NHỮNG THÁCH THỨC CỦA VIỆC KẾT HỢP
NGHIÊN CỨU VỚI ĐÀO TẠO KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TS. TRẦN VĂN HẢI
Khoa Khoa học quản lý, Trường Đại học KHXH&NV
Đại học Quốc gia Hà Nội
1. Lý do nghiên cứu
Khoa học và Công nghệ (KH&CN) đã và đang trở thành lực lượng sản xuất
trực tiếp và là nhân tố quyết định năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia, việc đào tạo
gắn kết với nghiên cứu khoa học là một xu thế, một biện pháp tích cực của nền giáo
dục năng động và sáng tạo.
Quan niệm lạc hậu cho rằng trường đại học chỉ là nơi đào tạo đã bị thực tiễn
loại bỏ, quan niệm hiện đại cho rằng trường đại học có hai chức năng song hành là
đào tạo và nghiên cứu khoa học, hai chức năng này luôn hỗ trợ, bổ sung cho nhau để
nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu. Nghiên cứu khoa học nhằm trang bị cho
người học một lượng kiến thức cơ bản cần thiết, phương pháp luận để sau khi tốt
nghiệp người học có thể tiếp tục học tập, có khả năng giải quyết những vấn đề do
thực tế đề ra. Đào tạo qua nghiên cứu là nguyên tắc quán triệt xuyên suốt toàn bộ
quá trình học tập.
Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII) về KH&CN đã chỉ rõ tầm quan trọng
của Khoa học Xã hội và Nhân văn (KHXH&NV) đối với sự nghiệp công nghiệp
hóa và hiện đại hóa đất nước. Nhận thức được tầm quan trọng này, các trường đại
học thuộc khối KHXH đã có những bước tiến đáng kể trong việc kết hợp nghiên cứu
với đào tạo nhằm nâng cao chất lượng đào tạo. Nghị quyết số 05- NQ/BCSĐ ngày
06.01.2010 của Ban Cán sự Đảng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ rõ đổi mới cơ quan
quản lý và triển khai nghiên cứu khoa học ở các trường đại học, cao đẳng, hình
thành cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa Vụ Giáo dục đại học và Vụ Khoa học, Công
nghệ và Môi trường để hoạt động nghiên cứu khoa học phục vụ xã hội trở thành
nhiệm vụ thường xuyên của các cơ sở đào tạo đại học.
Tuy nhiên, công tác kết hợp nghiên cứu với đào tạo cũng đã bộc lộ những
mặt yếu kém nhất định thể hiện trên các mặt nhân lực KH&CN, kinh phí chi cho
nghiên cứu khoa học, khả năng ứng dụng trong thực tế các nghiên cứu về
người khác ứng dụng kết quả nghiên cứu trong thực tiễn, sau nữa giới hạn của quyền
tác giả cho thấy mọi người có quyền tự sao chép cho mình một bản sao kết quả
nghiên cứu khoa học dùng trong đào tạo, nghiên cứu mà không bị coi là xâm phạm
quyền tác giả đối với kết quả nghiên cứu khoa học.
1.2. Vai trò của nghiên cứu khoa học đối với đào tạo
Luật Giáo dục 2005 quy định chức năng của trường đại học: “Thực hiện việc
tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu chương
trình giáo dục. Thực hiện các hoạt động nghiên cứu khoa học, ứng dụng và phát
triển công nghệ… và thực hiện các dịch vụ khoa học, chuyển giao công nghệ, sản
xuất kinh doanh phù hợp với ngành nghề đào tạo theo quy định của pháp luật”.
Về bản chất, đào tạo là việc truyền bá các kiến thức khoa học (chứ không
phải truyền bá kinh nghiệm), mà kinh nghiệm chỉ có thể được kiểm nghiệm tính
đúng đắn qua quá trình nghiên cứu khoa học. Điểm này là vô cùng quan trọng đối
với lĩnh vực KHXH&NV, bởi vì người ta có thể mang thí nghiệm hoặc áp dụng
trong thực tiễn một kinh nghiệm thuộc lĩnh vực tự nhiên hoặc công nghệ, nhưng
không ai có quyền (và không thể) mang thí nghiệm một kinh nghiệm đối với xã hội,
bởi vậy mọi kinh nghiệm trong lĩnh vực xã hội nhất thiết phải được khoa học kiểm
chứng mới được phép ứng dụng nó trong thực tế.
Việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học là một trong các tiêu chí của
khoa học. Ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học trong giáo dục và đào tạo là
con đường ngắn nhất của quá trình chuyển giao kết quả khoa học từ khu vực nghiên
cứu sang khu vực ứng dụng.
Xét trên góc độ kinh tế thì quá trình chuyển giao kết quả khoa học từ khu vực
nghiên cứu sang khu vực ứng dụng trong lĩnh vực đào tạo hoàn toàn miễn phí không
những đối với kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực KHXH&NV mà còn ở cả các lĩnh
vực còn lại của khoa học. Nhà nước đã chi vài tỷ VNĐ cho nghiên cứu một đề tài
KHXH&NV, nhưng pháp luật về sở hữu trí tuệ quy định nhà trường và các nhà khoa
học hoàn toàn có quyền lấy (miễn phí) các kết quả nghiên cứu trên dùng trong đào
tạo và nghiên cứu khoa học.
Trình độ, năng lực của giảng viên là một trong những yếu tố quyết định chất
khác, điểm đầu vào của các trường đại học khối KHXH&NV thấp, sinh viên tốt
nghiệp đại học các ngành KHXH&NV ít có cơ hội kiếm được việc làm so với tốt
nghiệp các ngành khác… Quan niệm lệch lạc này đã dẫn đến hậu quả nguy hiểm cho
xã hội, đó là con người không hiểu biết ngay chính bản thân mình, tạo thành những
nghịch lý, ví dụ thành tựu của khoa học tự nhiên và công nghệ phát triển bao nhiêu
thì mối nguy hiểm cho con người lại lớn lên bấy nhiêu (sự phát triển đô thị kéo theo
hậu quả tàn phá môi trường, công nghệ chẩn đoán giới tính thai nhi tạo sự mất cân
bằng giới tính tự nhiên…), đạo đức xã hội xuống cấp…
Tình trạng yếu kém và bị coi thường của KHXH&NV, nhất là trong lĩnh vực
giáo dục đại học là có thật, làm cho những ai quan tâm đến tương lai đất nước phải
lo ngại. Mọi người đều biết rằng những sai lầm về công nghệ, kỹ thuật để lại hậu
quả lớn, nhưng vẫn có thể khắc phục được trong một thời gian nhất định, nhưng
những sai lầm thuộc về lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa, giáo dục… tức là
KHXH&NV sẽ để lại hậu quả vô cùng nghiêm trọng và lâu dài, trong nhiều trường
hợp là không thể khắc phục được.
Một bộ phận lớn trong lĩnh vực KHXH&NV thuộc các khoa học cơ bản
(không thuộc diện “nhu cầu trước mắt”của xã hội) đòi hỏi phải có sự đầu tư thích
đáng của Nhà nước. Nhưng có thể thấy, trong một số văn bản về quản lý giáo dục và
đào tạo chỉ nhắc đến đào tạo theo nhu cầu của xã hội, mà không định nghĩa rõ thế
nào là nhu cầu của xã hội. Có thể dẫn chứng Nghị quyết số 05- NQ/BCSĐ ngày
06.01.2010 của Ban Cán sự Đảng Bộ Giáo dục và Đào tạo, tại mục 2.3.4. đã viết:
“Đẩy mạnh đào tạo theo nhu cầu xã hội: Sơ kết 3 năm (2008-2010) việc triển khai
thực hiện đào tạo theo nhu cầu xã hội và xây dựng kế hoạch đẩy mạnh việc đào tạo
theo nhu cầu xã hội cấp quốc gia, tại mỗi địa phương và mỗi cơ sở đào tạo”.
Điểm này dẫn đến hiện tượng, nhiều trường đại học bỏ qua mảng
KHXH&NV, bởi vậy việc kết hợp giữa nghiên cứu và đào tạo của các trường đại
học này bị bỏ ngỏ. Mặt khác, cũng từ đây, chính các cơ quan quản lý giáo dục và
đào tạo cũng xem nhẹ KHXH&NV.
2.2. Kinh phí chi cho nghiên cứu KHXH&NV
Sự xem nhẹ KHXH&NV dẫn đến hệ quả là kinh phí chi cho nghiên cứu ngay
(Nguồn: Ban Khoa học và Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội)
Để tiện so sánh mức đầu tư ngân sách cho nghiên cứu khoa học giữa các đơn
vị thành viên trong Đại học Quốc gia Hà Nội, chúng tôi xin đưa ra biểu đồ hình cột,
trong biểu đồ này không thống kê Khoa Luật, mà chỉ thống kê Trường đại học thành
viên.
So sánh mức đầu tư cho nghiên cứu khoa học
từ ngân sách nhà nước giữa các lĩnh vực khác nhau
Như vậy việc ngân sách nhà nước đầu tư cho nghiên cứu khoa học khối
KHXH&NV là ít so với các lĩnh vực khác, đặc biệt nguồn kinh phí này chỉ bằng
17,67% so với Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, thậm chí kinh phí chi cho
nghiên cứu KHXH&NV còn ít hơn cả với ngành gần là Trường Đại học Ngoại ngữ.
Hiện tượng đầu tư kinh phí từ ngân sách nhà nước cho lĩnh vực nghiên cứu
KHXH&NV không chỉ diễn ra tại Đại học Quốc gia Hà Nội, mà còn diễn ra ở nơi
khác nữa, ví dụ theo số liệu của Sở KH&CN Thành phố Hồ Chí Minh, trong tổng
kinh phí 30,5 tỉ đồng chi cho nghiên cứu khoa học của Thành phố Hồ Chí Minh năm
2003, phần dành cho khoa học xã hội chỉ đạt 1,4 tỉ đồng, tức chưa đầy 5%. Ngay
trong phạm vi Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, các đề tài nghiên cứu
khoa học xã hội vào năm 2004 cũng chỉ chiếm tỷ lệ 1/6 trong tổng kinh phí cấp cho
các đề tài trọng điểm cấp bộ (560 triệu đồng so với 3.443 triệu đồng)
1
.
Qua nghiên cứu so sánh định lượng, chúng ta thấy ở đâu đó có những phát
biểu cho rằng quan tâm đến lĩnh vực KHXH&NV, nhưng thực chất lĩnh vực này
hiện đang bị xem nhẹ, kinh phí chi ít như vậy nên dẫn đến kết quả nghiên cứu khoa
học không cao và hậu quả là chất lượng đào tạo các ngành thuộc khối KHXH&NV
không theo kịp yêu cầu phát triển của xã hội là lẽ đương nhiên.
Chúng tôi tiếp tục đưa ra số liệu kinh phí cho nghiên cứu khoa học mà
Trường Đại học KHXH&NV, ĐHQGHN huy động được từ các nguồn ngoài ngân
sách Nhà nước để thấy rõ mức độ quan tâm đến kết quả nghiên cứu KHXH&NV của
Nhà nước và của các tổ chức khác.
Kết quả nghiên cứu thuộc lĩnh vực KHXH&NV không giống kết quả nghiên
cứu thuộc các lĩnh vực khác, bởi vậy, có thể chúng chưa được áp dụng hoặc thậm
chí không thể áp dụng nhưng chúng vẫn có những giá trị khoa học. Hơn nữa, nên
nhắc lại tính rủi ro là một trong những thuộc tính của khoa học, trong đó có
KHXH&NV.
Bởi vậy, không nên lấy tiêu chí đã được áp dụng để đánh giá kết quả nghiên
cứu KHXH&NV.
Mặt khác cần phân biệt kết quả nghiên cứu cơ bản với nghiên cứu ứng dụng,
bởi vì Thông tư số 07/2009/TT-BKHCN quy định về quản lý đề tài KHXH&NV nêu
rõ chủ trì đề tài phải lấy giấy xác nhận của cơ quan/tổ chức sử dụng kết quả nghiên
cứu. Về điểm này, có mấy việc cần phải bàn:
- Kết quả nghiên cứu nhiệm vụ KHXH&NV thuộc lĩnh vực ứng dụng thì mới
có thể chuyển giao cho một/những cơ quan, tổ chức ứng dụng nó. Nhưng quy định
này cũng chỉ mang tính tương đối, thật khó có thể kiểm định giá trị ứng dụng của kết
quả nghiên cứu nhiệm vụ KHXH&NV trong khoảng thời gian ngắn. Bởi vậy, việc
lấy văn bản xác nhận ứng dụng kết quả nghiên cứu nhiệm vụ KHXH là không khó
(khi có nơi ứng dụng nó), nhưng giá trị thật của nó trong thực tiễn thì rất khó có thể
xác nhận được trong khoảng thời gian ngắn (để kịp cho nghiệm thu đề tài).
- Kết quả nhiệm vụ KHXH&NV thuộc lĩnh vực nghiên cứu cơ bản thì không
thể xác định được địa chỉ ứng dụng, việc sử dụng kết quả nghiên cứu nhiệm vụ
KHXH&NV thuộc lĩnh vực nghiên cứu cơ bản chỉ có thể thông qua việc công bố
hoặc đưa vào đào tạo dưới dạng giáo trình, bài giảng.
- Quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng kết quả nhiệm vụ KHXH&NV thực
hiện theo quy định của pháp luật về khoa học và công nghệ và sở hữu trí tuệ, thì khi
kết quả nghiên cứu nhiệm vụ KHXH&NV đã được công bố thì quyền sử dụng nó
thuộc về tất cả mọi người, thuật ngữ tất cả mọi người đều có quyền sử dụng cũng
khó xác định như việc không có ai sử dụng. Bởi vậy, không thể xác nhận được việc
sử dụng kết quả nghiên cứu nhiệm vụ KHXH&NV thuộc lĩnh vực nghiên cứu cơ
bản. Nếu có, thì có thể là giấy xác nhận của một nhà xuất bản nào đó (việc xác nhận
này không có nghĩa là kết quả nhiệm vụ KHXH&NV đã được ứng dụng).
KHXH&NV đối với sự phát triển trên mọi mặt của đất nước, trong đó đặc biệt nhấn
mạnh đến chính trị, tư tưởng, an ninh, quốc phòng, kinh tế - xã hội;
- Cần có mức đầu tư thỏa đáng cho nghiên cứu KHXH&NV để nâng cao chất
lượng nghiên cứu, nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo KHXH&NV;
3.2. Về chi tiết:
Chỉnh sửa các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý nghiên cứu trong lĩnh
vực KHXH&NV, trong đó:
- Thay đổi tiêu chí đánh giá ứng dụng kết quả nghiên cứu KHXH&NV;
- Thay đổi tiêu chí đánh giá công bố kết quả nghiên cứu KHXH&NV.
Hy vọng rằng, bài tham luận này góp phần nhỏ vào việc nâng cao hiệu quả của việc
kết hợp nghiên cứu với đào tạo KHXH&NV.,.