CHÍNH SÁCH LẠM PHÁT CỦA MỸ VÀ TRUNG QUỐC - Pdf 28

BÁO CÁO MÔN KINH TẾ VĨ MÔ
CHÍNH SÁCH LẠM PHÁT
CỦA
MỸ VÀ TRUNG QUỐC
TP. HỒ CHÍ MINH, NGÀY 1 THÁNG 3 NĂM 2011
BÁO CÁO MÔN KINH TẾ VĨ MÔ
CHÍNH SÁCH LẠM PHÁT
CỦA
MỸ VÀ TRUNG QUỐC
Giáo viên hướng dẫn: -
Sinh viên thực hiện: -
TP. HỒ CHÍ MINH, NGÀY 1 THÁNG 3 NĂM 2011
vi
TRÍCH YẾU
Lạm phát là một vấn đề vừa như là một sự vận động tất yếu của nền kinh tế thị
trường – vừa là nỗi lo âu của các nhà chính khách.
Thật vậy! Trong kinh tế học, lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá
chung của nền kinh tế. Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay
giảm sức mua của đồng tiền. Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá
giá tiền tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác. Thông thường theo nghĩa đầu
tiên thì người ta hiểu là lạm phát của đơn vị tiền tệ trong phạm vi nền kinh tế của một
quốc gia, còn theo nghĩa thứ hai thì người ta hiểu là lạm phát của một loại tiền tệ trong
phạm vi thị trường toàn cầu. Phạm vi ảnh hưởng của hai thành phần này vẫn là một chủ
đề gây tranh cãi giữa các nhà kinh tế học vĩ mô. Ngược lại với lạm phát là giảm phát. Một
chỉ số lạm phát bằng 0 hay một chỉ số dương nhỏ thì được người ta gọi là sự "ổn định giá
cả".
Vậy hai cường quốc thế giới là Mỹ và Trung Quốc đã làm như thế nào để kìm hãm
lạm phát? Hãy cùng nhóm chúng tôi đi tìm hiểu.
vii
MỤC LỤC
TRÍCH YẾU....................................................................................................................VII

cáo này:
Mục tiêu 1: Tìm kiếm được các thông tin, biểu mẫu về tình hình lạm phát trong
những năm gần đây của Mỹ và Trung Quốc
Mục tiêu 2: Tìm hiểu các chính sách mà cả 2 cường quốc trên đã – đang – và sẽ
làm để kìm chế việc mất giá đồng tiền
Mục tiêu 3: So sánh được kết quả của những chính sách mà 2 quốc gia trên đưa ra
nhằm đưa ra những định hướng theo chủ quan của nhóm cho nền kinh tế Việt Nam
Ngoài phần mở đầu, kết luận và các danh mục, tài liệu tham khảo, nội dung báo cáo
gồm 3 phần chính:
Phần I: Trung Quốc và những con số liên quan
Phần II: Mỹ và những số liệu thống kê
Phần III: Sự giống và khác nhau trong chính sách của Mỹ và Trung Quốc
Phần IV: Những đề xuất cho nền kinh tế Việt Nam
ix
BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC
x
I. TRUNG QUỐC VÀ NHỮNG CON SỐ LIÊN QUAN
Tóm tắt nền kinh tế Trung Quốc:
Hình 1: lãnh thổ của và quốc kì của Trung Quốc – Nguồn: http://www.google.com.vn
Kinh tế Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là nền kinh tế lớn thứ 2 trên thế giới nếu tính
theo Tổng sản phẩm quốc nội(GDP) danh nghĩa. GDP Trung Quốc năm 2008 là 4,42 nghìn
tỷ USD. GDP bình quân đầu người danh nghĩa năm 2007 là 2.660 USD (5.300 USD nếu tính
theo sức mua tương đương (PPP), vẫn còn thấp so với rất nhiều nền kinh tế khác trên thế giới
(thứ 104 trên 183 quốc gia năm 2007).
Trong những năm gần đây, GDP bình quân đầu người Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
tăng lên nhanh chóng nhờ tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định ở mức cao. Năm 2005, 70%
GDP của Trung Quốc là trong khu vực tư nhân. Khu vực kinh tế quốc doanh chịu sự chi phối
của khoảng 200 doanh nghiệp quốc doanh lớn, phần nhiều ở trong các ngành dịch vụ tiện ích
(điện, nước, điện thoại...), công nghiệp nặng, và nguồn năng lượng.
Kể từ năm 1978 chính quyền Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã cải cách nền kinh tế từ

Dù Trung Quốc có tốc độ tăng trưởng kinh tế ngoạn mục, song tốc độ tăng trưởng
GDP bình quân đầu người lẫn tốc độ tăng trưởng GDP tuyệt đối chưa phải là cao nhất thế
giới.
12
Hình 2:Đồng nhân dân tệ - Nguồn: http://www.tieulam.com
Hình 3: các thành phần kinh tế của Trung Quốc – Nguồn:
http://www.marketoracle.co.uk/Article25390.html
Tình hình lạm phát của Trung Quốc:
Thời gian này, Chính phủ và người dân Trung Quốc cùng thể hiện rõ thái độ lo ngại
trước tốc độ leo thang của giá cả hàng hóa trong nước. Đáng chú ý, không chỉ Bắc Kinh mà
ngay cả người tiêu dùng Trung Quốc cũng cho rằng, chính sách của nước Mỹ là một phần
nguyên nhân gây ra lạm phát ở quốc gia đông dân nhất thế giới.
Tỷ lệ lạm phát tại Trung Quốc lần cuối báo cáo mức 4,9 phần trăm vào tháng 1/ 2011.
13
Từ năm 1994 đến năm 2010, tỷ lệ lạm phát trung bình ở Trung Quốc là 4,25 phần trăm
đạt mức cao lịch sử là 27,7% vào tháng 10/1994 và ghi lại mức thấp -2,20% trong 3/1999.
Tỷ lệ lạm phát tại Trung Quốc tháng 12/2010 giảm xuống 4,5% từ mức 5,1%, cao nhất
trong 28 tháng.
Tăng trưởng sản xuất Trung Quốc tháng 12/2010 tăng trưởng chậm lại do chính phủ
thắt chặt chính sách tiền tệ và đóng cửa các nhà máy tiêu tốn nhiều năng lượng và gây ô
nhiễm nặng.
Chỉ số sản xuất PMI tháng 12/2010 của Trung Quốc giảm xuống mức 53,9 từ mức
55,2.
Tỷ lệ lạm phát tại Trung Quốc cuối năm 2010 giảm xuống 4,5% từ mức 5,1%, cao nhất
trong 28 tháng, theo dự báo của nhóm chuyên gia kinh tế làm việc tại Bank of America
Merrill Lynch và China International Capital Corp.
CICC ước tính chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2010 tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước,
trong khi dự báo của Bank of America Merrill Lynch là 4,8%.
Hình 4: Chỉ số lạm phát của Trung Quốc từ 1/2008 đến 1/2011 – Nguồn:
http://www.tradingeconomics.com

nguyên nhiên vật liệu phục vụ nông nghiệp... kiên quyết xử lý các trường hợp liên kết
đầu cơ trục lợi.
6) Hoàn thiện và thực hiện các biện pháp trợ cấp đối với người có thu nhập thấp.
7) Ngăn chặn kịp thời tình trạng giá cả nguyên nhiên vật liệu leo thang.
8) Kiên trì thực hiện “chế độ trách nhiệm bao gạo” đối với tỉnh trưởng và “chế độ
trách nhiệm rổ rau” đối với thị trưởng.
Trung Quốc xiết chặt chính sách tiền tệ năm 2008
Như vậy, biện pháp thắt chặt tiền tệ phải được tiến hành có liều lượng, có lộ trình và
đồng thời với quản lý thị trường, quản lý giá cả, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển và
hỗ trợ người dân có thu nhập thấp.
17
•2009
Chính phủ Trung Quốc kỳ vọng gói kích thích kinh tế 600 tỷ USD của nước này sẽ
giúp tạo việc làm và duy trì tốc độ tiêu dùng của người dân. Chính phủ cũng đã yêu cầu các
ngân hàng tăng cường cho vay, để đạt mục tiêu cho vay tổng số tiền 588 tỷ USD trong năm
2009. Mục tiêu tăng cung tiền năm nay của Trung Quốc đã được điều chỉnh lên mức 17% so
với năm ngoái, từ mức 14,8% đặt ra trong tháng 11.
Vào giữa tháng 12/2009, Hội đồng Nhà nước Trung Quốc đã công bố một loạt chính
sách nhằm kích thích hoạt động cho vay, bao gồm việc mở rộng phát hành trái phiếu doanh
nghiệp liên quan tới cơ sở hạ tầng và nới rộng quyền hạn cho các ngân hàng trong việc định
lãi suất cho vay.
Vào ngày 22/12/2009, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc đã tiến hành cắt giảm lãi
suất lần thứ 5 liên tiếp từ tháng 9 tới nay, đưa lãi suất cơ bản cho vay và gửi tiết kiệm kỳ hạn
1 năm đồng Nhân dân tệ xuống mức lần lượt là 5,31% và 2,25%.
Giá tiêu dùng CPI của Trung Quốc tăng 1,9% trong tháng 12, sau khi tăng 0,6% trong
tháng 11. Giá sản xuất tăng 1,7% sau khi giảm trong 12 tháng trước đó.
•2010
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng 10 vừa qua đã tăng lên 4,4% so với cùng thời kỳ
vào năm ngoái, phá kỷ lục trong vòng 25 tháng. Giá thực phẩm chiếm phần lớn trong sự gia
tăng giá cả, tăng 10,1% so với năm ngoái, theo thống kê chính thức - nhưng con số này chưa

cung cấp một số thông điệp về nghiệp vụ. Năm 2010, PBOC kích thích các ngân hàng trở lại
với hoạt động gia công, vận tải giao nhận và công nghiệp văn hóa.
Nếu “nguyên tắc cửa sổ” ảnh hưởng đến xu hướng cho vay, thì hạn mức tín dụng của
Trung Quốc kiểm soát về số lượng.
19
Năm 2010, Trung Quốc thiết lập hạn ngạch tín dụng là 7,5 nghìn tỷ Nhân dân tệ
(NDT). Tuy nhiên, các NHTM đã sử dụng tới ¼ hạn ngạch ngay trong 2 tháng đầu tiên và
hơn 99% đến cuối tháng 11.
10 chính sách kinh tế nổi bật của Trung Quốc năm 2010
 Sáu lần nâng tỉ lệ dự trữ bắt buộc
Trong năm nay, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc đã 6 lần tăng tỷ lệ dự trữ bắt
buộc. Mức nâng mỗi lần là 50 điểm cơ bản (0,5%), từ 15,5% vào cuối năm 2009 lên mức cao
kỉ lục là 18,5% tháng 12/2010 để hút bớt tiền khỏi lưu thông.
Hình 8: rút bớt tiền lưu thong trên thị trường
bằng việc tăng lãi suất huy động vốn
 Nỗ lực hạ nhiệt thị trường nhà đất
Chính phủ nước này đưa ra quy định, những gia đình muốn vay tiển để mua căn hộ thứ
hai phải trả trước hơn 50%. Tương tự, những người chuẩn bị mua nhà trong khi đang sở hữu
một căn nhà khác rộng hơn 90 m2

phải trả ít nhất 30% tổng giá trị trước khi thế chấp.
20
Hình 9: bong bong nhà đất tại Trung Quốc – Nguồn: http://www.tinkinhte.com
Cùng với tin đồn xung quanh việc Bắc Kinh và Thượng Hải sẽ là những thành phố đầu
tiên áp dụng thuế đất, những chính sách nghiêm ngặt như trên đã góp phần làm giảm đà tăng
giá của thị trường bất động sản nước này.
 Chuyển hướng sang chính sách tiền tệ thận trọng
Tại Hội nghị trung ương về công tác kinh tế năm 2010, các nhà hoạch định chính sách
đã chuyển từ chính sách tiền tệ nới lỏng sang “thận trọng”. Số liệu mới từ Cục thống kê quốc
gia cho thấy tỷ lệ lạm phát ở Trung Quốc đã chạm mức 5,1% trong tháng 11 – mức cao nhất

Năng lượng nguyên tử, gió, ánh sáng mặt trời được hưởng những chính sách vô cùng
thuận lợi trong năm 2010 khi Trung Quốc muốn tăng việc sản xuất năng lượng sạch lên 15%
trong kế hoạch 5 năm lần thứ 12 (2011 – 2015).
23
Hình 12: năng lượn sạch cho Trái Đất – Nguồn: http://www.google.com
Theo số liệu từ cục quản lý năng lượng Quốc gia, 62% lượng đầu tư trong 3 quý vừa
qua là cho ngành công nghiệp năng lượng sạch. Các nhà máy điện nguyên tử của Trung
Quốc có khả năng sản xuất được hơn 10 triệu kW và sẽ được nâng lên 40 triệu kW vào năm
2015.
 Các cụm thành phố
Theo một chỉ thị của Ủy ban Cải tổ và Phát triển quốc gia hồi tháng 8, chính quyền
Trung Quốc đã hứa sẽ tạo ra 6 cụm thành phố để tăng cường sự phát triển của miền trung
Trung Quốc.
Các cụm thành phố được xây dựng để tạo ra nhiều khu công nghiệp tập trung và phân
phối tài nguyên đồng đều hơn, nhằm cân bằng sự phát triển tại tất cả các vùng miền ở Trung
Quốc.
 Ngành công nghiệp văn hóa của Trung Quốc trở thành trụ cột
kinh tế
24
Ngành công nghiệp văn hóa của Trung Quốc đã phát triển với tốc độ hơn 15% trong
vòng 5 năm trở lại đây. Thực tế này đã khiến chính phủ đề nghị phải nâng vai trò của ngành
công nghiệp văn hóa lên thành trụ cột kinh tế trong Hội nghị các vấn đề về kinh tế được tổ
chức đầu tháng này.
Theo một báo cáo từ Viện khoa học xã hội Trung Quốc, ngành công nghiệp văn hóa
của nước này trị giá khoảng 800 tỷ NDT (tương đương 120 tỷ USD). Tăng cường số hóa nội
dung và hợp tác với khu vực tư nhân được coi là bước tiếp theo trong quá trình phát triển.
 Trợ giá cho ôtô điện
Vào tháng 6, các nhà quản lý kinh tế hàng đầu và 4 bộ liên quan đã ra quyết định trợ
cấp cho các cá nhân mua ôtô chạy bằng điện.
Hình 13: xe hơi chạy bằng điện – thân thiện với môi trường – Nguồn: http://www.google.com

Bằng nhiều biện pháp, Hoa Kỳ đã duy trì được vị thế là một nền kinh tế có tính cạnh
tranh cao, sản lượng lớn và có tầm ảnh hưởng rộng lớn nhất trên thế giới. Tuy nhiên, càng
ngày kinh tế Mỹ càng chịu nhiều tác động từ các nền kinh tế năng động khác. Hiện nay, nước
Mỹ vẫn đang phải đối mặt với cả các thách thức đến từ bên trong lẫn những thách thức đến
từ bên ngoài.
Dù gì đi nữa, kinh tế Mỹ luôn đứng cao nhất hoặc cận cao nhất trong hàng loạt các xếp
hạng quốc tế:
 Xếp thứ nhất về sản lượng kinh tế, còn gọi là tổng sản phẩm quốc nội (GDP),
đạt 13,13 nghìn tỷ đô-la Mỹ trong năm 2006. Với ít hơn 5% dân số thế giới, khoảng
302 triệu người, nước Mỹ chiếm 20 đến 30% tổng GDP của toàn thế giới. Riêng GDP
của một bang – bang California - đạt 1,5 nghìn tỷ trong năm 2006, đã vượt quá GDP
của tất cả các nước, chỉ trừ 8 nước, vào năm đó.
 Đứng đầu về tổng kim ngạch nhập khẩu, khoảng 2,2 nghìn tỷ đô-la Mỹ, gấp 3
kim ngạch nhập khẩu của nước đứng thứ hai là Đức.
 Đứng thứ hai về xuất khẩu hàng hóa – 1 nghìn tỷ trong năm 2006 - chỉ sau
Đức, mặc dù theo dự báo, Trung Quốc sẽ vượt Mỹ vào năm 2007. Đứng thứ nhất về
xuất khẩu dịch vụ với 422 tỷ đô-la trong năm 2006.
 Đứng thứ nhất về thâm hụt thương mại, 785,5 tỷ đô-la trong năm 2006, lớn hơn
rất nhiều lần so với bất kỳ quốc gia nào khác.
 Đứng thứ hai về chuyên chở container đường biển trong năm 2006, chỉ sau
Trung Quốc
27
 Đứng thứ nhất về nợ nước ngoài, ước tính hơn 10 nghìn tỷ đô-la vào giữa năm
2006.
 Là địa điểm thu hút nhiều đầu tư trực tiếp nước ngoài nhất – trong lĩnh vực
kinh doanh và bất động sản - đạt khoảng 177,3 tỷ đô-la trong năm 2006. Đứng đầu về
địa điểm rót vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của 100 tập đoàn đa quốc gia lớn nhất thế
giới, bao gồm cả các tập đoàn từ những nước đang phát triển
 Đứng thứ năm về tài sản dự trữ trong năm 2005 với 188,3 tỷ đô-la, chiếm 4%
thị phần thế giới, sau Nhật và Trung Quốc (mỗi quốc gia này chiếm 18%), Đài Loan và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status