ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ TRỌNG DŨNG
HîP §åNG MUA B¸N Nî THEO PH¸P LUËT VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2014
Formatted: Font: 17 pt
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công
trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo
tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn
học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của
Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi
có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƯỜI CAM ĐOAN
Lê Trọng Dũng MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các hình
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NỢ VÀ HỢP
ĐỒNG MUA BÁN NỢ 7
2.1.2. Bên mua nợ 373737
2.1.3. Bên nợ 424242
2.2. Hình thức, nội dung của hợp đồng mua bán nợ 444444
2.2.1. Hình thức của hợp đồng mua bán nợ 444444
2.2.2. Nội dung của hợp đồng mua bán nợ 454545
2.3. Giao kết hợp đồng mua bán nợ 555555
2.3.1. Nguyên tắc giao kết hợp đồng mua bán nợ 555555
2.3.2. Trình tự giao kết hợp đồng mua bán nợ 565656
2.4. Thực hiện, sửa đổi, chấm dứt và hủy bỏ hợp đồng mua bán nợ 595959
2.4.1. Thực hiện hợp đồng mua bán nợ 595959
2.4.2. Sửa đổi hợp đồng mua bán nợ 616161
2.4.3. Chấm dứt, hủy bỏ hợp đồng mua bán nợ 626161
2.5. Hợp đồng mua bán nợ vô hiệu và giải quyết tranh chấp hợp đồng
mua bán nợ 646363
2.5.1. Hợp đồng mua bán nợ vô hiệu 646363
2.5.2. Giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán nợ 676666
Tiểu kết chương 2 747474
Chương 3: NHỮNG KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA
PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN NỢ TẠI VIỆT NAM 757575
3.1. Những định hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật về hợp
đồng mua bán nợ 757575
3.1.1. Hoàn thiện phải gắn với việc phát triển thị trường mua bán nợ tại Việt
Nam 757575
3.1.2. Hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu thực tiễn, khắc phục những bất cập,
hạn chế 767676
Formatted: Not Expanded by / Condensed by
Formatted: Not Expanded by / Condensed by
Formatted: Not Expanded by / Condensed by
Formatted: Not Expanded by / Condensed by
Formatted: Not Expanded by / Condensed by
Formatted: Not Expanded by / Condensed by
Formatted: Not Expanded by / Condensed by
Formatted: Not Expanded by / Condensed by
Formatted: Not Expanded by / Condensed by
Formatted: Not Expanded by / Condensed by
Field Code ChangedDANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
AMC
: Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản trực thuộc ngân hàng
BLDS
: Bộ luật Dân sự 2005
DATC
: Công ty mua bán nợ Việt Nam
NHNN
: Ngân hàng Nhà nước
TCTD
: Tổ chức tín dụng
VAMC
: Công ty Quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam DANH MỤC CÁC HÌNH
riêng ngành Ngân hàng mà là vấn đề kinh tế vĩ mô phức tạp, đòi hỏi phải có thời
gian đủ dài, nguồn tài chính cần thiết, giải pháp tổng thể, căn cơ và sự hậu thuẫn
mạnh mẽ của hệ thống chính trị, sự tham gia của các ngành, các cấp, tổ chức, cá
nhân có liên quan [44]. Để xử lý nợ xấu một cách hiệu quả và bền vững, bên cạnh
việc triển khai quyết liệt các giải pháp của bản thân hệ thống ngân hàng trong phạm
vi cho phép, Chính phủ đưa ra giải pháp là phải đẩy mạnh xử lý nợ xấu, phát triển
thị trường mua bán nợ [74]. Đồng thời, Quốc hội yêu cầu phải “Tập trung đẩy
nhanh tiến độ xử lý nợ xấu gắn với cơ cấu lại các tổ chức tín dụng theo hướng sớm
hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho thị trường mua bán nợ ” [68].
Trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt khi thị trường mua bán nợ phát triển,
hợp đồng mua bán nợ là hình thức pháp lý quan trọng, chủ yếu giúp lưu thông, mua
bán, chuyển giao khoản nợ từ bên bán nợ sang bên mua nợ. Một hệ thống các quy
định pháp luật về hợp đồng mua bán nợ vận hành có hiệu quả sẽ góp phần thúc đẩy
thị trường mua bán nợ phát triển, qua đó giúp giải quyết được vấn đề nợ xấu của
nền kinh tế, đặc biệt là nợ xấu của ngành ngân hàng cũng như của doanh nghiệp.
Trên thực tế, hiện nay đã có một số quy định của pháp luật về hợp đồng mua bán
nợ, tạo cơ sở pháp lý cho các bên thực hiện các giao dịch mua bán nợ. Ngoài những
quy định chung, mang tính nguyên tắc về hợp đồng tại BLDS, Luật thương mại
2005, tương ứng với từng chủ thể tham gia ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán 2
nợ lại có những văn bản dưới luật điều chỉnh như: i) Đối với hợp đồng mua bán nợ
của TCTD được điều chỉnh bởi Quyết định số 59/2006/QĐ-NHNN [42]; ii) Đối với
hợp đồng mua bán nợ có sự tham gia của VAMC được điều chỉnh bởi Thông tư số
19/2013/TT-NHNN [46]; ii) Đối với hợp đồng mua bán nợ có sự tham gia của
DATC được điều chỉnh bởi Thông tư 38/2006/TT-BTC [2].
Thực trạng nêu trên dẫn đến hệ quả các quy định của pháp luật về hợp đồng
mua bán nợ ở Việt Nam nằm tản mạn, rải rác ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật
khác nhau và chứa đứng nội dung mâu thuẫn, không thống nhất, thậm chí có những
của hợp đồng mua bán nợ, chưa làm rõ bản chất pháp lý của hợp đồng mua bán nợ
và phát hiện ra các bất bật cập liên quan đến hợp đồng mua bán nợ. Luận văn mới
chỉ tập trung đề cập đến một số bất bật cập, vướng mắc của pháp luật về hoạt động
bán nợ và kiến nghị giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về hoạt động
bán nợ.
- Khóa luận tốt nghiệp của Trần Tuệ An (2012), Hoàn thiện pháp luật về
hoạt động mua, bán nợ của các TCTD ở Việt Nam, Khoa Luật - Đại học Quốc gia
Hà Nội, Hà Nội. Khóa luận đã đưa ra các vấn đề lý luận về hoạt động mua bán nợ
và pháp luật về hoạt động bán nợ, trong đó có một số nội dung sơ bộ về hợp đồng
mua bán nợ. Khóa luận chưa đề cập cụ thể, chi tiết về hợp đồng mua bán nợ để làm
rõ bản chấp pháp lý của hợp đồng mua bán nợ và phát hiện ra các bật bất cập liên
quan đến hợp đồng mua bán nợ. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật
hiện hành, Khóa luận mới chỉ tập trung đề xuất giải pháp hoàn thiện các quy định về
hoạt động mua bán nợ, chưa đề xuất các giải pháp cụ thể hoàn thiện các quy định về
hợp đồng mua bán nợ.
- Bài viết của TS. Bùi Đức Giang (2012), Bán tài sản là khoản vay theo quy
định của pháp luật Anh, Tạp chí Ngân hàng số 15/2012, Hà Nội. Bài viết đã làm sáng
tỏ một số nội dung về bán tài sản là khoản vay trong môi mối tương quan với quyền
đòi nợ và giới thiệu các hình thức chuyển giao quyền đòi nợ theo pháp luật của Anh.
Bài viết chưa có nội dung cụ thể trực diện đề cập đến hợp đồng mua bán nợ.
Ngoài ra, còn một số bài viết, nghiên cứu trao đổi khác đã đăng tải trên các
báo, tạp chí chuyên ngành liên quan đến việc xử lý nợ xấu thông qua biện pháp mua
bán nợ, trong đó có gián tiếp đề cập đến hợp đồng mua bán nợ hoặc chỉ đề cập đến 4
một tiểu vấn đề của hợp đồng mua bán nợ. Hiện nay chưa thấy tài liệu , công trình
nghiên cứu khoa học thê
̉
hiê
nợ.
- Nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật về
hợp đồng mua bán nợ tại Việt Nam trên cơ sở đánhg giá, việc áp dụng các quy định
của pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động mua bán nợ; phát hiện những mặt hạn
chế, bất cập của pháp luật về hợp đồng mua bán nợ tại Việt Nam.
- Nêu các định hướng và các kiến nghị cụ thể, chi tiết để hoàn thiện các quy
định của pháp luật về hợp đồng mua bán nợ tại Việt Nam; kiến nghị và lý giải sự
cần thiết của việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật riêng điều chỉnh thống nhất
về hợp đồng mua bán nợ tại Việt Nam.
4. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về hợp 5
đồng mua bán nợ tại Việt Nam đặt trong mối quan hệ với pháp luật về hợp đồng tại
BLDS và các văn bản pháp lý chuyên ngành khác có liên quan. Trên cơ sở những
vấn đề lý luận về hợp đồng mua bán nợ, Luận văn tập trung nghiên cứu các khía
cạnh pháp lý và thực tiễn ký kết, thực hiện hợp đồng mua bán nợ để phát hiện các
bất cập, hạn chế của pháp luật về hợp đồng mua bán nợ tại Việt Nam. Từ đó, Luận
văn đề xuất các giải pháp để hoàn thiện các quy định của pháp luật về hợp đồng
mua bán nợ tại Việt Nam.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, Luận
văn kết hợp với một số phương pháp nghiên cứu chuyên sâu như: i) Phương pháp
phân tích kết hợp với bình luận được sử dụng để làm rõ các quy định của pháp luật
hiện hành về hợp đồng mua bán nợ; ii) Phương pháp tổng hợp nhằm khái quát hóa
thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về hợp đồng mua bán nợ để đề xuất
các kiến nghị hoàn thiện pháp luật; iii) Phương pháp so sánh được áp dụng để tìm ra
mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu nhất quán giữa các văn bản quy phạm pháp luật hiện
hành điều chỉnh về hợp đồng mua bán nợ, đồng thời tìm những nét khác biệt và
Chương 3: Những kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về hợp
đồng mua bán nợ tại Việt Nam.
7
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NỢ
VÀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN NỢ
1.1. Khái niệm, bản chất và phân loại nợ
1.1.1. Khái niệm về nợ
Khi đề cập đến nợ thường là đề cập tới các tài sản mà bên nợ phải trả cho chủ nợ
và được hiểu là “Vay nợ và phải trả” hoặc“cái vay phải trả mà chưa trả” [55, tr.52].
Thuật ngữ “nợ” và “khoản nợ” được dùng phổ biến trong xã hội, không chỉ được sử
dụng trong những trường hợp liên quan đến tài sản mà còn được dùng để chỉ cả
những vấn đề khác trong đời sống xã hội. Trong thực tế, khái niệm nợ cũng được
hiểu là “Điều mang ơn mà chưa đền đáp được” hoặc “Đã hứa nhưng chưa thực hiện”
[55, tr.52], có ý nghĩa ẩn dụ bao hàm các nghĩa vụ đạo đức, nghĩa vụ tự nhiên và các
giao dịch khác không dựa trên cơ sở giá trị kinh tế. Trong Luận văn này, tác giả chỉ tập
trung xem xét thuật ngữ “nợ” hay “khoản nợ” dưới góc độ liên quan đến tài sản.
Hiện nay, các văn bản quy phạm pháp luật quy định khái niệm “nợ” và khái
niệm “khoản nợ” tương đồng với nhau và định nghĩa các khái niệm này theo
hướng liệt kê các hoạt động kinh tế làm phát sinh khoản nợ. Cụ thể, theo khoản 2
Điều 3 Quyết định 59/2006/QĐ-NHNN [42], khoản nợ được mua, bán là khoản nợ
được tổ chức tín dụng thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng, tổ
chức tín dụng nước ngoài cho khách hàng vay (kể cả khoản trả thay trong bảo
lãnh) hiện đang còn dư nợ hoặc đang được theo dõi ngoại bảng. Tại khoản 1 Điều
1 và khoản 2 Điều 3 Thông tư số 02/2013/TT-NHNN [45] quy định khoản nợ là số
với một hay nhiều người nào đó. Và Điều 641 Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ quy định
nghĩa - vụ là mối liên -lạc về luật thực -tế hay luật thiên -nhiên, bó-buộc một hay
nhiều người phải làm hay đừng làm sự gì đối với một hay nhiều người nào đó. Sau
đó, nhiều người quan niệm nghĩa vụ là mối liên hệ pháp lý giữa hai người, nhờ đó
một người là trái chủ (hay chủ nợ) có quyền đòi người kia là người phụ trái (hay
con nợ) phải thi hành một cung khoản có thể trị giá bằng tiền [49, tr.13].
Hiện nay, Điều 280 BLDS định nghĩa: Nghĩa vụ dân sự là việc mà theo đó,
một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao 9
vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc khác hoặc
không thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau
đây gọi chung là bên có quyền). Định nghĩa này đang được coi là không tiếp cận
theo hướng xem xét nghĩa vụ là một mối quan hệ pháp lý mà tiếp cận theo hướng
xuất phát từ hành vi của bên phải thực hiện một đối tượng vì lợi ích của người khác.
Đây là cách định nghĩa chưa mang tính khái quát cao bởi nghĩa vụ dân sự là quan hệ
có hai loại chủ thể có lợi ích trái ngược nhau, một bên có quyền yêu cầu và bên kia
phải thực hiện yêu cầu của bên có quyền [18]. Để quan tâm đầy đủ tới tất cả các
khía cạnh của nghĩa vụ, cần lưu ý trong quan hệ nghĩa vụ luôn có hai chủ thể trái
ngược nhau về mặt lợi ích là: (i) Một bên có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ; và
(ii) một bên khác (bên có nghĩa vụ) phải thực hiện yêu cầu của bên kia [21, tr.38].
Khi nhìn nhận nợ thực chất là một nghĩa vụ, có thể thấy, nợ cũng mang một
số đặc trưng như sau:
i) Nợ là một mối quan hệ pháp lý: Nợ là một mối quan hệ pháp lý giữa bên
nợ và bên chủ nợ vì nợ có đầy đủ các yếu tố được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Nếu bên nợ không tự nguyện thực hiện thì chủ nợ có thể yêu cầu cơ quan nhà nước
có thẩm quyền buộc bên nợ phải thực hiện phù hợp với quy định của pháp luật.
Trên thực tế, khi bên nợ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, chủ nợ có thể
thực hiện nhiều biện pháp khác nhau để yêu cầu bên nợ phải thực hiện, bao gồm cả
1.1.3. Phân loại nợ và khái niệm nợ xấu
Phân loại nợ là việc chủ nợ căn cứ vào các tiêu chí định tính, định lượng để
đánh giá khả năng trả nợ của bên nợ nhằm xác định mức độ rủi ro, khả năng thu hồi
nợ. Sau khi xác định mức độ rủi ro, khả năng thu hồi nợ, chủ nợ sẽ dự liệu, đưa ra
phương án để hạn chế rủi ro thông qua việc trích lập dự phòng rủi ro. Dự phòng rủi
ro thực chất là việc chủ nợ đưa tài sản của mình để dự phòng cho những tổn thất có
thể xảy ra do bên nợ không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho chủ nợ. Dự phòng rủi ro
thường được tính theo các tài sản ban đầu mà chủ nợ chuyển giao cho bên nợ (đối
với hoạt động cấp tín dụng chính là dư nợ gốc). Trên thực tế, phân loại nợ thường
được áp dụng đối với các khoản nợ phát sinh trong hoạt động cấp tín dụng của
TCTD. Theo đó, dự phòng cụ thể của TCTD là khoản tiền được trích lập trên cơ sở
phân loại cụ thể các khoản nợ theo quy định của NHNN để dự phòng cho những tổn 11
thất có thể xảy ra. Dự phòng chung của TCTD là khoản tiền được trích lập để dự
phòng cho những tổn thất chưa xác định được trong quá trình phân loại nợ, trích lập
dự phòng cụ thể và trong các trường hợp khó khăn về tài chính của các TCTD khi
chất lượng các khoản nợ suy giảm.
Theo Chuẩn mực Kế toán quốc tế (IAS) lần thứ 39, nợ được phân thành 5
nhóm gồm: nợ chấp nhận; nợ đặc biệt chú ý; nợ dưới chuẩn; nợ khó đòi; và nợ bị
tổn thất. Thực ra hiện nay vẫn chưa có một tiêu chuẩn toàn cầu nào được dùng để
phân loại nợ, nhưng hệ thống phân loại nợ của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế
(BIS)
đang được sử dụng rộng rãi nhất với 05 nhóm nợ như sau: (i) Nợ không vấn
đề (các khoản nợ sẽ thu hồi được); (ii) Nợ chú ý đặc biệt (các khoản nợ có thể gặp
khó khăn khi thu hồi nợ); (iii) Nợ dưới chuẩn (các khoản nợ bị nợ quá hạn trên 3
tháng); (iv) Nợ nghi ngờ (khoản nợ có khả năng không thu hồi được); (v) Mất vốn
thật sự và không có khả năng thu hồi [1, tr.45-47].
phát sinh do đã quá hạn trả nợ nhiều ngày hoặc bị nghi ngờ về khả năng trả nợ của
bên nợ. Theo Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) “một khoản nợ được coi là
nợ xấu khi quá hạn trả lãi và gốc trên 90 ngày trở lên, phù hợp với định nghĩa của
Basel II về tổn thất, hoặc khi có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay
sẽ được thanh toán đầy đủ” [71]. Còn theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF):
Một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc
trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được
nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thoả thuận; hoặc các khoản
phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để
nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ [71].
Tại Việt Nam, nợ xấu được hiểu là những khoản nợ được phân loại vào các
nhóm nợ gồm: nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ) nhóm 5 (nợ có
khả năng mất vốn) [45, Điều 3, Khoản 8] và thường được xác định căn cứ vào 2 yếu
tố: (i) quá thời hạn trả nợ (từ 90 ngày trở lên) và (ii) khả năng trả nợ của khách hàng
có nghi ngờ. Như vậy, về cơ bản, khái niệm nợ xấu tại Việt Nam và khái niệm về
nợ xấu trên thế giới được xây dựng dựa trên 2 yếu tố: thời gian quá hạn và sự suy
giảm trong khả năng trả nợ của người đi vay. 13
1.2. Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng mua bán nợ
1.2.1. Khái niệm mua bán nợ
Mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ
giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên
mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo
thỏa thuận [62, Điều 3, Khoản 8]. Hàng hoá, nếu hiểu theo nghĩa rộng, là sản phẩm
lao động của con người, được tạo ra nhằm mục đích trao đổi để thoả mãn những
nhu cầu mang tính xã hội. Nhu cầu của con người phong phú và biến thiên liên tục,
vì vậy hàng hoá cũng luôn phát triển và đa dạng. Dưới góc độ pháp luật, dựa vào
đặc trưng từng loại mà hàng hoá được phân thành bất động sản (đất đai, nhà ở, công
Hiện nay, đối với hoạt động mua bán nợ của các TCTD, khoản 1 Điều 3 của
Quyết định 59/2006/QĐ-NHNN [42] quy định: Mua bán nợ là việc chuyển nhượng
khoản nợ, theo đó, bên bán nợ chuyển giao quyền chủ nợ của khoản nợ cho bên mua
nợ và nhận thanh toán từ bên mua nợ. Còn đối với việc mua bán nợ của DATC, pháp
luật hiện hành quy định: Mua bán nợ được hiểu là việc chủ nợ có nợ phải thu bán cho
DATC. DATC trở thành chủ nợ mới của khách nợ [2, điểm 3.6 mục 3]. Đây là các
khái niệm mua bán nợ vừa tự mâu thuẫn với nhau, vừa không phù hợp với quy định
tại Điều 449 BLDS khi sử dụng thuật ngữ “quyền chủ nợ”. Vì các quy định tại
BLDS và văn bản quy phạm pháp luật khác
[7]; [9] sử dụng thuật ngữ “quyền đòi
nợ”, chứ không sử dụng thuật ngữ “quyền chủ nợ”. Tuy các văn bản quy phạm pháp
luật hiện hành chưa đưa ra một định nghĩa cụ thể về quyền chủ nợ, nhưng thông qua
một số quy định cụ thể về hoạt động mua bán nợ, có thể thấy, thuật ngữ “quyền chủ
nợ” thực chất có nội hàm gồm “quyền đòi nợ” và các quyền liên quan phát sinh từ
quyền đòi nợ.
Đặc biệt, các quy định của pháp luật hiện hành về khái niệm mua bán nợ
không hề đề cập tới nghĩa vụ chuyển giao quyền sở hữu đối với quyền đòi nợ (tài
sản) của bên bán nợ sang cho bên mua nợ, trong khi đây lại là đặc trưng quan trọng
nhất của hoạt động mua bán tài sản. Các quy định của pháp luật hiện hành mới chỉ
đề cập đến việc chuyển giao quyền như: i) Việc chuyển giao khoản nợ được mua,
bán được tiến hành đồng thời với việc chuyển giao các nghĩa vụ của bên nợ và các
bên có liên quan đến khoản nợ (kể cả các quyền gắn liền với các bảo đảm cho 15
khoản nợ) từ bên bán nợ sang bên mua nợ [42, Điều 5, Khoản 3]; ii) Toàn bộ quyền
và nghĩa vụ của chủ nợ (bên bán nợ) được chuyển giao cho bên mua nợ, bên mua
nợ được kế thừa đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của chủ nợ đối với khoản nợ đã mua
[2, mục 5 phần I]. Như vậy, với các quy định này, có thể thấy, khái niệm mua bán nợ
Trên thực tế, thuật ngữ “hợp đồng” thường được kết hợp với các thuật ngữ
có tính “chức năng” và “công cụ” như thuật ngữ “mua bán” để tồn tại dưới dạng
“hợp đồng mua bán” [37, tr.40]. Hợp đồng mua bán là một dạng hợp đồng phổ biến,
nó chiếm một vị trí trung tâm và được chế định với dung lượng lớn nhất so với các
chế định khác [81, tr.900]. Xã hội càng phát triển, hợp đồng mua bán càng được sử
dụng như là một chuẩn mực ứng xử phổ biến giữa tư nhân với nhau, giữa tư nhân
với cơ quan nhà nước, thậm chí là giữa xã hội với nhà nước (như quan niệm của
Rousseau) trong các lĩnh vực dân sự, kinh doanh, thương mại và trong nhiều lĩnh
vực khác nhau của đời sống [69, tr.134]. Do vậy, không phải là quá khuếch trương
khi cho rằng hợp đồng mua bán là hợp đồng quan trọng nhất trong hệ thống pháp
luật về hợp đồng [56, tr.71] và là một chế định đặc biệt trong các BLDS.
Từ thời La Mã, hợp đồng mua bán được hiểu là sự thỏa thuận theo đó, một
bên (bên bán) chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho bên kia (bên mua) và nhận lại
một số tiền [27, tr.47]. Pháp luật của Pháp quy định, hợp đồng mua bán là một thỏa
thuận theo đó một bên có nghĩa vụ chuyển giao vật và bên kia có nghĩa vụ trả tiền
để nhận vật ấy. Việc mua bán được hoàn thành khi quyền sở hữu được chuyển sang
cho người mua [13, Điều 1582, 1583]. Pháp luật của Anh quy định, hợp đồng mua
bán được hiểu chung là hợp đồng mà theo đó người bán chuyển giao hoặc đồng ý
chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa cho người mua và đổi lại số tiền thỏa đáng (gọi là
giá hang hóa) [56, tr.71]. Như vậy, có thể thấy đặc trưng quan trọng nhất của hợp đồng
mua bán là việc bên bán có nghĩa vụ chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho bên mua,
còn bên mua phải trả giá cho việc nhận được quyền sở hữu tài sản đó. Tuy nhiên, pháp
luật của Việt Nam quy định, hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên,
theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có
nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán [61, Điều 428]. Quy định này không hề đề
cập tới nghĩa vụ của người bán chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho người mua mà
chỉ đề cập tới nghĩa vụ của người bán “giao tài sản” cho người mua [20]. 17