Báo cáo Tổng quan về đào tạo công tác xã hội ở Việt nam - Pdf 28

1

Tổng quan về đào tạo công tác xã hội ở Việt Nam
PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Hoa
1

CN. Bùi Thanh Minh
2

1. Dẫn nhập
Khởi nguồn từ những hoạt động từ thiện tự phát và mang đậm màu sắc tôn giáo,
ngày nay Công tác xã hội đã trở thành một nghề được coi trọng ở nhiều quốc gia trên thế
giới. Với trọng tâm nghề nghiệp hướng đến trợ giúp những người yếu thế trong xã hội:
người nghèo, người cao tuổi, phụ nữ, trẻ em…, Công tác xã hội đã, đang và sẽ phấn đấu,
đóng góp vào mục tiêu xây dựng một thế giới công bằng, bình đẳng và phát triển.
Khác với Công tác xã hội thế giới với lịch sử hàng trăm năm, Công tác xã hội Việt
Nam đang bước những bước đầu tiên trong quá trình phát triển để trở thành một nghề
trong xã hội. Năm 2009, Dân số Việt Nam có 85.789.573 người, trong đó có khoảng 25
triệu người yếu thế, dễ bị tổn thương (chiếm 28% dân số) bao gồm: 9 triệu người nghèo,
7.5 triệu người cao tuổi, 5.4 triệu người khuyết tật, 1.4 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt,
hơn 180.000 người nhiễm HIV được phát hiện, gần 170.000 người nghiện ma túy, hơn
15.000 người hoạt động mại dâm…
3
đang cần sự giúp đỡ, can thiệp một cách chuyên
nghiệp, có hiệu quả của các nhân viên Công tác xã hội. Chính vì thế, xây dựng và phát
triển nghề công tác xã hội xuất phát từ chính nhu cầu thực tế của xã hội.
Ngày 25/03/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg về
phát triển nghề công tác xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2010-2020 (Đề án 32), đây là một
dấu mốc quan trọng, một minh chứng thể hiện quyết tâm của Đảng, Nhà nước Việt Nam
trong việc xây dựng và phát triển nghề công tác xã hội. Qua hơn hai năm thực hiện Đề án,
công tác xã hội Việt Nam đã có những bước phát triển nhanh chóng và từng bước khẳng

6.158 9,46
Trung cấp nghề 2.939 4,5
Trung cấp chuyên nghiệp 21.550 33,1
Cao đẳng nghề 354 0,54
Cao đẳng chuyên nghiệp 3.157 4,85
Đại học 15.194 23,4
Trên đại học 163 0,25
Tổng số 65,046 100,0

Do vậy, Đề án 32 đã đề ra mục tiêu 60.000 cán bộ, nhân viên, cộng tác viên công
tác xã hội vào năm 2020, trong đó với 35000 người thông qua đào tạo chính thức và đào
tạo lại, 25000 người được đào tạo qua các hoạt động tập huấn, bồi dưỡng kiến thức. Và để
hướng đến mục tiêu đạt chuẩn quốc tế: 1 nhân viên công tác xã hội/1000 dân, có thể thấy
rằng nhiệm vụ đào tạo là hết sức nặng nề với nhiều thách thức, trở ngại nhất là trong bối
cảnh đào tạo công tác xã hội Việt Nam còn có nhiều hạn chế như hiện nay.
4
Cục Bảo trợ xã hội, Bộ LĐTB&XH, Báo cáo kết quả thực hiện điều tra, rà soát nhu cầu đào tạo của cán bộ, viên
chức, nhân viên và cộng tác viên công tác xã hội năm 2010 của toàn quốc.
3

2. Đào tạo công tác xã hội ở Việt Nam
Hoạt động đào tạo công tác xã hội tại Việt Nam theo hướng chuyên nghiệp đã xuất
hiện khá sớm tại miền Nam Việt Nam. Năm 1947, dòng tu Vinh Sơn, dưới sự bảo trợ của
Hội đồng Thập tự Pháp đã thành lập Trường cán sự xã hội Caritas. Các khóa chính quy
của trường học ba năm, đào tạo những nhân viên công tác xã hội trung cấp và hoạt động
cho đến ngày giải phóng miền Nam. Ở miền Bắc, trước ngày hòa bình lập lại (1954), Hội
Chữ Thập đỏ Pháp cũng đã tiến hành các khóa đào tạo, huấn luyện cán bộ xã hội tại bệnh

6

Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, với việc đào tạo của các trường hiện
nay, mỗi năm sẽ cung cấp khoảng 2500 cử nhân công tác xã hội; đã đào tạo được 18.092
người hệ vừa học vừa làm, gồm: trên 4.500 người hệ trung cấp; 1.092 người đào tạo hệ
cao đẳng; khoảng 12.500 người đào tạo hệ đại học
7
. Đây sẽ là nguồn nhân lực quan trọng
để phục vụ việc xây dựng và phát triển nghề công tác xã hội. Bên cạnh những thành tựu
đạt được, công tác đào tạo công tác xã hội hiện nay ở nước ta gặp rất nhiều khó khăn, trở
ngại. Trước hết là những khó khăn bất cập chung của hệ thống giáo dục, sau đó là những
khó khăn bất cập mang tính đặc thù của công tác xã hội:
- Đội ngũ giảng viên: Đa phần giảng viên công tác xã hội hiện nay đều xuất phát
từ các ngành gần như Xã hội học, Tâm lý học, Nhân học…Theo thống kê không đầy đủ
của Bộ Giáo dục và Đào tạo, hiện nay đội ngũ giảng viên công tác xã hội mới có trên 30
người có bằng thạc sỹ và tiến sỹ. Đội ngũ này đa phần được đào tạo ở nước ngoài do đó
thiếu kinh nghiệm thực tiễn ở Việt Nam. Nhiều giảng viên công tác xã hội chưa từng đi
thực hành nghề nghiệp do đó kiến thức truyền đạt nặng về hàn lâm và lý thuyết, không
phù hợp với công tác đào tạo của một nghề mang tính thực tiễn cao như công tác xã hội.
- Hệ thống học liệu, giáo trình: Đây là một khâu yếu nhất gây ảnh hưởng đến
việc đào tạo công tác xã hội. Có rất ít giáo trình về công tác xã hội từ mặt đại cương,
phương pháp đến các tài liệu, giáo trình chuyên ngành được biên soạn. Đa phần các tài
liệu, giáo trình ở thư viện được viết bằng tiếng nước ngoài (chủ yếu là tiếng Anh) trong
khi đó trình độ ngoại ngữ của sinh viên công tác xã hội nói riêng cũng như những sinh
viên Việt Nam nói chung còn hạn chế do đó làm giảm khả năng tiếp cận. Do đó, việc tổ
chức dịch, biên dịch là một công việc cấp thiết.

6
Cục Bảo trợ Xã hội, Bộ LĐTB&XH, Kê hoạch đào tạo giảng viên dạy nghề CTXH năm 2012
7

chiều sâu của công tác xã hội ở Việt Nam 8
Nguyễn Thị Thu Hà, 2011, Hoạt động đào tạo nhân lực công tác xã hội tại Việt Nam hiện nay, Kỷ yếu hội thảo
quốc tế “20 năm khoa xã hội học thành tựu và thách thức”, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
6

3.1. Hoàn thiện chương trình, nâng cao chất lượng đào tạo công tác xã hội
Để cung cấp nguồn nhân lực công tác xã hội đáp ứng được yêu cầu của xã hội,
hoàn thiện hệ thống, nâng cao chất lượng đào tạo công tác xã hội là việc làm tiên quyết,
đóng vai trò quyết định. Để nâng cao chất lượng đào tạo cần một loạt các giải pháp đồng
bộ:
- Tiến hành đào tạo và nâng cao trình độ cho đội ngũ giảng viên. Trước mắt cần
có các chương trình bồi dưỡng, tập huấn cả về lý thuyết lẫn thực hành cho đội ngũ giảng
viên; đào tạo các thạc sỹ, tiến sỹ công tác xã hội ở các nước có nền công tác xã hội phát
triển. Năm 2012, xuất phát từ nhu cầu thực tế và thực hiện Đề án 32, Bộ Lao động
Thương binh và Xã hội chủ trương tăng cường đào tạo đội ngũ giảng viên công tác xã hội
với mục tiêu đào tạo được từ 600-900 giảng viên dạy nghề công tác xã hội trên toàn
quốc
9
. Đây sẽ là nguồn nhân lực quan trọng trong hoạt động đào tạo nghề công tác xã hội
ở các địa phương.
- Tiến hành dịch, biên dịch các tài liệu, giáo trình của nước ngoài để phục vụ
cho việc học tập, nghiên cứu của sinh viên được tốt hơn. Đồng thời, cần hỗ trợ đội ngũ
giảng viên, các Khoa, các trường đào tạo công tác xã hội về kinh phí, kỹ thuật để biên
soạn các giáo trình công tác xã hội phù hợp, sát thực với điều kiện thực tế ở Việt Nam.
Thống nhất hệ thống giáo trình, tài liệu giảng dạy của các cơ sở đào tạo trong phạm vi cả
nước. Thực hiện Đề án 32, năm 2011, Cục Bảo trợ xã hội đã phối hợp với Trường Đại
học Lao động Xã hội, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn, Hội người cao tuổi Việt

cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao do đó yêu cầu phải đào tạo công tác xã hội ở trình
độ cao được đặt ra.
Với tư cách là một nghề chuyên môn, nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp
không chỉ là người chăm sóc, hỗ trợ, trực tiếp cung cấp các dịch vụ công tác xã hội cho
đối tượng mà còn đóng vai trò là nhà quản lý, đào tạo, nhà hoạch định chính sách…Do
đó, nhu cầu đào tạo công tác xã hội ở trình độ thạc sỹ, tiến sỹ là công việc cần thiết để
cung cấp cho nghề công tác xã hội những nhân lực chất lượng cao, những “máy cái” trong
hệ thống nghề nghiệp.
Với tư cách là một khoa học, công tác xã hội đòi hỏi một đội ngũ những nhà khoa
học, những nghiên cứu viên xuất sắc về mặt lý luận cũng như thực tiễn để nghiên cứu các
vấn đề khoa học của công tác xã hội, tạo ra nền tảng phát triển thực sự bền vững cho nghề
công tác xã hội, hướng đến trợ giúp tốt hơn, hiệu quả hơn, chuyên nghiệp cho người dân.
Do đó, đào tạo thạc sỹ và tiến sỹ cũng là yêu cầu tiên quyết để xây dựng được một nền
khoa học công tác xã hội vững mạnh, có chiều sâu và phù hợp với điều kiện thực tế ở Việt
Nam.
8

Trong cuộc khảo sát năm 2010 của Cục Bảo trợ xã hội, Bộ LĐTB&XH về nhu cầu
đào tạo của cán bộ, viên chức, có đến 10.146 người trên tổng số 65046 người có nhu cầu
được đào tạo ở trình độ sau đại học (Thạc sỹ: 9357 người; tiến sỹ: 789 người). Có thể
thấy rằng nhu cầu đào tạo công tác xã hội trình độ cao là rất lớn.
Nhận thức được tầm quan trọng và nhu cầu của xã hội trong đào tạo công tác xã
hội trình độ cao, một số trường đã mở các chương trình đào tạo thạc sỹ về công tác xã hội
tại Việt Nam. Đó là chương trình đào tạo thạc sỹ trong khuôn khổ sự hợp tác giữa Đại học
Lao động Xã hội và Đại học phụ nữ Philippin kéo dài 18 tháng bằng tiếng Anh; chương
trình thạc sỹ công tác xã hội của Học viện Khoa học Xã hội Việt Nam.
Là một trung tâm đào tạo truyền thống và đầu ngành về lĩnh vực khoa học xã hội
và nhân văn, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội là
đơn vị đi đầu trong công tác đào tạo các ngành khoa học xã hội nói chung và công tác xã
hội nói riêng. Hiện nay nhà trường là đơn vị đào tạo đầu tiên trong cả nước đào tạo công

huy những thế mạnh cũng như khắc phục những thiếu sót trong quá trình đào tạo cử nhân,
thạc sỹ để sớm trở thành cơ sở đầu tiên trong cả nước đào tạo công tác xã hội ở trình độ
tiến sỹ, góp phần hoàn thiện hệ thống đào tạo nói riêng và đóng góp vào sự phát triển của
công tác xã hội ở Việt Nam nói chung.

4. Kết luận
Với sự ra đời và tác động của đề án phát triển nghề công tác xã hội (Đề án 32),
công tác xã hội Việt Nam đang có những chuyển động mạnh mẽ, phát triển cả về chiều
rộng và chiều sâu. Để đáp ứng được những yêu cầu của thời kỳ mới, hoạt động đào tạo
công tác xã hội cũng cần có những thay đổi để đào tạo ra nguồn nhân lực công tác xã hội
chất lượng cao, đáp ứng được nhu cầu xã hội, phục vụ sự phát triển của công tác xã hội
Việt Nam trong gian đoạn hiện nay. Đề hoàn thành được nhiệm vụ và vai trò đào tạo của
mình, các cơ sở đào tạo cần có những giải pháp đồng bộ để nâng cao chất lượng đồng thời
cần nhanh chóng phát triển chương trình đào tạo chất lượng cao, đào tạo công tác xã hội ở
trình độ thạc sỹ, tiến sỹ để tạo ra những tiền đề vững chắc phát triển công tác xã hội với tư
cách một khoa học, một nghề chuyên môn ở Việt Nam. Sự phát triển và hoàn thiện của
công tác đào tạo sẽ góp phần thực hiện thành công Đề án phát triển nghề công tác xã hội.
10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Cục Bảo trợ Xã hội, Bộ LĐTB&XH (2010), Báo cáo kết quả thực hiện điều tra,
rà soát nhu cầu đào tạo của cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên công tác xã hội
năm 2010 của toàn quốc.
2. Cục Bảo trợ Xã hội, Bộ LĐTB&XH (2012), Kê hoạch đào tạo giảng viên dạy
nghề CTXH năm 2012
3. Đại học Quốc gia Hà Nội (2008), Chương trình đào tạo đại học, NXB Đại học
Quốc gia Hà Nội.
4. Nguyễn Thị Thu Hà (2011), Hoạt động đào tạo nhân lực công tác xã hội tại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status