LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng KINH DOANH THEO CẢM TÍNH VÀ HÀNH VI NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM TRẦN NGỌC THỦY TIÊN - Pdf 28

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH TRẦN NGỌC THỦY TIÊN KINH DOANH THEO CẢM TÍNH VÀ
HÀNH VI NHÀ ĐẦU TƯ
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh – Năm 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO


TP. Hồ Chí Minh – Năm 2013
KINH DOANH THEO CẢM TÍNH &
HÀNH VI NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
TÓM TẮT 1
PHẦN 1: GIỚI THIỆU 2
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Tổng quan nội dung 4
PHẦN 2: TỔNG QUAN VỀ KINH DOANH THEO CẢM TÍNH VÀ HÀNH VI NHÀ
ĐẦU TƯ 7
2.1 Lý thuyết về kinh doanh theo cảm tính 7
2.1.1 Nhà đầu tư theo cảm tính 7
2.1.2 Rủi ro kinh doanh theo yếu tố cảm tính 9
2.1.3 Các nghiên cứu liên quan từ trước về giao dịch theo cảm tính: nghiên cứu lý thuyết
và thực nghiệm 9
2.1.4 Mô hình giao dịch dựa vào thông tin có điều chỉnh yếu tố cảm tính: Bằng chứng
thiếu hiệu quả của TTCK Úc 12
2.2 Ứng dụng tâm lý học, yếu tố cảm tính vào tài chính 19
2.2.1 Lý thuyết tài chính hành vi 19
2.2.2 Nguyên lý cơ bản hành vi nhà đầu tư 20
2.2.3 Nghiên cứu thị trường về hành vi của nhà đầu tư Ấn Độ 24
PHẦN 3: MÔ HÌNH, DỮ LIỆU PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
3.1 Mô hình 29
3.2 Dữ liệu 31
3.3 Phương pháp nghiên cứu 32
PHẦN 4: NGHIÊN CỨU VỀ KINH DOANH THEO CẢM TÍNH VÀ HÀNH VI NHÀ
ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 33
4.1 Nhìn lại diễn biến thị trường chứng khoán Việt Nam qua các giai đoạn 33

Bảng 4: Các yếu tố chính ảnh hưởng đến hành vi nhà đầu tư Ấn Độ 26
Bảng 5: Tuổi mã hóa của mẫu nghiên cứu 39

Bảng 6: Bảng hệ số tương quan của mẫu nghiên cứu 42
Bảng 7: Bảng KMO và Bartlett's Test của mẫu nghiên cứu 43
Bảng 8: Tổng phương sai được giải thích (Total Variance Explained) 43
Bảng 9: Ma trận nhân tố
(Component Matrix)
a
45
Bảng 10: Chỉ số trung bình theo từng phần 49
Bảng 11: Tỷ lệ giới tính của mỗi nhóm 50
Bảng 12: Tỷ lệ kinh nghiệm của mỗi nhóm 50
Bảng 13: Tỷ lệ độ tuổi của mỗi nhóm 50

DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1: Tỷ lệ giới tính của mẫu nghiên cứu 40
Hình 2: Tỷ lệ kinh nghiệm của mẫu nghiên cứu 40
Hình 3: Điểm trung bình 4 nhóm nghiên cứu của mẫu nghiên cứu 41
Hình 4: Biểu đồ Scree Plot 44
Hình 5: Kết quả phân tích cụm của mẫu nghiên cứu 48
1
KINH DOANH THEO CẢM TÍNH &
HÀNH VI NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAMTÓM TẮT
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm tìm kiếm bằng chứng về giao dịch theo cảm
tính trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Đồng thời, bài viết vừa nghiên cứu

Điều này có nhiều nguyên nhân.
Nhiều nhà đầu tư thấy rằng thị trường dịch chuyển không theo quy tắc nào, không
có cơ sở nào, và cho rằng đầu tư chứng khoán như một canh bạc lớn, như trò chơi
mạo hiểm, họ e dè với thị trường, mất dần niềm tin vào thị trường, và rút khỏi thị
trường.
Nhiều nhà đầu tư còn thấy rằng thật không công bằng và minh bạch cho bản thân
họ. Chính sách phát triển, công tác quản lý của nhà nước còn lơi lỏng. Môi trường
thông tin chưa nghiêm.
Trong khi đó, kiến thức của nhà đầu tư còn non kém. Do đó, họ không tự chủ được
bản thân, đầu tư chứng khoán dựa theo cảm tính, bầy đàn, bị chi phối và những tin
đồn thổi bất chấp những kiến thức và những dự báo cần thiết của các nhà chuyên
môn và nhà quản lý. Khi thị trường chứng khoán đang lên, có rất nhiều nhà tham
gia mua chứng khoán, và khi thị trường sụt giảm thì các nhà đầu tư cứ tranh nhau
3

bán tháo cổ phiếu. Vì thế, trong một số thời điểm, giá của chứng khoán gấp hàng
chục lần so với giá trị thực, hoặc thấp hơn rất nhiều so với giá trị thực.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến thị trường không phản ánh đúng nền kinh tế. Nhà
đầu tư nói rằng do thông tin không minh bạch, quản lý nhà nước không rõ ràng.
Ngược lại, các cấp quản lý lại cho rằng nhà đầu tư không chịu nghiên cứu, đầu tư
theo lối cảm tính.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Giả thuyết thị trường hiệu quả tin rằng các nhà đầu tư đưa ra quyết định hợp lý,
hoàn toàn dựa trên yếu tố cơ bản, yếu tố kinh tế của cổ phiếu. Những yếu tố cơ bản
bao gồm như: chỉ số EPS, giá trị sổ sách Book value, chỉ số PE, dòng tiền tương lai,
dự án của công ty và mục tiêu chung, sự phát triển của ngành. Với lý thuyết này,
không có sự khác biệt giữa cổ phần của hai công ty có các yếu tố cơ bản giống
nhau. Tuy nhiên, lý thuyết cổ điển này không giải thích đủ hoặc không giải trình
được sự kinh doanh thực tế và sự thay đổi của chỉ số chứng khoán. Do đó, đối với
khái niệm Tài chính hành vi, họ tin rằng những nhà đầu tư kinh doanh không hợp

Tác giả cũng chọn lọc được công trình nghiên cứu: Công trình nghiên cứu lý thuyết
tại Úc, và công trình nghiên cứu thực nghiệm ở thị trường Ấn Độ.
Phần 2.1.4 Mô hình lý thuyết: Mô hình giao dịch dựa vào thông tin có điều chỉnh
yếu tố cảm tính: Bằng chứng thiếu hiệu quả của TTCK Úc
Phần 2.2.3 Công trình nghiên cứu thị trường về hành vi của nhà đầu tư Ấn Độ
Cho tới nay, sự tranh cãi giữa các thuyết này vẫn chưa chấm dứt, mỗi cá nhân có
một quan điểm riêng, tác giả cũng đồng quan điểm với trường phái tài chính hành vi
để từ đó chúng ta có thể nghiên cứu sâu hơn về khía cạnh đầu tư theo cảm tính, và
nghiên cứu thực nghiệm đầu tư theo cảm tính ở thị trường chứng khoán Việt Nam.
5

Phần 3: Tác giả trình bày lý do chọn lựa mô hình của Vikash Ramiah and Sinclair
Davidson và Akash Jauhari, nguồn dữ liệu và phương pháp nghiên cứu.
Trong Phần 4: Tác giả nêu khái quát về quá trình phát triển, về tình hình thị trường
chứng khoán Việt Nam, những trường phái đầu tư tại Việt Nam và những biểu hiện
của sự đầu tư theo cảm tính của nhà đầu tư.
Tác giả thu thập dữ liệu tại TP.HCM, trong quá trình khảo sát, tác giả vừa định tính
được phần nào yếu tố cảm tính của nhà đầu tư rất tự tin vào bản thân. Và kết quả
khảo sát, tác giả đã lượng hóa được những ý kiến của các đối tượng nghiên cứu để
rút ra các cách đầu tư, các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư.
Bảng câu hỏi khảo sát có 4 phần, mỗi phần có 5 câu hỏi nhỏ. Tác giả đã sử dụng
phần mềm SPSS để phân tích kết quả có được, cụ thể sử dụng Phân tích mô tả, phân
tích nhân tố và phân tích cụm.
Phân tích mô tả về những dữ liệu có được như phân tích các biến định danh: giới
tính, độ tuổi, kinh nghiệm. Phân tích độ tương quan giữa các phần.
Tác giả đã sử dụng phân tích nhân tố để rút gọn lại các yếu tố (20 câu hỏi biểu thị
cho 20 yếu tố) để có được số lượng các nhân tố nhỏ hơn, đặc trưng, biểu thị cho số
còn lại.
Trong số mẫu có những nhóm người đầu tư có đặc điểm giống nhau hợp thành một
nhóm. Nên tác giả đã chọn phân tích cụm để phân mẫu thành các cụm. Từ đó, tác

sản thấp hơn, hoặc cao hơn so với giá trị cơ bản.
Giao dịch theo cảm tính (Noise trading) là thuật ngữ dùng cho những giao dịch trên
thị trường, chủ yếu là thị trường chứng khoán, khi người giao dịch không quan tâm
đến các thông tin cơ bản và nền tảng (fundamentals), mà chủ yếu dựa trên cảm tính
hoặc xu hướng chung của thị trường. Cũng theo Investopedia: Hiện nay, vấn đề
tranh luận sôi nổi về tài chính hành vi diễn ra, nhiều nhà đầu tư cảm thấy rằng họ
không phải là nhà giao dịch theo cảm tính và họ chỉ đưa ra quyết định đầu tư đúng
đắn. Trong thực tế, hầu hết mọi người được coi như nhà giao dịch theo cảm tính,
cũng như rất ít người thực sự đưa ra quyết định đầu tư chỉ dựa trên sử dụng phân
tích cơ bản. Hơn nữa, phân tích kỹ thuật được coi là một phần của giao dịch theo
cảm tính vì dữ liệu không liên quan đến các nguyên tắc cơ bản của một công ty nào
cả.
Theo John T. Scruggs 2006: “Những giao dịch không tương quan với những thay
đổi trong giá trị cơ bản hay nội tại được gọi là giao dịch theo cảm tính. Giao dịch
8

Có bằng chứng đáng kể cho thấy nhiều nhà đầu tư không làm theo lời khuyên của
các nhà kinh tế để mua và nắm giữ danh mục đầu tư thị trường. Các nhà đầu tư cá
nhân thường không đa dạng hóa, thay vào đó họ nắm giữ một cổ phiếu duy nhất
hoặc một số cổ phiếu nhỏ (theo Lewellen, Lease, và Schlarbaum 1974). Họ chọn cổ
phiếu thông qua nghiên cứu riêng của họ, hoặc dựa trên những lời khuyên của tạp
chí Joe Granville hoặc Wall Street Week. Khi nhà đầu tư đa dạng hóa, họ giao phó
tiền của mình vào các quỹ tương hỗ định giá chứng khoán mà các quỹ này thì tính
lệ phí cao trong khi đó lại thất bại khi tấn công thị trường (Jensen 1968). Black
(1986) tin rằng các nhà đầu tư như vậy, do không có khả năng nắm bắt thông tin nội
bộ, nên họ hành động một cách vô lý theo phong trào như thể đây là thông tin mà có
thể cung cấp cho họ một cơ sở. Black (1986), sau đó là Kyle (1985), gọi các nhà
đầu tư này là "nhà giao dịch theo cảm tính ".
Người ta có thể giao dịch dựa vào tín hiệu nhiễu vì họ nghĩ rằng họ có thông tin hữu
ích hoặc đơn giản vì họ thích giao dịch, hay bị ảnh hưởng bởi những tin đồn của

cảm tính là nhà đầu tư không quan trọng và họ sẽ biến mất như một kết quả của
hoạt động kinh doanh chênh lệch giá. Theo Friedman (1953) và Fama (1965) cho
rằng, đối nghịch với các nhà giao dịch theo cảm tính là nhà giao dịch có lý trí, nhà
đầu tư có lý trí sẽ khai thác, tận dụng những điều vô lý từ nhà giao dịch theo cảm
tính và do vậy hai bên có sự đầu tư trái ngược nhau, và điều này làm cho giá trở về
lại giá trị cơ bản. Friedman cũng lập luận các nhà giao dịch theo cảm tính sẽ bị mất
tiền do đầu cơ không hợp lý, sẽ bị thua lỗ, bán với giá thấp hoặc mức trung bình, và
điều này làm họ không tồn tại lâu dài. Do vậy, họ sẽ không làm ảnh hưởng đến giá
quá nhiều.
10

Black (1986) đặt vấn đề với mô hình này và nhận ra tầm quan trọng của nhà giao
dịch theo cảm tính vì nó góp phần vào tính thanh khoản của thị trường. Ông cũng
kết luận rằng "Thông tin theo cảm tính làm cho thị trường tài chính tồn tại, nhưng
cũng làm cho nó không hoàn hảo."
Hiện nay, giao dịch theo cảm tính chiếm một vị trí quan trọng trong lý thuyết tài
chính. Nó đã trở thành nền tảng của lý thuyết cấu trúc vi mô thị trường kể từ khi
Kyle (1985). Nó đã được đề xuất như một lời giải thích cho các tài sản có giá "bất
thường" cũng như "những biến động quá mức khó giải thích" đầu tiên được ghi bởi
Shiller (1981) và LeRoy và Porter (1981). Và giao dịch theo cảm tính đóng một vai
trò trung tâm trong các tài liệu đang phát triển về tài chính hành vi. Ví dụ, De Long,
Shleifer, Summers, và Waldman (1990) cho thấy rủi ro giao dịch theo cảm tính là
một giới hạn chênh lệch giá đáng kể mà nó có thể gây trở ngại cho thị trường về
mặt thông tin hiệu quả. Sự quan tâm nghiên cứu về việc này tiếp tục tăng khi các
vấn đề về nhận dạng của giao dịch theo cảm tính đã được đơn giản hóa bởi Shefrin
và Statman (1994), người đã phân loại rằng bất kỳ giao dịch nào giao dịch không
dựa trên thông tin là giao dịch theo cảm tính. Điều này dẫn đến sự phát triển của
một số mô hình như SIA, Starks và Tinic (2001), Osler (1998) và Ramiah và
Davidson (2007), họ nỗ lực để tính toán được giao dịch theo cảm tính. Trong khi
các nghiên cứu trước đây tập trung vào sự phát triển của các mô hình để nắm bắt

trường phái càng sau này càng cho rằng mức độ ảnh hưởng của giao dịch theo cảm
tính, rủi ro của các giao dịch theo cảm tính cao hơn so với các nghiên cứu trước, mô
hình phức tạp và chưa thấy có chiều hướng ứng dụng vào thực tế. Tuy nhiên, tác giả
dựa vào những nghiên cứu này để kết luận rằng có giao dịch theo cảm tính, rủi ro
giao dịch theo cảm tính và mức độ ảnh hưởng của nó cần phải được đi sâu xem xét,
để tác giả có thể nghiên cứu tiếp liệu thị trường chứng khoán Việt Nam có bị ảnh
hưởng bởi yếu tố cảm tính hay không, ảnh hưởng với mức độ nào và nhà đầu tư
Việt Nam bị ảnh hưởng bởi những yếu tố nào khi đưa ra quyết định đầu tư. Để từ đó
chúng ta có thể thấy được liệu thị trường chứng khoán Việt Nam có phải là thị
12

trường hiệu quả hoàn toàn, hay không hiệu quả hoàn toàn, hay khá hiệu quả nhưng
có ảnh hưởng bởi yếu tố cảm tính.
2.1.4. Mô hình giao dịch dựa vào thông tin có điều chỉnh yếu tố cảm
tính: Bằng chứng thiếu hiệu quả của TTCK Úc
Tóm tắt và giới thiệu mô hình
Vikash Ramiah and Sinclair Davidson (VS) đã mô tả sự tương tác giữa các
giao dịch dựa vào cảm tính, giao dịch dựa vào thông tin. VS không cho rằng giao
dịch thông tin là không có lỗi. Thay vào đó các nhà giao dịch dựa vào thông tin có
thể sai sót dẫn đến phản ứng chậm và phản ứng thái quá. Nhà giao dịch thông tin
thậm chí có thể thêm vào các lỗi giá trên thị trường. Những tương tác này được thể
hiện trong mô hình giao dịch thông tin có điều chỉnh yếu tố cảm tính của VS. VS thử
nghiệm mô hình bằng cách sử dụng dữ liệu từ thị trường chứng khoán Úc. Thị
trường này có chế độ công bố thông tin liên tục cho phép chúng ta xác định khi thông
tin được đưa ra thị trường. VS trình bày bằng chứng phù hợp với quan điểm cho rằng
thị trường thường là nguồn thông tin không hiệu quả.
Nghiên cứu này của VS mô tả sự tương tác giữa các giao dịch thông tin và
giao dịch theo cảm tính. Không giống như phần lớn các nghiên cứu tài chính hành vi,
VS không cho rằng nhà đầu tư thông tin nhất thiết phải lảm cho thị trường trở lại giá
trị cơ bản. Nhà giao dịch thông tin kinh doanh trên cơ sở thông tin nhưng cũng có thể

tính và tính thực nghiệm của mô hình. Nó cũng sẽ cung cấp một sự khác biệt ngắn
gọn giữa lý thuyết thị trường hiệu quả của lý thuyết tài chính hiện đại và lý thuyết
thị trường hiệu quả của lý thuyết tài chính hành vi.
VS cũng định nghĩa các nhà giao dịch dựa trên thông tin là những người hình
thành những mong đợi dựa trên thông tin và kinh doanh dựa vào các mong đợi đó.
VS không giả định rằng các nhà kinh doanh dựa trên thông tin là hoàn toàn sáng suốt
hoặc họ luôn luôn hình thành các mong đợi đúng. Mà định nghĩa của VS về người
giao dịch dựa trên thông tin là rộng hơn so với định nghĩa của Shefrin và Statman
[1994]. Họ định nghĩa rằng người giao dịch dựa trên thông tin là người có ý kiến

14

chủ quan đồng nhất với những điều khách quan có thể xảy ra. Theo ý kiến của VS,
đây là định nghĩa quá vội vàng và giống như nó xuất hiện một cách tình cờ. Mà
định nghĩa của VS, những nhà giao dịch theo thông tin dựa trên những mong đợi
của họ về thông tin nhưng không phải lúc nào thông tin này cũng thể hiện đúng. Nói
theo cách khác, nhà giao dịch dựa vào thông tin có thể gặp sai lầm. Và nhà giao
dịch theo cảm tính không thể sử dụng thông tin để hình thành mong đợi của họ và
họ có thể kinh doanh dựa vào bất cứ lý do gì. Nhà giao dịch theo thông tin chỉ kinh
doanh các cổ phiếu cụ thể khi nguồn thông tin có giá trị tương ứng được thông báo
ra thị trường. Tuy nhiên, các nhà giao dịch cảm tính có thể và sẽ kinh doanh bất cứ
cổ phiếu nào vào bất cứ ngày nào. Hình dung rằng trong ngày được cho, t, thông tin
có thể được tiết lộ ra thị trường hoặc không. Trong những ngày này, khi không có
thông tin mới nào xảy ra trong thị trường, những nhà giao dịch cảm tính sẽ kinh
doanh với nhau. Còn trong ngày thông tin được tiết lộ ra thị trường gọi là ngày
thông tin (IE) xảy ra, thì cả nhà giao dịch cảm tính và nhà giao dịch theo thông tin
đều giao dịch. Trong những ngày thông tin không tiết lộ ra thị trường, chỉ có nhà
giao dịch cảm tính mới giao dịch-nhà giao dịch theo thông tin không gia nhập vào
thị trường.
Lý thuyết tài chính hiện đại EMH nêu ra rằng không có sai lầm nào thuộc về hành


= α
+
β IE
it

+
ε
it

(1)

Trong đó,
BE
it
= là sự thay đổi lỗi hành vi của cổ phiếu i trong ngày t.
15

IE = là sự kiện thông tin, ví dụ: thông tin được đưa ra. VS xem xét sự biến số này
bằng 1 trong ngày thông tin được tung ra thị trường, và bằng 0 khi không có thông
tin nào tung ra thị trường cả. VS không phân biệt giữa thông tin “tốt” hay “xấu”.
α = biến động trung bình về lỗi hành vi đối với giao dịch cảm tính.
β = là tỷ lệ của biến động trung bình được cho là của lỗi hành vi trên các giao dịch
của nhà giao dịch theo thông tin. VS giả định β ≠ 0
Mô hình IANM có thuận lợi hơn các mô hình giao dịch theo cảm tính khác bằng
việc có thể tách ly các tác động của giao dịch theo cảm tính và giao dịch dựa vào
thông tin. Cụ thể, biến μ = α + β phản ánh những thay đổi trung bình các lỗi hành
vi do nhà giao dịch theo cảm tính và nhà giao dịch theo thông tin. Nếu Lý thuyết tài
chính hiện đại EMH là đúng, thì α + β = μ = 0 và ∆BE
it

it
= 1, mô hình sẽ mang hình thức của
phương trình (1). Beta có ý nghĩa quan trọng chỉ ra rằng các nhà giao dịch theo cảm tính
và nhà giao dịch theo thông tin đều có ảnh hưởng khác nhau trên thị trường. Beta cho
thấy tác động của những nhà giao dịch theo thông tin lên sự thay đổi lỗi hành vi, và nó sẽ
cho biết liệu những nhà giao dịch dựa vào thông tin tăng hoặc giảm các lỗi hành vi. Sự
tương tác của các nhà giao dịch theo cảm tính và nhà giao dịch theo thông tin sẽ quyết
định sự thay đổi BE vào ngày đặc biệt này. Lý thuyết tài chính chỉ ra rằng nhà giao dịch
dựa vào thông tin nên thực hiện theo chiến lược trái ngược với những nhà giao dịch theo
cảm tính. Trong phạm vi điều này xảy ra trên thực tế α + β = 0.
Thị trường không hiệu quả: Phản ứng chậm, phản ứng thái quá và lỗi giá do thông
tin.
Phản ứng chậm
Edwards [1968] sử dụng khái niệm bảo thủ để giải thích các phản ứng chậm. Bảo thủ có
nghĩa là người ta điều chỉnh một cách chậm chạp sự tin tưởng của họ đối với thông tin
mới. Cutler et al. [1989], Andreassen [1987], Jegadeesh và Titman [1993], Rouwenhorst
[1998], Chan [1996] và nhiều tác giả khác chứng minh rằng phản ứng chậm đã xảy ra.
Mô hình của VS giải thích phản ứng chậm như sau: thị trường không xóa sạch với tất cả
các lỗi. Thông tin được đưa ra thị trường và nhà giao dịch theo thông tin nhận ra rằng thị
trường đang giao dịch ở một mức độ cảm tính nào đó. Các nhà giao dịch dựa vào thông
tin đi đúng hướng, nhưng đã thất bại khi loại bỏ các lỗi. Phản ứng chậm này có thể được
tách thành hai thành phần: phản ứng chậm dương U (+) và phản ứng chậm âm U (-).

17

Loại đầu tiên của phản ứng chậm là các phản ứng tích cực, tức là U (+), và nó sẽ
xảy ra khi alpha dương và μ dương là đúng. Có một alpha lỗi nguyên nhân do
những nhà giao dịch theo cảm tính, và những nhà giao dịch theo dựa theo thông tin
kinh doanh để giảm những sai lệch này. Họ thất bại, tuy nhiên, để loại bỏ các lỗi, và
α + β = μ> 0.

lỗi này là lỗi giá do thông tin (IPE). Tương tự như phản ứng thái quá và phản ứng
chậm có thể có hai loại lỗi giá do thông tin, chúng sẽ phụ thuộc vào các dấu hiệu
của alpha. IPE sẽ xảy ra khi nhà đầu tư dựa vào thông tin sao chép kỹ thuật kinh
doanh của nhà giao dịch theo cảm tính. Họ hành động như nhà giao dịch theo cảm
tính và thêm vào những lỗi hiện có.
IPE dương, IPE (+), xảy ra khi cả hai alpha và beta dương. Khi alpha và beta cùng
một dấu hiệu, nhà kinh doanh dựa vào thông tin đã thất bại trong việc thông qua
CIS. Do đó, mức độ cảm tính trên thị trường tăng thêm (α + β> 0). Lỗi giá do thông
tin âm, IPE (-), xảy ra khi alpha âm và nhà giao dịch dựa vào thông tin không thông
qua CIS (α + β <0).
Để IPE (+) xảy ra, α và β> 0 và để IPE (-) xảy ra, α và β <0.
Bảng 1: Bảng tóm tắt ảnh hưởng thị trường
Ảnh hưởng α β µ
Phản ứng chậm U (+) >0 <0 >0
U (-) <0 >0 <0
IPE IPE (+) >0 >0
IPE (-) <0 <0
Phản ứng thái quá O (+) <0 >0 >0
O (-) >0 <0 <0
19

Tóm tắt
Nghiên cứu các thành phần của phương trình (1) có thể xác định được những ảnh
hưởng khác nhau lên thị trường vào những ngày thông tin. Để thị trường hiệu quả
về mặt hành vi, μ không được quá khác biệt với giá trị 0 về mặt thống kê. Vào
những ngày có sai lệch cao so với 0, có thể xác định nhiều ảnh hưởng khác nhau, cụ
thể là, phản ứng chậm, phản ứng thái quá và IPE. Khuôn khổ này phát triển một
phương pháp mới thử nghiệm liệu thị trường là hành vi hiệu quả hay không. Bây
giờ là khả thi khi kiểm tra các giả thuyết chỉ bằng cách kiểm tra nếu thống kê μ
khác 0. Nếu μ không thống kê khác 0, có thể kết luận rằng thị trường là không ràng

tài sản bị định giá thấp, bán tài sản bị định giá quá cao chẳng hạn), sẽ góp phần điều
chỉnh thị trường về trạng thái hợp lý hay cân bằng.
Lý thuyết tài chính hành vi chỉ ra rằng, cơ chế điều chỉnh đó không phải lúc nào
cũng có thể xảy ra, nghĩa là sẽ có những trường hợp những nhà đầu tư “hợp lý’
không thể chiến thắng những nhà đầu tư “bất hợp lý” và khi đó, thị trường sẽ không
hiệu quả, hay “sai” (tức là định giá quá cao hoặc quá thấp giá cổ phiếu hay các loại
sản phẩm tài chính khác).
Ứng dụng của tài chính hành vi không chỉ dừng lại trong việc giải thích các hành vi
không hợp lý của nhà đầu tư, mà đi xa hơn, nó có thể điều chỉnh các mô hình định
giá (bao gồm định giá chứng khoán, sản phẩm phái sinh…) Cho đến ứng dụng trong
lý thuyết quản trị Công ty hay cấu trúc vốn trong tài chính doanh nghiệp, lẫn giải
thích tính tương tác giữa các thị trường khác nhau.
2.2.2 Nguyên lý cơ bản hành vi nhà đầu tư
Các mô hình được đề xuất bởi lý thuyết tài chính hành vi sẽ có thể đúng nếu trên thị
trường tồn tại một trong ba điều kiện cơ bản sau
2.2.2.1 Tồn tại hành vi không hợp lý
Các nhà đầu tư sẽ có hành vi không hợp lý khi họ không phân tích và xử lý “đúng”
những thông tin mà họ có (và thị trường cung cấp), từ đó dẫn đến những kỳ vọng
lệch lạc về tương lai của cổ phiếu mà họ đầu tư vào. Ngoài ra, trong một số trường

Trích đoạn Nguyên lý cơ bản hành vi nhà đầu tư Nghiên cứu thị trường về hành vi của nhà đầu tư Ấn Độ Nhìn lại diễn biến thị trường chứng khoán Việt Nam qua các giai đoạn Các biểu hiện giao dịch theo cảm tín hở Việt Nam Phản ứng chậm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status