ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHẢN VÃN
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQGHN
TRONG 10 NĂM (1995-2005) VÀ NHỦNG ĐK XUÂT
Mả số: T 2004 - 44
Chủ trì đề tài: TS. Trán Văn La
ĐAI HOC QUOC GIA h ‘\ \ u
TRUNG TÂM THÕNG Tí‘! THI' VIỆN
DĨI6ỮĨ
Hả Nội. 2006
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 2
VẤN ĐỀ THỨNHẤT: THựC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC CỦA TRUỜNG
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHẰN VÃN (1995 - 2005) 7
VẤN ĐỀ THỨHAĨ: NHŨNG ĐỀ XUẤT
29
1
PHẦN MỎ ĐẦU
I. Lý do và m ục đích nghiên cứu.
1.1. Trong những năm gần đây, hoạt động khoa học không chỉ là nhiệm vụ
có tính chuyên trách của các Viện, Vụ, Trung tâm nghiên cứu, mà còn là nhiệm
vụ của các trường đại học, nhất là những đơn vị đào tạo nguồn cán bộ khoa học
cơ bản và đầu ngành. Bởi vậy, các trường đại học Uên, trong đó có Trường Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân vãn (Đại học Quốc gia Hà Nội) ngoài nhiệm vụ
đào tạo đại học, sau đại học, còn phải chú trọng đẩy mạnh công tác nghiên cứu
khoa học, tiến tới mô hình đại học nghiên cứu.
1.2.Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, thuộc Đại học Quốc gia
Hà Nội đã hoạt động khoa học được 10 nãm ( 1995- 2005), nhưng vì nhiều lý
do, cho đến nay vẫn chưa có điều kiện hệ thống và tổng kết được các hoại động
khoa học, nhất là công tác quản lý, tổ chức ihực hiện nghiên cứu khoa học của
h
Nghị định số 1Ỉ5/2005/NĐ-CP ngày 5/9/2005 của Chínli phủ quy định cơ
chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa hục & củng Iìí>lìệ câm> lập.
Nghị định này được coi là một mốc đổi mới cơ chế Irong quản lý hoạt dộng
khoa học - tự chủ, tự chịu trách nhiệm.
Quyết định số 24/ 2005/ QĐ- BGD&ĐT ban hành Quy định về quản lý dề
tài khoa học và công nghệ cấp Bộ của Bộ Giáo dục & Đào tạo, ngàv 02/8/2005
(Công báo, số 1 lị ỉ 1/8/2005 của Nước Cộng ÌÌOCI Xã hội chú nghĩa Việt Nam).
Các văn bản trên vừa là chủ trương của Đáng và Chính phú về phát tricn
khoa học trong thời kỳ đất nước đổi mới, vừa có tính pháp quy nhằm hướng
dẫn các đon vị hoạt động khoa học công nghệ thực hiện dũng đường lối, chủ
trương. Đặc biệt, đối với các trường đại học, thì sư gắn kếl giữa hoại động khoa
học với dào tạo trong Nhà trường, giữa các lĩnh vực khoa học VỚI nhau và mục
đích có tính chiến lược của các hoạt động trên được nhấn mạnh:
c) Bảo đảm sự gắn kết giữa khoa học và cóng nghệ vói giáo dục và dào
tạo; giữa khoa học và công nghệ; giữa khoa học xã hội rã nỉiân văn, khoa
học tự nhiên , khoa học kỹ thuật. Và sự gán kết trẽn trước hết phải dược thực
hiện ngay trong các trường đại học Sự gắn kết giữa các lĩnh vực khoa học
trên được thực hiện trên cơ sở những nghiên cứu liên ngành nhằm giải quyết
những vấn đề kinh tế-xã hội tổng hợp và phát triển bền vững đất nước (
Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam đến năm 2010 (Theo
QĐ số 272/2003/QĐ -TTg, 31/12/2003)
Trên đây là những văn bản có tính chỉ đạo, tính pháp chế để chúng tôi phân
tích, đánh giá thực trạng hoạt động khoa học của Nhà trường.
- Các văn bản của ĐHQGHN đã ban hành nhằm hướng dẫn quy trình quản
lý, tổ chức và triển khai hoạt động khoa học đối với các trường thành viên, ví dụ
như:
Các mẫu phiếu đề xuất các nhiệm vụ/ dề tài KHCN cấp ĐHQGHN, xây
dựng đề cương nghiên cứu, mẫu hợp đổng nghiên cứu,
Quy định về kiểm tra giữa kỳ và nghiệm thu đề lài các cấp,
2.2. Kết quả nghiên cứu đề tài các cấp từ ỉ 995 đến 2005
Cùng với các văn bản trên, công việc khảo sát kếl quả nghiên cứu đề tài các
cấp là cơ sở thực tế, là nguồn tư liệu chủ yếu để đánh giá và đề xuất hoại động
khoa học.
2.3. Các công trình nghiên cứu cụ thể:
Cho đến nay có hai đổ tài nghiên cứu liên quan đến vấn đổ trên. Cụ thể là:
Chuẩn ìioá đ ể tiến tới hiện đại hoủ công tác quán lý khoa học Trường Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân vãn, ĐHQGHN, mã số: T. 2002-02, chủ trì:
Phòng Quản ]ý Nghiên cứu khoa học.
Nghiên cứu đánh giá công tác tổ chức vù triển khai dề tài nghi én cứu khoa
học lại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn ( Qua kháo sát hồ sư
khoa học 1995- 2005 và hồ sơ đề tải đã nghiệm thu), mã số: QX.2002-10, chú
111 dề tài: c v c . Vũ Thị Thoan.
III. Phạm vi và phương pháp nghiên cícit
Phạm vi nghiên cứu: tạp trung khảo sát và đánh giá thực trạng nghiên cứu
khoa học đề tài cấp tnrờng, cấp QX (cổ tính phổ hiên), hội tháo khoa học và
hoạt dộng khoa học của các trung tâm, nghiC'11 cứu khoa học sinh viC’ 11 của
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhãn văn ( ĐHQGHN) tronu 10 năm
5
(1995-2005); mảng công tác tổ chức, quản lý và thực hiện kế hoạch hoạt dộnti
khoa học. Ở đây chúng tôi không đề cập đến các hoạt động khoa học ngoài
trường của cán bộ.
Trong quá trình thực hiện, chúng tôi đã vận dụng phương pháp thống kê,
phân tích để làm rõ những mục đích và nội dung chính mà đề lài đặt ra.
IV. Nội dung gồm 2 vấn đề:
1/ Thực trạng hoạt động khoa học của Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn, ĐHQGHN (1995 - 2005)
2/ Những đề xuất.
6
VÂN ĐỂ THỨ NHẤT
Học
hàm!hoc vi
1995
Nám 2001
Năm 2005
GS
10 13
9
PGS
38 26
36
TSKH 4
5 3
TS
85 105 121
ThS.
5
85
132
CN 201 123 160
Đến nãm 2005, số cán bộ giảng dạy và nghiên cứu khơa học có học hàm
GS chiếm 2,49% (9/361), PGS chiếm 9,97% (36/361), có học vị tiến sĩ chiếm
33,52% (121/361), thạc sĩ chiếm 36,57% (J 32/361), năm 2005 nghiên cứu sinh
hiện có 60.
Như vậy, trình độ khoa học (học hàm, học vị ) của nguổn lực trên đã phán
ánh đây là một đội ngũ cán bộ khoa học mạnh so với các trường, viện và trung
tâm nghiên cứu vổ khoa học xã hôi và nhân văn trong cả nước. Đội ngũ này cỏ
đủ khả năng đảm nhận những nhiệm vụ của công tác dào tạo, nghiên cứu khoa
học và yêu cầu của xã hội đặt ra.
So với những năm đầu thành lập Trường, hệ thống ngành đào tạo và nghiên cứu
đào tạo sau đại học, tư vấn và xây dựng định hướng hoạt động khoa học của
ngành . Nhưng ngược lại, một số ngành vì thành phần cán bộ ở độ tuổi dưới 35
chiếm tỷ lệ cao ( các ngành mới được thành lập), nên hệ quả cúa hiện iưựng
này cũng giống như trường hợp trên. Tuy nhiên, hạn ché' này thường cố ở đơn vị
mới thành lập
ì .1.2. Kinh phí
Khác với thời kỳ trước, kinh phí hoạt dộng khoa học ngày càng thuận lợi
Hàng năm,Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhãn vãn khóni; chí nhận
được một khối lượng kinh phí nhất định từ nguồn ngân sách nhà nước cấp, mà
còn nhận được sự hỗ trợ kinh phí từ các nguồn tài trợ của các tổ chức nước
ngoài cho hoạt đông khoa học. Chỉ tính trong nãm năm gần đây (2001-2005),
nguồn kinh phí từ ngân sách cấp cho mảng hoạt động khoa học nhiều tỷ đổng,
và gần 2.000.000 USD từ nguồn kinh phí hỗ trợ của các tổ chức hoạt động khoa
học quốc tế ( AUF, KAS, FORD, ROSA LUXEMBƯRD, Quỹ châu Á, Hàn
Quốc (nguồn kinh phí thuộc ngân sách nhà nước: 2001 = 590 triệu đổn.i>, 2002 A
= 2.500 Iriệu đồng, 2063-^1^56-triệu, 2004 = 1.390 11‘iêi
Đây là một thuận lợi lớn để tạo điều kiện và thúc đẩy nghiên cứu khoa học ngày
càng được mở rộng.
1.2. Kết qua của hoạt dộng khoa học.
10 năm qua ( 1995-2005), cùng với các trường thành viên khác của Đại học
Quốc gia Hà Nội, kế thừa những ihành quả đã đạt được trong nghiên cứu khoa
học và đào tạo trước đáy của Đại học Tổng hợp Hà Nội, Trường Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn dang dần từng bước ổn định và phái Iriển vổ mọi mặt
theo hướng chuẩn hoá và hiện đại hoá. Hai nhiệm vụ chính nị Irụng lâm dược
đặt lên hàng đầu của các kỳ họp Hội đồng Khoa học và Đào lạo Trường thường
kỳ là: Nâng cao chất lượng đào tợo và nghiên cứu khoa học (1ể Trườn ỉ> Irớ
thành một Trung tâm đào tạo và nghiên cứu chất lượng cao của cả nước. Đối
với mảng hoạt động khoa học, trong các Đề án, Nghị quyết của Đáng uỷ và Ban
Giám hiệu, Hội đồng khoa học và đào tạo đã xác định: Đẩy mạnh hoạt độniỊ
nghiên cứu khoa học, nhằm không chỉ phục vụ nhiệm vụ đào tạo, mà còn phục
Khoa học Xã hội và Nhân văn công bố ''Những định hướng chủ vếu trong côiiíị
tác nghiên cứu khoa học của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ừ
200ì đến 2010 Cương lĩnh này đã chỉ rõ những mục tiêu cơ bán và nhiệm vụ
chủ yếu irong nghiên cứu khoa học của Nhà trường, Cụ thể là: tập trung nghiên
cứu cơ bản, nghiên cứu các vấn đề về con người, lịch sử , văn hoá, lư iưởnu , lý
luận và xã hội, ihông qua nghiên cứu khoa học dể dào tạo, xây dựng đội ngũ
cán bộ giảng dạy và nghicn cứu khoa học chất lượng cao.
Những nhiệm vụ chủ yếu của hoạt động khoa học trong lliập niên đáu của
the kỷ XXI đối với Nhà trường là: Nghiên cứu, kháo sái diều tra CO' bàn đe dồ
xuất những hướng nghiên cứu mới, ngành học mói, môn học mới nhàm hoàn
11
chỉnh dần từng bước về cơ cấu đào tạo và bức tranh nghiên cứu khoa học lổng
thể trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân vãn.
Mục tiêu cơ bản, nhiệm vụ chủ yếu của Định hướng trên nhằm xây dựng
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn trở thành một đại học đa ngành,
chất lượng cao, có tiềm lực hoạt động khoa học mạnh và đáp ứng yêu cầu của
sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.
Và dể dần từng bước ổn định, hoàn thiện hộ máy hành chính, nâng cao năng
lực quản lý và trình độ tổ chức đối với các phòng ban chức năng và công chức ,
Năm 2003 Nhà trường đã ban hành “6 chương trình chuẩn ỈÌUCĨ, hiện dụi hóa
các hoạt động của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn giai đoạn
2003- 2010“. Đối với hoạt động khoa học, mục liêu là: nâng cao chất lượng và
hiệu quả của cóng tác nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế. Tập trung nghiên
cứu các vấn đề lý luận và phương pháp; nghiên cứu lổng kết thế kỷ XX của
Việt Nam vồ lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn; xây dựng, biên soạn các bộ
sách cư bản làm công cụ cho đào tạo và nghiên cứu các lĩnh vực có liên quan
trực tiếp đến đời sống văn hoá, tinh thần của nhân dân
Sự ra đời lần lượt các văn bản Irên đã khẳng định sự phát triển, năng động
và tính bền vững trong từng bước đi của cồng tác lổ chức, quán lý các hoạt dộng
của Nhà trường, trong đó có hoạt động khoa học.
hoàn thành trước ihời hạn và đạt chất lượng khoa học cao ( 02 đề tài cấp
Tnrờng, 02 đề tài cấp ĐHQG). Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận răng, dây cũng
chỉ là giải pháp tạm thời. Vấn đề đặt ra cho các nhà quản lý là phương pháp tổ
chức và biện pháp quản lý phải có tính bền vững, hiệu quả và ihu hút cán hộ
tham gia nghiên cứu.
Bắt đầu lừ năm 2006, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã
chủ dộng và mạnh dạn triển khai mội số công việc:
- Ký hựp đồng vào tháng cuối của năm tài chính (12/2005), không đợi đúng
kỳ của ĐHQGHN quy định. Như vậy, từ năm 2006, việc quyết toán kinh phí
không gặp phải sự “ chuyển giao miền cưỡng” vổ tài chính;
13
- Hai là, vận dụng vào đặc thù của các ngành khoa học xã hội và nhân văn,
trong hợp đổng nghiên cứu đã ghi rõ tiêu chí về độ dài của sản phẩm công Irình
các cấp và số lượng bài công bố. Đây là những tiêu chí để sau này làm căn cứ
nghiệm thu và đánh giá kết quả nghiên cứu của đổ tài. Cụ thể là: đồ tài QX, khi
làm thủ tục nghiệm thu, sản phẩm của công trình phải có ít nhất 100 trang chính
văn và một bài báo công bố trên tạp chí chuyên ngành. Đối với đề lài cấp
Irường, sản phẩm công trinh có ít nhất 50 Irang.
- Ba là, kiên quyết gạt bỏ những đề tài có nội dung liên quan đốn các đề tài
đã được thực hiện trước, hoặc không phục vụ trực tiếp cho đào lạo, không nằm
trong định hướng nghiên cứu khoa học của đơn vị hoặc của Nhà trường.
Trên thực tế, khi triển khai và xây dựng kế hoạch, có một số đơn vị chưa thực
hiện triệt để các nguyên tắc trên. Thường là ký duyệt luỳ tiện, đáp ứng yêu cầu
cá nhân, thậm chí, người ký cũng không biết đề tài của chủ trì đãng ký có cập
nhật, hoặc phục vụ trực tiếp cho đào tạo hay khổng. Đấy là chưa kê đến những
dồ tài gửi đốn Hội đồng ngành của ĐHQG không cần ý kiến của dơn vị cư sơ.
7.2.2. Về kết qủa nghiên cứu :
Trong 10 năm, tổng số đề tài các cấp đã thực hiện được như sau: đề lài cấp
trường: 217, đề tài cấp Đại học Quốc gia: QX: 164 (tính cả năm 2006), CB: 90,
ĐB: 29, TĐ:9, Dự án: 4, Nhà nước: 03. Một vài số liệu sau đây để thấy rõ tỷ lệ
2/ Với đề tài QX: Từ năm 2001 đến năm 2004, có 57 dề tài QX (cấp
ĐHQGHN) dược ký hợp đồng và triển khai. Số lượng đề tài của các đưn vị như
sau: khoa Tiếng Việt và Văn hoá Việt Nam có 8 đề lài ( 14%), khoa Triết học
có 7 đề tài (12%), khoa Ngôn ngữ 6 đề tài (10%), khoa Văn học có 5 đề tài
(8%), khoa Lịch sử , Đông phương, Lưu trữ có 4 đề tài (7 %), khoa Thông lin
thư viện và khoa Du lịch có 3 đề tài (5,2%), khoa Tâm lý, Xã hội học và Quốc
lố có 2 đề tài (3,5%), khoa Báo chí có 1 đề lài (1,7%).
Căn cứ vào số lượng đề tài được triển khai ở các khoa, tỷ lệ không đều.
Hiện lượng trên không phải xuất phát lừ lý do không có kinh phí (thậm chí một
số năm kinh phí sử dạng không hết, hoặc có sự phán chia lỷ lệ dề lài/ số lượng
cán bộ cho các đơn vị. Mà theo chúng tôi có một số lý do sau đây:
- Những khoa cổ tỷ lệ đề lài chiếm lừ 10 % trỏ nén, vì ở những đơn vị dó
không có đổ lài lớn ( cấp trọng điểm, dự án và cấp nhà nước), trong khi dó nhãn
lực có dủ điều kiện để triển khai đề tài không phái là khóm: có. Đó là chưa kế
đến có những đon vị, các cấp quản lý rất quan tâm đến việc thực hiện đúnu theo
thời hạn hợp đổng, như khoa Tiếng Việt và Văn hoá Việt Nam;
- Một thực tế đang diễn ra ờ các đơn vị là, cán bộ giảng dạy có dử điều
kiện để thực hiện đề tài thì lại là lực lượng chủ yếu phái đảm nhiệm một khối
lượng giờ lên lớp lớn;
- Không ít những cán bộ ngại nghiên cứu, thích đi dạy và rất sợ ánh
hưởng đến thi đua khi ký đề tài mà không thực hiện được.
Nhìn chung, các đề tài đã được ký hợp đồng và kết quả nghiên cứu được
nghiệm thu đều iheo đúng định hướng đào tạo và nghiên cứu của Trường và các
đơn vị; gắn liền vă phục vụ trực tiếp cho công tác đào tạo (23 ngành đào tạo
thạc sĩ, 20 ngành đào tạo tiến sĩ và 16 ngành đào tạo cử nhân). Một số ít sản
phẩm nghiên cứu được đánh giá đạt chất lượng cao về khoa học và được hỗ trợ
kinh phí xuâì bản. Còn lại, nội dung khoa học của các công trình đều trở thành
một nội dung, một chuyên đề của một chuyên mổn do chủ trì đề tài đảm nhận
giảng dạy; là tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên và cán bộ (đề lài cấp
trường, QX, Cơ bản).
Theo lẽ thường, cấp độ đề tài càng cao thì yêu cầu tính liên ngành càng
phải có phạm vi rộng. Một số đề tài đặc biệt, trọng điểm, nhất là những đề tài
cấp nhà nước đã được nghiệm thu vừa qua, vấn dề xử dụng phương pháp nghiên
cứu liên ngành, kết quá của phương pháp đó được phán ánh trong quá irình triển
khai và thực hiên như thế nào? Đây là một vấn đề lớn đối với mỗi cán bộ giảng
dạy, các đơn vị và các phòng ban có chức năng quản lý hoạt động khoa học
trong Nhà trường.
Gần đây nhất có hai đề tài cấp nhà nước vừa dược nghiêm thu: để tài Lịch
sử Việt Nam từ khởi nguồn cho đến ngày nay và đề tài Bảo tồn và phái huy di
sản văn hoá Hán Nôm Huế. Khi đánh giá và nghiệm thu, Hội đổng đều có ý
kiến cho rằng, phương pháp nghiên cứu liên ngành dưực sử dụng chưa cao. Ví
dụ, đề tài Hán Nôm khổng có nghĩa thuần tuý chỉ bàn về Hán Nôm, mà không
nghiên cứu những yếu tố khác, những lĩnh vực khoa học khác cỏ liên quan đốn
Hán Nôm.
17
ĐA,
hr,r Q
nr.'
A
,J1J:
T R U N < ^ ĩ A r / ” if' 7 J Ê [V
D r / CQ7
Đấy là chưa kể đến sự kết hợp giữa đào tạo sau đại học với nghiên cứu
khoa học của các nhóm đề tài này đạt đến mức độ nào và kết quả cụ thể ra sao?
Cho đến hôm nay, vấn đề này chưa có một con số cụ thê’ và chính xác.
Tuy nhiên, chúng ta không thể phủ nhận những kết quả khoa học cúa các
đề tài đã được nghiệm thu. Các đề tài lớn (đặc biệt, trọng điểm, dự án, đồ tài
độc lập cấp nhà nước) đã được nghiệm thu trong những năm vừa qua không chi
có ý nghĩa về lý luận đối với mỗi ngành cụ thể, mà còn đáp ứng yêu cầu cấp
thiết của xã hội. Nội dung sản phẩm của các công trình này đã phục vụ yêu cầu
- Tổng thuật tình hình nghiên cứu Nho giáo trong 50 năm đầu của
thế kỷ XX,
- Thực trạng giáo dục ngôn ngữ ở vùng dân tộc miền núi 3 tính phía
Bắc Việl Nam, những kiến nghị và giải pháp,
- Nghiên cứu nội dung và phương pháp giảng dạy tiếng Việt như
mộl ngoại ngữ,
- Dân chủ hoá với việc nâng cao chát lượng dào tạo cán hộ ngành
khoa học xã hội và nhân văn Đại học Quốc gia Hà Nội,
- Đổi mới phương pháp giảng dạy Mác - Lé nin,
- Hoàng Sa và Trường Sa, Biôn giới Tây Nam,
- Luật biển.
Đến năm 2005, công tác tổ chức và quán lý nghiên cứu khoa học của
Nhà trường có nhiều chuyến biến và dần từng bước chuẩn hoá. Tổng số đổ tài
các cấp đã nghiệm thu: 40, đề nghị Hội đồng khen ihưởng các cấp xél duyệt 15
đề tài (từ cấp Đại học Quốc gia đến giải thưởng Nhà nước) và đợt 1 có 4 công
trình, dợt 2 có 3 công trình được nhận giải thưởng. Và cũng Irong năm này,
Nhà irường kiên quyết xử lý hơn 40 trường hợp đổ tài quá hạn hoặc không thể
thực hiện được. Đối với việc triển khai kế hoạch nãm 2006, Nhà nường đã chủ
động cho đăng ký và ký hợp đồng trước để phù hợp vứi năm tài chính. Hơn 60
đề tài các cấp dược ký hợp dồng. Việc xét duyệt để tài nám 2006 cũng được
chuẩn xác hưn. Có nhiều đề tài vì không phù hợp với định hướng nghiên cứu
khoa học của đơn vị đào tạo, không cập nhật nén khổng được xét duyệt.
19
Nếu căn cứ vào số liệu trên, so sánh với nguồn lực tham gia hoạt động
khoa học hiện có của Nhà trường, những kết quả đã đạt được là một cố gắng
lớn của các nhà khoa học, cán bộ giảng dạy và các nhà quản lý.
1.2,3. Tổ chức hội thảo khoa học
Tổ chức Hội thảo khoa học là một công lác lớn trong hoạt động khoa học
của Nhà trường.Từ 1995 đến 2005 có nhiều hội thảo khoa học được tổ chức, với
các phạm vi, quy mô khác nhau. Cụ thể là, hàng nãm các khoa và bộ môn trực
hoá quốc tế và Trung tâm Việt Nam học).Và đến nay, Trường Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn có 6 Tiling tâm. Ngoài các trung tâm, còn có một số
dự án, chương trình được xây dựng và hoạt động theo các thời hạn khác nhau.
Nhiệm vạ chủ yếu của các đơn vị này là, nghiên cứu khoa học, mở rộng hợp tác
quốc tế nhằm phục vụ yêu cầu của xã hội và đàơ lạo.
Đánh giá một cách khách quan, thì đây mới là bước đầu xây dựng các
nhóm/ tổ chức/ đon vị để thu hút các nhà khoa học trong và ngoài trường nhằm
giải quyêì một mảng/ một lĩnh vực chuyên môn của khoa học xã hội và nhân
văn. Một số trung tâm đã ổn định về tổ chức, bấi đầu đi vào hoại độntì và tlã thu
được một số kết quả trong nghiên cứu và hợp tác khoa học. Cũng thông qua
hoạt động của mộl số dơn vị này, hợp tác khoa học và đào tạo với nước ngoài
được mở rộng.
Kết quá hoạt động chủ yếu của các trung lâm, chương trình và dự án cổ thổ
thống kê lại như sau:
Trung tâm nghiên cứu văn hoá quốc tế (RICC) được thành lập từ năm 1991
có nhiệm vụ là: nghiên cứu những nền văn hoá lớn của nước ngoài (chủ yếu là
văn học và ngôn ngữ) đặc biệt những nền vãn hoá có ảnh hưởng trực liếp lới
Việt Nam; giới thiệu những tinh hoa văn hoá Việt Nam ra nước ngoài; nghiên
cứu các mối giao lưu giữa văn hoá Việt Nam và nước ngoài. Tổ chức các
chương trình nghiên cứu, hội thảo văn hoá, dịch vụ và giới thiệu sách nước
ngoài, trao đổi chuyên gia với các nước có giao lưu văn hoá vứi Việt Nam
(Trích trong giấy chứng nhận đăng ký hoạt động khoa học và cõng nghệ, sổ
đãng ký 10/ĐK-KHCN, ngày 15-07-1993 của Sử Khoa hoc Cónụ nuliệ và Mói
trường thành phố HN). Với chức năng và nhiệm vụ trôn, 15 năm qua, Trim ụ lãm
21
đã tổ chức được 10 hội thảo khoa học quốc tế, chủ yếu vói các Đại sứ quán
Thuỵ Điển, Viộn NIAS (Bắc Âu), Na Uy, Australia, Nga, Rumani, Hàn Quốc
tại Việt Nam. Thông qua các hội thảo này, tinh hoa, giá trị vãn hoá của các nền
văn minh của các dân tộc được giới thiệu ở Việt Nam và ngược lại. Đáy cũng là
mộl hoạt động nổi trội , một thế mạnh của Trung tâm trong những năm qua.
khoa học và hỗ trợ đào tạo;
- Về cơ bản, các đơn vị trên hướng hoạt động khoa học của mình thông
qua việc hợp tác với các tổ chức khoa học quốc tế; Quỹ For, Viện KASS, Viện
Rosa Luxemburg, Hàn Quốc,
- Kết hợp giữa hợp tác khoa học với trao đổi cán bộ bằng nguồn kinh phí
nước ngoài,
Trong các chương trình, dự án của Nhà trường, Dự án Rosa Luxemburg
(Viện Rosa - Lurxemburg, Cộng hoà Liên bang Đức) là dự án hoạt động khoa
học thu được nhiều kết quả về nghiên cứu khoa học , đào tạo cán bộ và hoạt
động đều đặn trong một thời gian dài. Nội dung hoại động chủ yếu của Dự án lồ
nghiên cứu những cơ sở kinh tế, xã hội, vãn hoá của quá trình hoạch định chính
sách, đặc biệt irong lĩnh vực khoa học và giáo dục. Nhiều hội Ihảo, toạ đàm
quốc tế được tổ chức tại Việt Nam hay Cộng hoà Liên bang Đức trong những
năm qua. Các học giả trong và ngoài nước đa ihu được nhiều kếl quá nghiên
cứu thông qua các cuộc hội thảo đó.
1.2.5. V ề khoa học sinh viên
1.2.5.1. Một thập kỷ qua, nghiên cứu khoa học sinh viên luôn được Đảng
uỷ, Ban Giám hiệu Nhà trường xác định là mội nội dung quan trọng irong
chương trình hoạt động, định hướng nghiên cứu khoa học và quá trình chuẩn
hoá đào tạo. Vì thế, hoại động này được duy trì đều đặn hàng năm, dưứi nhiều
hình ihức khác nhau, như: toạ đàm, điền dã, thực tập, hội lliảo, cáu lạc bộ khoa
học lrỏ Và dã thu húl được nhiều sinh viên của các loại hình dào tạo tham gia:
sinh viên chính quy, hê chất lượng cao, sinh viên Sư phạm, học viên lại chức
học viên cao học; của các ngành Báo chí, Du lịch, Đỏng phương, Lịch sứ, Lưu
trữ học và quán trị vãn phòng, Ngôn ngữ, Quốc tố, Tâm lý, Triết học, Thông tin
thư viện, Văn học, Xã hội học và Khoa học quán lý.
23
Nhìn chung, hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nôi) đã đạl được những
thành lích dáng khích lệ. Chất lượng của các báo cáo dã phản ánh kiên thức dư
2
2003-2004
44 6
2004-2005
45
4
Tổng số
333
52
1.2.5.2. Riêrm dôi với sinh viên hệ chất lượnc cao, theo số liệu có dược ,
liàii" năm có tham gia nuhiôn cứu khoa học và đạt dược những kóì quà nhấl
dinh iron*1 dó có nhừnt: khoa, sinh viên hệ này tham gia tích cực và có báo cáo
đirơc Hôi done tuyển chọn cấp Bộ đánh giá tốt (khoa Lịch sử, khoa Triết hoc).
’ Sô liên Irẽn (lo tác khoa và bó môn Irirc tliuỏc cung cftp. và (.111 null (len K 4'j
Do có sư llia v đôi sinh viOn trong các năm hoc, nên (ló chính xác chi ờ mức (In lương <1Ú1
Chi lính sỏ' lírơng báo cáo N C K II đal giài cấp Trường và cííp ỈJl IQH ícííp \’Á > ) , Iron - dó có C.I ỊỊNÌI
nhái giãi nhi. g iiii ha VÌI g iiii khuyên khích
24