Tiểu luận Quản lý chất thải rắn GVHD: Trần Thị Thanh Thuỷ
Nhóm SVTH: Tuấn Anh - Chương - Khánh - Dũng Trang 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT
KHOA MÔI TRƯỜNG
***
TIỂU LUẬN
QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN
Tên đề tài: Chất thải rắn y tế
GV hướng dẫn: Trần Thị Thanh Thuỷ
Sinh viên thực hiện: Đỗ Tuấn Anh
Phạm Văn Chương
Lê Duy Khánh
Trần Quang Dũng
Lớp: Địa Sinh Thái K53
Hà Nội, tháng 5 năm 2012
Tiểu luận Quản lý chất thải rắn GVHD: Trần Thị Thanh Thuỷ
Nhóm SVTH: Tuấn Anh - Chương - Khánh - Dũng Trang 2
Tiểu luận Quản lý chất thải rắn GVHD: Trần Thị Thanh Thuỷ
MỞ ĐẦU
Chúng ta đang sống trong thời đại với sự phát triển không ngừng của nền
kinh tế thị trường. Khi trình độ kinh tế xã hội và dân trí của con người ngày
càng phát triển thì nhu cầu của con người về việc chăm sóc sức khỏe của mình
ngày càng được chú trọng một cách chu đáo hơn.
Cùng với tốc độ đô thị hoá nhanh, vấn đề quản lý chất thải rắn nói chung,
bao gồm chất thải rắn đô thị, công nghiệp và chất thải bệnh viện, đang là những
vấn đề nan giải trong công tác bảo vệ môi trường và sức khoẻ của nhân dân. Cả
nước có 605 đô thị, chiếm 0,35% diện tích đất tự nhiên, tập trung chủ yếu ở các
vùng đồng bằng và ven biển. Dân số đô thị là 19 triệu người, chiếm hơn 23%
dân số cả nước. Tỷ lệ tăng dân số đô thị là 4,2% năm, với mức tăng tuyệt đối là
0,5 triệu người năm.
Trong tổng lượng phát sinh chất thải rắn, chất thải rắn công nghiệp chiếm
2575/1999/QĐ-BYT về việc ban hành Quy chế quản lý chất thải y tế, trong đó
quy định về định nghĩa chất thải y tế như sau:
Chất thải rắn (solid waste) Y tế là chất thải phát sinh trong các cơ sở y tế,
từ các hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, xét nghiệm, phòng bệnh, nghiên
cứu, đào tạo. Chất thải y tế có thể ở dạng rắn, lỏng và dạng khí.
Chất thải nguy hại là chất thải có chứa các chất hoặc hợp chất có một
trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp (dễ cháy, dễ nổ, làm ngộ độc, dễ ăn
mòn, dễ lây nhiễm, và các đặc tính nguy hại khác), hoặc tương tác với các chất
khác gây nguy hại tới môi trường và sức khoẻ con người.
Chất thải y tế nguy hại là chất thải có một trong những thành phần như
sau: máu, dịch cơ thể, chất bài tiết, các bộ phận và cơ quan của người, động vật;
bơm kim tiêm và các vật sắc nhọn, dược phẩm, hoá chất và các chất phóng xạ
dùng trong y tế. Nếu những chất thải này không được tiêu huỷ sẽ gây nguy hại
cho môi trường và sức khoẻ con người.
1.1.2. Các khái niệm về quản lý chất thải rắn nguy hại trên Thế Giới:
Chất thải rắn: được Quốc hội Mỹ định nghĩa là "một chất thải rắn hay kết
hợp các chất thải rắn, có số lượng, nồng độ, hay các đặc tính lý, hoá hay lây
nhiễm có thể gây ra hoặc góp phần đáng kể làm tăng khả năng tử vong, hay làm
tăng bệnh tật nghiêm trọng không có khả năng chữa nổi; gây nguy cơ tiềm tàng
và lớn đến sức khoẻ con người hay môi trường, khi được xử lý, lưu giữ, chuyên
chở, hay tiêu huỷ hoặc quản lý không đúng quy cách" và thuật ngữ chất thải rắn
Nhóm SVTH: Tuấn Anh - Chương - Khánh - Dũng Trang 5
Tiểu luận Quản lý chất thải rắn GVHD: Trần Thị Thanh Thuỷ
được Quốc hội Mỹ quy định để chỉ tất cả các loại chất thải ở thể rắn, lỏng và
khí.
Chất thải lây nhiễm, năm 1976, Quốc hội Mỹ đưa vào áp dụng từ "lây
nhiễm" để đặc trưng hoá loại chất thải nguy hiểm tiềm tàng. Cho đến 1988, Mỹ
vẫn sử dụng từ này để hướng dẫn "loại chất thải có khả năng tạo ra các bệnh
truyền nhiễm". Cho đến nay, thuật ngữ "chất thải y tế", bao gồm nhiều loại chất
thải chính thức được liệt vào các chất thải lây nhiễm nguy hiểm.
Các chất thải y tế được sản sinh ra từ: các bệnh viện, các phòng khám đa
khoa, các phòng xét nghiệm và thí nghiệm, các khu điều dưỡng, ngân hàng
máu, nhà xác, trung tâm khám nghiệm tử thi, các cơ sở sản xuất dược phẩm,…
Các chất thải bệnh viện gồm: chất thải nhiễm khuẩn, những phần cơ thể
bị cắt bỏ và xác chết động vật, các vật sắc nhọn, hóa chất, dược phẩm hết hạn,
không dùng đến và bị nhiễm bẩn, vật liệu có hoạt tính phóng xạ, kim loại nặng,
…
1.2.2. Tình hình phát sinh chất thải rắn trên Thế giới:
Nhóm SVTH: Tuấn Anh - Chương - Khánh - Dũng Trang 7
Tiểu luận Quản lý chất thải rắn GVHD: Trần Thị Thanh Thuỷ
Theo báo cáo của Uỷ ban nghiên cứu và bảo vệ môi trường Liên hợp
quốc, ngày nay lượng chất thải ngày càng gia tăng về số lượng và tính chất độc
hại, đặc biệt tại các khu vực nông thôn ngày càng gia tăng về số lượng và tính
chất độc hại, đặc biệt, tại các khu vực đông đúc dân cư, rác thải không được thu
gom và đây là một trong các ổ dịch gây bệnh nghiêm trọng.
Bảng 1: Lượng phát sinh ở trên Thế giới
Vùng Chất thải phát sinh hàng ngày
(kg/giường)
Bắc Mỹ 11,4 - 17
Tây Âu 5,2 – 7,3
Việt Nam 1,2 – 2,5
Đông Á 3 – 4,8
Đông Âu 1,8 – 4,2
Kuwait 3,87 – 7,44
Sawdi Kbabia 1,7 – 2,4
Iran 6,4 – 11,3
Turkey 3,42 – 4,2
Nhật Bản 2,3 – 3,9
Ấn Độ 1,2 – 2,7
Thái Lan 0,89 – 1,26
phẩm bị nhiễm khuẩn, dược phẩm bị đổ, dựoc phẩm không còn nhu cầu sử
dụng; thuốc gây độc tế bào.
- Nhóm E: là các mô và cơ quan người- động vật, bao gồm tất cả các mô
cơ thể (dù nhiễm khuẩn hoặc không nhiễm khuẩn), các cơ quan, chân tay, rau
thai, bào thai, xác súc vật.
Nhóm SVTH: Tuấn Anh - Chương - Khánh - Dũng Trang 9
Tiểu luận Quản lý chất thải rắn GVHD: Trần Thị Thanh Thuỷ
Nhóm chất thải phóng xạ: tại các cơ sở Y tế, chất thải phóng xạ phát sinh
từ các hoạt động chuẩn đoán, hóa trị liệu và nghiên cứu. Chất thải phóng xạ bao
gồm: chất thải rắn, lỏng, khí.
- Chất thải phóng xạ rắn gồm các vật liệu sử dụng trong các xét nghiệm,
chẩn đoán, điều trị như ống tiêm, bơm tiêm, kim tiêm, kính bảo hộ, giấy thấm,
gạc sát khuẩn, ống nghiệm, chai lọ đựng chất phóng xạ, v.v
- Chất thải phóng xạ lỏng gồm: dung dịch có chứa nhân phóng xạ, phát
sinh trong quá trình chẩn đoán, điều trị như nước tiểu của người bệnh, các chất
bài tiết, nước xúc rửa các dụng cụ có chứa phóng xạ, v.v
- Chất thải phóng xạ khí gồm: các chất khí dùng trong lâm sàng như: các
khí thoát ra từ các kho chứa chất phóng xạ,v.v
Nhóm chất thải hóa học: bao gồm các chất thải rắn, lỏng và khí. Chất thải
hoá học trong các cơ sở y tế được phân thành 2 loại:
- Chất thải hoá học không gây nguy hại, như đường, a-xít béo, một số
muối vô cơ và hữu cơ.
- Chất thải hoá học nguy hại bao gồm:
+ Formaldehyde: được sử dụng trong khoa giải phẫu bệnh, lọc máu, ướp
xác và dùng để bảo quản các mẫu xét nghiệm ở một số khoa khác.
+ Các hoá chất quang hoá học: có trong các dung dịch dùng cố định và
tráng phim.
+ Các dung môi. Các dung môi dùng trong cơ sở y tế bao gồm: các hợp
chất halogen, như methylene chloride, chlorofom, fréon, trichloroethylene, các
thuốc mê bốc hơi như halothane, các hợp chất không có halogen, như xylene,
…
Nhóm SVTH: Tuấn Anh - Chương - Khánh - Dũng Trang 11
Tiểu luận Quản lý chất thải rắn GVHD: Trần Thị Thanh Thuỷ
Những nhóm người:
+ Bác sĩ.
+ Nha sĩ.
+ Điều dưỡng.
+ Các nhà trị liệu.
+ Y tá.
+ Hộ lý
+ Nhân viên xét nghiệm.
+ Cán bộ kĩ thuật (ví dụ như nhân viên Xquang,…)
+ Nhân viên thu gom chất thải ( trong bệnh viện, các cơ sở Y tế, nhân
viên vận chuyển, nhân viên xử lý ở khâu cuối,…).
+ Những người bới rác.
+ Môi trường.
Do những nhóm người này thường xuyên tiếp xúc với các dụng cụ y tế,
các chất thải nhiễm khuẩn, chất thải dược phẩm, chất thải phóng xạ phát sinh từ
các hoạt động chuẩn đoán, hóa trị liệu và nghiên cứu, ….nên họ có nguy cơ
mắc các bệnh về viêm nhiễm đường ruột, các bệnh viêm nhiễm về đường hô
hấp, viêm nhiễm qua truyền máu, viêm nhiễm da do bị xước, đứt tay chân hay
bị tổn thương, ảnh hưởng phóng xa,…là cao nhất.
Trước đây, có một thời người dân quanh vùng bệnh viện Việt Đức (Hà
Nội) phải chịu đựng những thứ mùi rất kinh khủng, khét lẹt mỗi khi bệnh viện
đốt rác. Những bãi rác bệnh viện thường xuyên tạo mùi hôi thối, thu hút ruồi
nhặng,…gây ô nhiễm cho không khí, nước ngầm, nước mặt,…ảnh hưởng
không nhỏ đến cuộc sống của nhân dân quanh vùng.
Nhóm SVTH: Tuấn Anh - Chương - Khánh - Dũng Trang 12
Tiểu luận Quản lý chất thải rắn GVHD: Trần Thị Thanh Thuỷ
Theo báo An ninh thế giới “môi trường xung quanh của bệnh viện Lao
Lan (84%), Thái Lan (84%), Anh (83%),…Dưới đây là những mô tả tổng quan
về tình hình quản lý chất thải rắn nguy hại ở Việt Nam và một số nước trên Thế
giới.
Nhóm SVTH: Tuấn Anh - Chương - Khánh - Dũng Trang 14
Tiểu luận Quản lý chất thải rắn GVHD: Trần Thị Thanh Thuỷ
2.2. Tình hình quản lý, thu gom, xử lý chất thải rắn Y tế ở Việt
Nam và Thế Giới
2.2.1 Tình hình quản lý, thu gom, xử lý chất thải rắn ở Việt Nam
Quản lý chất thải Y tế nguy hại (Quy chế quản lý chất thải rắn Y tế, Bộ Y
tế) được định nghĩa như sau: là các hoạt động kiểm soát chất thải nguy hại
trong suốt quá trình từ khi chất thải phát sinh đến xử lý ban đầu, thu gom, vận
chuyển, lưu giữ và tiêu hủy chất thải Y tế nguy hại.
Việc quản lý các chất thải nguy hại có ý nghĩa cực kì quan trọng. Mỗi
công đoạn đều có thể xảy ra các rủi ro và đều đòi hỏi kinh phí để hoạt động. Do đó,
công tác quản lý đòi hỏi phải phân tích và kiểm soát một cách chủ động từ khâu
phát sinh chất thải cho đến khâu tiêu huỷ cuối cùng. Các chất thải nguy hại thường
phát sinh từ các nguồn thải khác nhau, do đó cần phải xử lý và thải bỏ theo một
trình tự nhât định.
Việc thu gom chất thải rắn nguy hại từ các nguồn khác nhau tùy thuộc vào
điều kiện, khả năng cụ thể của nguồn thải. Rác thải nguy hại trước khi xử lý phải
được phân loại để giảm chi phí cho vấn đề xử lý tiếp theo.
Hình 2: Cần phân loại chất thải y tế ngay tại nguồn phát sinh
Nhóm SVTH: Tuấn Anh - Chương - Khánh - Dũng Trang 15
Tiểu luận Quản lý chất thải rắn GVHD: Trần Thị Thanh Thuỷ
Công tác phân loại chất thải rắn Y tế tại nguồn chưa được thực hiện hoặc
thực hiện chưa tốt. Trong đó, có 81,25% bệnh viện thực hiện phân loại chất thải
nhưng còn phiến diện, chưa theo chuẩn mực và kém hiệu quả do nhân viên chưa
được đào tạo; 45% bệnh viện chưa tách riêng các vật sắc nhọn ra khỏi chất thải rắn
Y tế; 11,4% bệnh viện có vật sắc nhọn chưa được thu gom vào các hộp đựng theo
đúng tiêu chuẩn quy định.
chất thải không được xử lý đã chất đống ở những nơi hoang vu và không người
khai thác. Ngoài ra do phí lưu giữ chất thải ở Pháp khá rẻ nên các nước láng
giềng đã không do dự mang chất thải của quốc gia mình sang đổ ở các bãi chất
thải tại Pháp.
- Ở Hà Lan: việc xử lý chất thải của Hà Lan được sự tham gia tổng lực
của chính quyền , xã hội cũng như các cơ quan chuyên ngành. Chất thải nguy
hại được xử lý bằng nhiều cách khác nhau, trong đó phần lớn được thiêu hủy,
một phần được tái chế. Trước đây, Hà Lan tiến hành thiêu hủy chất thải nguy
hại ở ngoài biển. Hàng năm, Hà Lan có tới hơn 20 triệu tấn chất thải, 60% trong
số này được đổ ở các bãi chứa, phần còn lại được đưa vào các lò thiêu hủy hoặc
tái chế. Để bảo vệ Môi Trường, chính phủ Hà Lan đã đề ra mục tiêu giảm chất
thải hàng năm để giảm chi phí xử lý. Công nghệ xử lý chất thải nguy hại chủ
yếu được áp dụng là thiêu hủy, nhiệt năng do các lò thiêu hủy sinh ra sẽ được
hòa nhập vào mạng lưới năng lượng chung của đất nước. Việc thiêu hủy chất
thải nguy hại được tiến hành ở những lò đốt hiện đại với kĩ thuật mới nhất, hoặc
việc tổ chức sản xuất được ứng dụng những quy trình đặc biệt nhằm tạo ra
nguồn nguyên liệu mới, thuận lợi cho công việc chế biến.
- Ở Hồng Kông: cơ sở xử lý chất thải nguy hại tập trung được xây dựng
từ năm 1987 đến năm 1993. Với hệ thống thu gom vận chuyển và thiết bị xử lý
hiện đại, công nghệ chủ yếu là xử lý nhiệt và xử lý hóa/ lý đã xử lý được hầu
hết lượng chất thải nguy hại tại Hồng Kông. Tại đây người ta cũng đã tiến hành
nghiên cứu và đề xuất quy chế chung về sự tiêu hủy chất thải, đặc biệt là chất
thải hóa học. nhờ hệ thống nghiền nhỏ để chôn lấp, hệ thống kiểm soát việc
Nhóm SVTH: Tuấn Anh - Chương - Khánh - Dũng Trang 17
Tiểu luận Quản lý chất thải rắn GVHD: Trần Thị Thanh Thuỷ
chôn lấp, kiểm soát nơi thu gom, vận chuyển xử lý và tiêu hủy chất thải, nhất là
chất thải rắn nguy hại đã góp phần nâng cao chất lượng quản lý ở Hồng Kông.
2.3. Các phương pháp xử lý chất thải rắn:
Phát sinh chất thải
Thu gom, phân loại và lưu giữ tại nguồn
• Phương pháp chôn lấp có xử lý
Rác thải thu gom về được phân ra làm 2 loại: rác vô cơ và rác hữu cơ.
Đối với rác vô cơ được đem đi chôn lấp, còn rác hữu cơ được nghiền ủ làm
phân bón.
2.3.2. Phương pháp thiêu hủy:
Chất thải rắn nguy hại được xử lý bằng quá trình đốt thông qua sự nhiệt
phân. Đốt là một quá trình oxy hóa chất thải rắn nguy hại ở nhiệt độ rất cao. Để
quá trình phân hủy bằng nhiệt đạt hiệu quả cao thì ngoài yếu tố oxi tự nhiên còn
cần thời gian đủ lâu để khí thải sinh ra được duy trì cho quá trình cháy hoàn
toàn, nhiệt độ phải đủ cao, quá trình xoáy trộn lẫn tốt.
Đây là quy trình xử lý cuối cùng ứng dụng cho một số chất thải không
thể tái chế, tái sử dụng hay dự trữ an toàn trong bãi chôn lấp. Phần tro sau khi
đốt được chôn lấp.
Hình 4: Lò đốt chất thải rắn y tế
Nhóm SVTH: Tuấn Anh - Chương - Khánh - Dũng Trang 20
Tiểu luận Quản lý chất thải rắn GVHD: Trần Thị Thanh Thuỷ
Đốt chất thải nguy hại được sử dụng như một biện pháp xử lý để giảm
tính độc, thu hồi năng lượng và có thể xử lý một khối lượng lớn chất thải. Nhìn
chung dùng lò thiêu hủy là phương pháp sạch nhưng chi phí cao.
Phương pháp thiêu đốt chỉ sử dụng khi chất thải là chất độc sinh học,
không bị phân hủy sinh học và bền vững trong môi trường.
Các công nghệ hiện nay thường được sử dụng để đốt chất thải nguy hại
là:
Bảng 2: Tổng hợp các công nghệ thường sử dụng đốt chất thải nguy hại
Loại công
nghệ
Nguyên lý quá
trình
Khu vực áp
dụng
Lò đốt nhiều
tầng
Chất thải nguy hại
được đốt ở chế độ
nhiệt tăng dần.
Bùn và các
chất thải
nguy hại ở
dạng đã
viên.
760 – 980 Vài giờ
Lò đốt tầng
sôi
Chất thải nguy hại
được phun vào
trong lớp sôi đã
được đốt nóng.
Chất thải
nguy hại rắn
dạng viên.
760 – 1100 Vài phút
Nhóm SVTH: Tuấn Anh - Chương - Khánh - Dũng Trang 21
Tiểu luận Quản lý chất thải rắn GVHD: Trần Thị Thanh Thuỷ
Qua bảng 2.1 cho chúng ta thấy, thời gian lưu của các chất thải trong lò
đủ để đốt cháy đối với pha khí ít nhất là 2 giây, còn với pha rắn thì phải trong
một vài giờ tùy theo kích thước chất thải.
Có 3 phương pháp thiêu đốt:
- Thiêu đốt tại lò đốt tập trung.
Ưu điểm: làm giảm tối đa những tác động nguy hại của rác thải đối với
môi trường và sức khỏe cộng đồng.
tác động môi trường các bệnh viện chưa được quan tâm đúng mức. Hồ sơ kỹ
thuật, quy trình vận hành các hệ thống, thiết bị xử lý chất thải chưa được
chuyển giao, huấn luyện đối với các bệnh viện xây mới hoặc nâng cấp. Công
tác kiểm tra việc quản lý chất thải y tế, bảo vệ môi trường tại các bệnh viện, cơ
sở y tế còn bị buông lỏng, thiếu quan tâm.
Việc xử lý chất thải y tế, bảo vệ môi trường tại các bệnh viện còn nhiều
khó khăn, bất cập. Đặc biệt tình trạng xử lý chất thải lỏng nguy hại hiện nay ở
các bệnh viện là đáng báo động, nguy cơ lây nhiễm, ảnh hưởng môi trường
sống rất cao.Việc phân loại chất thải rắn y tế còn chưa đúng quy định, còn lẫn
vào chất thải sinh hoạt. Phương tiện thu gom như túi, thùng đựng chất thải còn
thiếu và chưa đồng bộ, hầu hết chưa đạt tiêu chuẩn, vật sắc nhọn chưa được cô
lập an toàn. Không có phương tiện vận chuyển riêng biệt, chuyên dụng, nơi lưu
giữ không bảo đảm vệ sinh, có nhiều nguy cơ gây rủi ro do vật sắc nhọn rơi vãi,
nhiều côn trùng xâm nhập. Nơi tập trung chất thải không có mái che, rào bảo
vệ. Rác thải sinh hoạt tại các bệnh viện huyện cũng chưa được xử lý một cách
triệt để.
Kinh phí đầu tư cho các hệ thống xử lý chất thải y tế nói riêng, công tác
quản lý chất thải y tế, bảo vệ môi trường nói chung tại bệnh viện, cơ sở y tế còn
thiếu nhiều, chưa tương xứng với nhiệm vụ quản lý chất thải y tế, bảo vệ môi
trường theo quy định của pháp luật. Dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý rác
thải y tế, rác thải sinh hoạt tại nhiều huyện còn nhiều khó khăn.
Kiến nghị:
- Cần tăng cường thực hiện các hoạt động thu gom, xử lý chất thải, đặc
biệt là việc thu gom và xử lý các chất thải nguy hại. Bên cạnh đó, công tác quản
Nhóm SVTH: Tuấn Anh - Chương - Khánh - Dũng Trang 24
Tiểu luận Quản lý chất thải rắn GVHD: Trần Thị Thanh Thuỷ
lý và bảo vệ môi trường phải hướng đến các mục tiêu cụ thể như: không ngừng
cải thiện và bảo vệ môi trường, nhằm nâng cao chất lượng và sức khỏe của
nhân dân, đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước,…
- Ban hành quy chế quản lý chất thải Y tế, thành lập các đội giám sát và