách đền bù và kế hoạch của dự án. Ngoài ra, cần khuyến
khích các hộ tái định cư tự lập phương án sản xuất phù hợp theo quy hoạch phê
đến việc ổn định và phát triển sản xuất cho các hộ tái định cư cũng như hộ dân
người địa phương sở tại. Đất đai và nương rẫy là nguồn sinh kế và an ninh lương
thực của đồng bào dân tộc. Để thực hiện nguyên tắc đền bù theo phương thức “đất
đổi đất” tránh xáo trộn chuyển đổi nghề nghiệp, cần đầu tư khai hoang cho người
dân trong các công trình thuỷ điện. Do vậy, khi lập và phê duyệt kế hoạch tái định
cư, cần chú trọng tính thích ứng về đất sản xuất (bao gồm chất lượng đất và diện
tích đất), nguồn nước cho sản xuất và sinh hoạt cần thiết nhằm đảm bảo cho cả cộng
đồng dân đến định cư và cộng đồng dân sở tại ổn định cuộc sống đồng thời trên
nhiều mặt, tránh được những rủi ro do di dân tái định cư gây nên.
Chủ trương người dân di chuyển cũng như người dân sở tại phải có cuộc
sống tốt hơn và được hưởng lợi từ công trình dự án và đầu tư phát triển sản xuất
cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội có ý nghĩa rất quan trọng. Những khó khăn về kinh
phí có thể được khắc phục nếu như nguồn vốn cho tái định cư được quản lý và sử
dụng hiệu quả, người dân được hưởng lợi. Đã đến lúc cần yêu cầu chủ dự án lập ra
quỹ phục hồi thu nhập sau tái định cư nhằm hỗ trợ cho người dân trong thời gian
10 năm, thậm chí 20 năm cho hộ gia đình sau tái định cư. Cần có quy định hình
thành quỹ phục hồi thu nhập sau tái định cư để hỗ trợ lâu dài cho người dân.
19
Nguồn vốn này cần tính toán vào dự án và chủ đầu tư các công trình xây dựng nhà
máy sẽ trích lợi nhuận, hoặc thuế tài nguyên sau khi đưa công trình vào hoạt động.
Cái khó trong công tác di dân tái định cư đối với cả nơi đi lẫn nơi đến là
thói quen, lối sống, tập tục canh tác của cộng đồng các dân tộc thiểu số vốn khác
nhau. Ngay cả trong một dân tộc, khả năng nhận thức và tác động của tái định cư
cũng rất khác nhau giữa phụ nữ, nam giới, già, trẻ, hộ giàu, hộ nghèo, hộ đau ốm,
hộ khoẻ mạnh đông lao động. Công tác tái định cư theo ý nghĩa đó còn hàm ý
công tác "di lòng dân" trong đó sự đồng thuận, nhất trí chia sẻ khó khăn của người
dân là rất quan trọng. Những bất cập về cơ chế quản lý và chính sách bồi thường,
hỗ trợ tái định cư hiện nay nhiều khi dẫn đến tâm lý dao động của các hộ dân, tạo