Website: Email : Tel : 0918.775.368
PHẦN I
LÝ THUYẾT CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM XÂY DỰNG (BHXD) VÀ
GIÁM ĐỊNH BỒI THƯỜNG TRONG BẢO HIỂM XÂY DỰNG
I.Tầm quan trọng của bảo hiểm xây dựng
1.Rủi ro trong hoạt động xây dựng
Trong công tác xây dựng, có rất nhiều rủi ro có thể xảy ra cho công trình. Chính vì
thế một trong những công việc quan trọng của người bảo hiểm (NBH) trước khi cấp đơn
bảo hiểm cho một công trình xây dựng là xác định được các rủi ro có thể ảnh hưởng tới
công trình mà mình bảo hiểm.
Việc đánh giá chính xác và phân tích kĩ lưỡng những yếu tố rủi ro có thể gây thiệt
hại cho công trình sẽ tạo điều kiện cho NBH lựa chọn các điều kiện, điều khoản thích hợp
cũng như các biện pháp đề phòng và hạn chế tổn thất, mức khấu trừ và mức phí thích hợp.
Sau khi nhận được giấy yêu cầu bảo hiểm của người được bảo hiểm (NĐBH), NBH
cần nghiên cứu các thông tin, số liệu ghi trên bản câu hỏi kiêm giấy yêu cầu bảo hiểm và
phải xuống hiện trường để trực tiếp kiểm tra các số liệu, các yếu tố rủi ro sau đó sẽ phân
tích, đánh giá rồi đề ra điều kiện, mức khấu trừ và mức phí thích hợp.
a, Rủi ro do các yếu tố chủ quan: là những yếu tố do con người tác động vào công trình
xây dựng . Ví dụ:
- Kinh nghiệm của chủ thầu trong việc xây dựng nhiều loại công trình khác nhau và
trong một loại công trình cụ thể. Cần phải xem xét chủ thầu đã từng tiến hành loại công
trình tương tự như công trình yêu cầu được bảo hiểm chưa, nếu có thì chất lượng công
trình đó ra sao?
Việc đánh giá và tìm hiểu về chủ thầu là rất quan trọng, nếu chủ thầu là người có
kinh nghiệm, làm ăn tốt và có uy tín thì khả năng xảy ra rủi ro chắc chắn sẽ thấp hơn so với
các chủ thầu thiếu kinh nghiệm và làm ăn không có uy tín.
Trường hợp chủ thầu là người có kinh nghiệm trong xây dựng loại công trình được
bảo hiểm thì NBH phải thường xuyên kiểm tra, giám sát. Khi tính phí bảo hiểm nhất thiết
phải tính thêm phụ phí. Ngược lại nếu chủ thầu là khách hàng lâu năm, có kinh nghiệm, có
quan hệ tốt với NBH thì có thể giảm phí cho họ.
Mặt khác, các chủ thầu có kinh nghiệm thường lựa chọn các nhà thầu phụ tốt để
2
+ Loại kết cấu xây dựng: bê tông hay tường xây có cột chịu lực bê tông
+ Phương pháp xây dựng: lắp ghép, xây hay kích nâng tầng
+ Thiết kế chi tiết.
+ Thiêt kế tổng thể
+ Các biện pháp an toàn
c, Các yếu tố khác
- Trách nhiệm của chủ đầu tư, của chủ thầu (NĐBH): Trách nhiệm của chủ đầu tư
và chủ thầu cũng góp phần không nhỏ vào việc giảm thiểu rủi ro. Một chủ đầu tư (chủ
thầu) cẩn trọng sẽ rất khắt khe trong an toàn công trường.
- Các công trình xung quanh công trường: các công trình này có thể gây ảnh hưởng
một cách gián tiếp đến rủi ro của công trường.
2.Tác dụng của bảo hiểm xây dựng
Bảo hiểm xây dựng là một bộ phận của bảo hiểm kĩ thuật, so với các loại hình bảo
hiểm khác như: BH hàng hải, bảo hiểm cháy…thì nó ra đời chậm hơn. Có thể nói rằng
bảo hiểm kĩ thuật ra đời cùng với sự xuất hiện của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật là
động lực thúc đẩy lớn mạnh không ngừng của lĩnh vực bảo hiểm này.
Bảo hiểm xây dựng được tiến hành rộng rãi trên toàn thế giới. Có nhiều loại đơn
bảo hiểm xây dựng khác nhau nên cũng có nhiều tên gọi khác nhau về bảo hiểm xây dựng:
- CAR(Contractors’all rísks policy) đơn bảo hiểm mọi rủi ro chủ thầu. Loại đơn này
được sử dụng rông rãi nhất, hầu hết các nước trên thế giới đều sử dụng đơn này. Mẫu đơn
do công ty MUNICH RE đưa ra, hiện nay tổng công ty bảo hiểm VIÊT NAM cũng đang
dùng đơn này.
- CI(contractors’ insurance) bảo hiểm cho chủ thầu
- COC(Cost of contractors) bảo hiểm chi phí của chủ thầu
- BR ( builders’ risk) bảo hiểm rủi ro cho người xây dựng
- CER(civil engineering risks) bảo hiểm rủi ro trong xây dựng dân dụng.
Tuy tên gọi khác nhau, nhưng nội dung chủ yếu của các đơn bảo hiểm trên đều
tương tự nhau. Sự khác nhau chủ yếu là các điểm loại trừ do từng nước áp dụng khác nhau
và phụ thuộc vào luật của từng nước.
Trong bảo hiểm xây dựng người được bảo hiểm có thể bao gồm:
- Chủ đầu tư(Principal): là người chủ của công trình xây dựng.
- Các kiến trúc sư, kĩ sư, cố vấn chuyên môn làm việc cho chủ đầu tư theo hợp đồng
4
- Chủ thầu: người kí kết hợp đồng xây dựng với chủ đầu tư. Cũng có khi để rõ ràng,
trong trường hợp có nhiều chủ thầu và chủ đầu tư, người ta dùng khái niệm chủ đầu tư
chính hay chủ thầu chính
- Chủ thầu phụ: là các bên không có các hợp đồng liên quan được kí kết trực tiếp
với chủ đầu tư chính mà họ chỉ kí kết hợp đồng làm thuê cho chủ thầu.
Có thể có cả trường hợp một số nhà thầu phụ không có cả hợp đồng kí kết trực tiếp
với chủ thầu mà với một nhà thầu phụ khác (nhà thầu phụ cảu nhà thầu phụ)
Cần lưu ý rằng đơn bảo hiểm xây dựng không bảo hiểm cho trách nhiệm nghề
nghiệp của các kiến trúc sư, kĩ sư, cố vấn chuyên môn (ví dụ trách nhiệm của họ khi tính
toán, thiết kế) mặc dù trong thành phần người được bảo hiểm có họ trong đó.
2. Đối tượng bảo hiểm
Có thể nói tổng quát rằng đối tượng của bảo hiểm xây dựng bao gồm tất cả các
công trình dân dụng, công trình công nghiệp…Nói chung là các công trình có sử dụng
cament và bê tông. Cụ thể các công trình sau đều là đối tượng bảo hiểm:
- Nhà ở, trường học, bệnh viện, trụ sở làm việc, nhà hát, rạp chiếu phim, các công
trình văn hoá khác…
- Nhà máy, xí nghiệp
- Đường sá (cả đường săt,bộ) và sân bay
- Cầu cống, đê đập, công trình cấp thoát nước, kênh đào, cảng
Các hạng mục chủ yếu được bảo hiểm bao gồm:
+ Giá trị thi công xây dựng : bao gồm giá trị của tất cả các hạng mục công trình do
chủ thầu tiến hành (kể cả nhà thầu phụ) theo hợp đồng xây dựng kí kết giữa chủ thầu và
chủ đầu tư.
+ Các trang bị và các công trình tạm thời: Đây là các trang bị dùng trong khi xây
dựng, các trang bị này được sử dụng nhiều lần cho nhiều công trình khác nhau. Chỉ một
phần giá trị hao mòn của các trang bị đó được tính vào giá trị của công trình. Ví dụ: các
bảo hiểm do người được bảo hiểm lập. Trong trường hợp xây dựng các ngôi nhà hay công
trình trong một địa điểm cố định thì vấn đề xác định địa điểm công trình tương đối đơn
giản. Nhưng trong trường hợp xây dựng đường sá thì công trường là suốt chiều dài của
6
quãng đường với các công trình phụ trợ suốt dọc hai bên đường và các địa điểm khai thác
đất đá để làm đường. Trong trường hợp xây dựng các công trình như đập, cầu cống, nhà
kho lớn thì công trường sẽ bao gồm cả các con đường tạm thời để ra vào nơi đó.
4. Phạm vi bảo hiểm
4.1.Các rủi ro chính thuộc phạm vi bảo hiểm
Vì là đơn bảo hiểm mọi rủi ro nên phạm vi bảo hiểm của đơn bảo hiểm CAR rất
rộng. Chỉ trừ những rủi ro đặc biệt bị loại trừ nêu trong đơn bảo hiểm còn phần lớn các rủi
ro gây nên các thiệt hại bất ngờ và không lường trước được diễn ra trong thời gian bảo
hiểm tại khu vực công trường đều được bồi thường theo đơn bảo hiểm này. Sau đây là một
số rủi ro chính :
- Cháy nổ và tổn thất do tiến hành các biện pháp chữa cháy.
- Sét đánh
- Bị các phương tiện giao thông hay máy bay đâm vào
- Lũ lụt, mưa gió, tuyết lở
- Động đất, núi lửa phun, song thần
- Trộm cắp
- Thiếu kinh nghiệm, sơ suất, hành động ác ý hay cố tình nhầm lẫn của con người
nhưng không phải là người được bảo hiểm hay đại diện của họ
Phạm vi bảo hiểm của đơn bảo hiểm xây dựng còn bao gồm cả những tổn thất của
nguyên vật liệu xây dựng, các trang thiết bị lắp đặt trong khi vận chuyển trên khu vực công
trường hay khi lắp đặt, tháo dỡ
4.2. Các điểm loại trừ
- Các tổn thất xảy ra trực tiếp hay hậu quả của chiến tranh hay các hành động tương
tự chiến tranh, đình công, bãi công, nổi loạn, gián đoạn hay ngừng công việc theo lệnh của
nhà chức trách.
- Tổn thất do phản ứng hạt nhân, phóng xạ hạt nhân hay nhiễm phóng xạ
Nêu NĐBH yêu cầu BH với thời hạn vượt quá thời gian tiêu chuẩn này thì phần thời gian
vượt quá đó phải trả thêm phí bảo hiểm. Trong khi xây dựng, nêu NĐBH thấy rằng tiến độ
8
công trình có thể phải kéo dài thì phải kịp thời thông báo cho NBH và yêu cầu bảo hiểm
cho thời gian kéo dài đó.
6. Giá trị bảo hiểm trong bảo hiểm xây dựng
Trong bảo hiểm xây dựng, giá trị bảo hiểm là vấn đề quan trọng và rất phức tạp.
Xác định được chính xác giá trị bảo hiểmasex giúp cho cả NBH và NĐBH tránh được các
tranh chấp không cần thiết khi có tổn thất xảy ra. Các giá trị phải xác định trong bảo hiểm
xây dựng bao gồm:
6.1.Giá trị bảo hiểm của phần công tác thi công xây dựng
Người được bảo hiểm có thể sẽ dùng một trong các giá trị sau đây làm giá trị bảo
hiểm cho phần này:
- Tổng giá trị khôi phục của công trình, nghĩa là giá trị khôi phục lại công trình
trong trường hợp có tổn thất xảy ra.
- Giá trị dự toán của công trình theo hợp đồng xây dựng
- Giá trị bằng hoặc nhỏ hơn tổn thất lớn nhất có thể xảy ra.
Trong thời gian xây dựng, nếu có sự thay đổi lớn về giá cả dẫn đến việc giá trị bảo
hiểm thay đổi thì người được bảo hiểm phải thông báo ngay cho NBH biết. Trường hợp
này giá trị bảo hiểm sẽ phải được điều chỉnh ngay, không cần chờ đến khi công trình hoàn
thành. NBH phải có trách nhiệm thuyết phục NĐBH khai đúng giá trị của công trình để
tránh xảy ra tranh chấp sau này trong trường hợp xảy ra tổn thất thuộc trách nhiệm bồi
thường.
6.2. Giá trị bảo hiểm của máy móc xây dựng
Giá trị bảo hiểm của máy móc xây dựng phải là giá trị thay thế tương đương mức
mới của máy đó ( New Replacement Value) tức là giá trị của một máy móc tương đương
có thể mua tại thời điểm đó để thay thế máy bị tổn thất.
6.3. Giá trị bảo hiểm đối với trang bị xây dựng
Tương đối khó xác định vì trang bị xây dựng rất nhiều hạng mục với nhiều giá trị
khác nhau. Có những hạng mục chỉ sử dụng trong khoảng thời gian nhất định tại công
- Bổ sung các điều kiện cần thiết cho đơn bảo hiểm
10
Đối với các công trình tương đối đặc biệt như: cầu, đập, cảng, đường xe lửa, đường
bộ, đường hầm, cống thoát nước….thì ngoài ra còn có thêm các bản câu hỏi bổ sung. Mục
đích của bản câu hỏi bổ sung này là tạo điều kiện cho NBH nắm được:
- Các thông số kĩ thuật chi tiết của công trình
- Giá trị của từng hạng mục của công trình
- Chương trìng và tiến độ xây dựng
- Các số liệu về khí tượng, thuỷ văn, địa chất…
- Các chi tiết phụ khác như lán trại, bãi, kho chứa, xưởng, máy móc và các trang bị
xây dựng.
III. Giám định và xét giải quyết bồi thường trong bảo hiểm xây dựng.
1. Nguyên tắc chung của việc giám định và xét giải quyết bồi thường
Cũng như trong các loại hình bảo hiểm khác, công tác giám định và bồi thường tổn
thất trong bảo hiểm xây dựng phải tuân thủ theo một số nguyên tắc nhất định để đảm bảo
quyền lợi cho công ty bảo hiểm cũng như người được bảo hiểm. Đó là, việc giám định và
giải quyết bồi thường phải đảm bảo kịp thời, chính xác, khách quan và thoả đáng. Ngoài
ra, do tính chất phức tạp và đặc điểm đặc thù của các đối tượng bảo hiểm trong bảo hiểm
kĩ thuật, các nhà bảo hiểm có thể trực tiếp hoặc thuê giám định viên chuyên nghiệp thực
hiện công tác giám định.
2. Các bước cơ bản trong giám định và bồi thường tổn thất
2.1. Nhận thông báo tổn thất và yêu cầu giám định
Khi tổn thất xảy ra, người được bảo hiểm có trách nhiệm báo ngay cho người bảo
hiểm, giữ nguyên hiện trường và thực hiện các biện pháp đề phòng hạn chế tổn thất phát
sinh thêm. Sau một khoảng thời gian nhất định hoàn thành các giấy tờ sau và gửi cho công
ty bảo hiểm:
- Thông báo chi tiết bằng văn bản về tổn thất.
- Giấy yêu cầu giám định (theo mẫu của người bảo hiểm)
- Giấy chứng nhận bảo hiểm
- Hoá đơn thanh toán phí bảo hiểm
thất thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm.
Ngoài ra, thông qua việc giám định có thể đề xuất với người được bảo hiểm những
biện pháp nhằm hạn chế tới mức thấp nhất hậu quả của tổn thất đã xảy ra và ngăn ngừa
những tổn thất phát sinh trong tương lai và giúp cho cán bộ khai thác làm tốt hơn công tác
đánh giá rủi ro trước khi nhận bảo hiểm đối với các dịch vụ có tính chất tương tự.
b, Yêu cầu
- Mọi tổn thất được khách hàng thông báo đều phải được giám định một cách nhanh
chóng. Ngay sau khi nhận được thông báo tổn thất giám định viên phải đến ngay hiện
trường để ghi chép các thông tin ban đầu, giám định thiệt hại và thu thập các chứng từ cần
thiết. Trong trường hợp tổn thất phức tạp chưa thể thực hiện được việc giám định toàn diện
và chưa thu thập được đầy đủ thông tin ngay một lần vào thời điểm giám định đầu tiên thì
phải niêm phong hiện trường và các chứng từ hoá đơn có liên quan đến số lượng và giá trị
của tài sản bị tổn thất phục vụ cho việc điều tra giám định tiếp theo. Việc giám định có thể
được thực hiện theo từng bước từ sơ bộ đến chi tiết tuỳ theo tính chất phức tạp của từng vụ
tổn thất cụ thể. Trong trường hợp tổn thất được xác định không thuộc trách nhiệm bảo
hiểm phải thông báo chính thức bằng văn bản cho người được bảo hiểm kèm theo những
giải thích thoả đáng.
Đối với những tổn thất có giá trị ước tính lớn hơn 100000 đôla Mỹ hoặc những tổn
thất có nguyên nhân phức tạp khó xác định, phải báo cáo ngay về Tổng công ty để có biện
pháp xử lí kịp thời. Đối với tất cả các đơn bảo hiểm có phát sinh tái bảo hiểm chỉ định (qua
môi giới hoặc theo yêu cầu của khách hàng ) thì khi có bất kì tổn thất nào xảy ra phải báo
cáo ngay lập tức về tổng công ty và nếu có thể thì phải đồng thời thông báo ngay cho công
ty môi giới và công ty tái bảo hiểm chỉ định biết. Tuy nhiên trong các trường hợp trên việc
giám định và tính toán tổn thất sơ bộ vẫn phải được thực hiện ngay sau khi nhận được
thông báo của người được bảo hiểm.
Trong trường hợp đặc biệt, nếu việc giám định không thực hiện được đầy đủ do
hiện trường bị xáo trộn, hoá đơn chứng từ bị tiêu huỷ…thì có thể căn cứ vào biên bản của
các cơ quan chức năng (công an, cảnh sát PCCC…), khai báo của người được bảo hiểm,
bằng chứng, ảnh chụp, hiện vật thu được và kết quả điều tra, thẩm định sau đó của Bảo
Việt. Trong trường hợp này giám định viên cũng phải lập một biên bản ghi rõ những thông
chuyên trách vẫn phải lập một biên bản tổng hợp trong đó có sử dụng một phần hoặc toàn
bộ kết quả giám định của cơ quan giám định độc lập đó để làm cơ sở xác định phạm vi
trách nhiệm bảo hiểm và phục vụ cho công tác xem xét giải quyết bồi thường.
Sau khi giám định chi tiết và đã có đủ các thông tin cần thiết, phải lập ngay biên bản
giám định và tính toán tổn thất (gọi tắt là biên bản giám định) trong đó thể hiện đầy đủ
những nội dung cần thiết. Phải có ảnh chụp kèm theo biên bản giám định về những hạng
14
mục tài sản bị tổn thất trong đó có đánh dấu những vị trí hoặc khu vực bị hư hại. Nếu tổn
thất phức tạp dẫn đến việc giám định và thu thập thông tin phải kéo dài không thể lập được
ngay biên bản giám định chi tiết trong một thời gian ngắn thì nhất thiết phải lập các biên
bản giám định sơ bộ để ghi nhận những sự việc và thông tin đã thu thập được tại từng thời
điểm nhất định, ước tính mức độ tổn thất trước khi có đủ thông tin để lập biên bản giám
định cuối cùng.
Nếu tổn thất đã được một công ty giám định và tính toán tổn thất chuyên về bảo
hiểm điều tra giám định thì giám định viên của công ty bảo hiểm không cần phải lập biên
bản giám định nhưng phải cộng tác và phối hợp chặt chẽ với giám định viên của công ty
giám định đó trong việc điều tra và thu thập các thông tin cần thiết để việc giám định được
thực hiện chính xác và kết thúc nhanh chóng.
3.2.Những nội dung cụ thể trong việc giám định
a, Những thông tin liên quan đến đơn bảo hiểm đối với tài sản bị tổn thất
Những thông tin liên quan đến đơn bảo hiểm (hợp đồng bảo hiểm) đối với tài sản bị
tổn thất:
- Đơn bảo hiểm số…..cấp ngày….tháng ….năm….
- Tên và địa chỉ của người được bảo hiểm
- Địa điểm được bảo hiểm
- Thời hạn bảo hiểm
- Tổng số tiền bảo hiểm (nếu có nhiều hạng mục thì ghi rõ số tiền bảo hiểm của
từng hạng mục)
- Ngày xảy ra tổn thất
- Loại tổn thất (ghi vắn tắt như hoả hoạn, lũ lụt hay giông bão…)
tin này cũng giúp cho cán bộ khai thác thống kê phân loại những ngành nghề, yếu tố có thể
dẫn đến rủi ro để rút ra những kinh nghiệm bổ ích trong công tác đánh giá rủi ro và nhận
bảo hiểm đối với các dịch vụ tương tự.
Những thông tin trên được đề cập càng chi tiết càng tốt, đặc biệt là đối với các vụ
hoả hoạn gây tổn thất lớn đối với nhiều hạng mục và phức tạp. Đối với những tổn thất nhỏ
dễ dàng xác định mức độ và nguyên nhân tổn thất thì không nhất thiết phải đề cập tất cả
những thông tin như đề cập ở phần này hoặc có thể ghi vắn tắt hơn nhưng trong mọi
16
trường hợp vẫn cần phải ghi rõ qui trình sản xuất nếu doanh nghiệp được bảo hiểm là đơn
vị sản
c, Miêu tả về địa điểm được bảo hiểm
Trong mục này cần thể hiện những thông tin sau đây:
Tên địa chỉ đầy đủ của địa điểm đó,miêu tả tóm tắt về việc bố trí tổng thể (có thể
đính kèm sơ đồ mặt bằng) của nhà xưởng, sân bãi, kho tàng, văn phòng, hàng rào ….kèm
theo kích thước cụ thể và vị trí của cơ sở được bảo hiểm (miêu tả tóm tắt các phía tiếp giáp
với cơ sở được bảo hiểm ) có thể miêu tả về kết cấu của các công trình kiến trúc được bảo
hiểm như: mấy tầng, vật liệu bê tông hay cốt thép, kết cấu bên trong, bên ngoài,các hệ
thống trang thiết bị điện, hệ thống cung cấp nước chữa cháy được thiết kế và bố trí như thế
nào, các phương tiện chữa cháy tại chỗ(loại, số lượng, cách bố trí…) Khoảng cách tới đội
chữa cháy công cộng gần nhất là bao nhiêu.
Những thông tin này cũng là cơ sở để phân tích xác định xem có khả năng tổn thất
phát sinh từ bên ngoài khu vực được bảo hiểm hay không để có thể khiếu nại bên thứ ba
sau khi công ty bảo hiểm đã bồi thường cho người được bảo hiểm (chẳng hạn tổn thất do
hoả hoạn mà địa điểm được bảo hiểm ở gần kho hoá chất dễ cháy của mộtdơn vị khác thì
có khả năng cháy có thể phát sinh từ khu vực hoá chất đó rồi lan sang khu vực được bảo
hiểm…). Những thông tin được thể hiện ở mục này cũng có thể giúp cho cán bộ khai thác
và quản lí rủi ro phân tích tính hợp lí của việc bố trí nhà cửa, kho tàng… của doanh nghiệp
được bảo hiểm theo góc độ an toàn phòng cháy chữa cháy hoặc các rủi ro khác, những gì
cần phải cải tiến hoặc được trang bị thêm để đảm bảo an toàn hơn…và qua đó có thể đưa
ra những kiến nghị cần thiết đối với người được bảo hiểm để tránh hoặc giảm nhẹ những
một báo cáo riêng của họ về những vấn đề đã nói ở trên đồng thời giám định viên nên lập
các biên bản lấy lời khai từ các nhân chứng và đề nghị họ kí xác nhận. Báo cáo của người
được bảo hiểm và các biên bản thu thập lời khai nói trên phải được đính kèm theo Biên bản
giám định cuối cùng của giám định viên và là cơ sở để cán bộ giải quyết bồi thường xem
xét khi tiến hành giải quyết khiếu nại.
e, Nguyên nhân thiệt hại
Trong mục này, giám định viên phải diễn tả chi tiết cách thức điều tra của mình một
cách lô gích về nguyên nhân gây ra tổn thất trước khi đi đến kết luận cụ thể.
Đối với các vụ hoả hoạn, phải xác định càng chính xác càng tốt điểm phát cháy đầu
tiên bằng cách kiểm tra hiện trường và lấy lời khai của các nhân chứng, kiểm tra kĩ các
18
công đoạn sử dụng nhiệt trong quá trình sản xuất như: hàn, cắt kim loại, đun sấy… hoặc sử
dụng hoá chất hoặc các nguyên vật liệu dễ cháy nổ… xem xét sơ đồ hệ thống điện, tại khu
vực cháy có đường dây điện chạy qua hay không, kiểm tra lại các đầu nối dây, công tắc,
cầu dao, chất lượng cách điện… phân tích khả năng cháy phát sinh từ bên ngoài rồi lan vào
khu vực được bảo hiểm. Trên cơ sở các thông tin đã thu thập được phân tích, đánh giá về
khả năng liệu có sự cố ý phá hoại của bất cứ người nào hoặc tổ chức nào hay không. Có
thể dùng phương pháp thống kê loại trừ để di đến giới hạn một hoặc một số nguyên nhân
có thể dẫn đến tổn thất.
Nói chung, việc xác định nguyên nhân tổn thất là một trong những khâu phức tạp
nhất và đôi khi phải trưng cầu giám định của một cơ quan độc lập, đặc biệt đối với những
vụ tổn thất lớn việc điều tra giám định nguyên nhân gần như bắt buộc phải thực hiện bởi
các cơ quan chức năng. Trong những trường hợp như vậy mục này phải ghi rõ kết luận của
các cơ quan này về nguyên nhân thiệt hại, đính kèm theo biên bản giám định những kết
luận đó và coi đây là bằng chứng pháp lí để xem xét trách nhiệm của công ty bảo hiểm.
f, Đánh giá về trách nhiệm của bảo hiểm đối với thiệt hại đã xảy ra
Từ những phân tích về nguyên nhân thiệt hại, giám định viên cần nêu ý kiến đánh
giá của mình là thiệt hại có (hoặc có khả năng) thuộc trách nhiệm bồi thường của công ty
bảo hiểm hay không. Nếu vụ việc phức tạp chưa thể đánh giá được chính xác nguyên nhân
tổn thất ở lần giám định đầu tiên thì việc giám định này sẽ được nêu ở biên bản giám định
đồng thời trong suốt quá trình giám định.
Đối với những vụ tổn thất nhỏ, việc mô tả và tính toán mức độ thiệt hại được thực
hiện tương đối dẽ dàng và chỉ cần giám định một lần thì hai phần này có thể gộp chung và
đề cập một lần trong biên bản giám định. Đối với những tổn thất phức tạp mà việc tính
toán tổn thất cần phải có thời gian và đòi hỏi nhiều hoá đơn, chứng từ thì việc tính toán số
tiền thiệt hại cụ thể sẽ được nêu trong biên bản giám định cuối cùng. Tuy nhiên trong các
biên bản giám định sơ bộ vẫn cần phải mô tả chi tiết về mức độ thiệt hại.
Trong một số trường hợp thiệt hại có thể xảy ra do nhiều nguyên nhân trong đó có
nguyên nhân được bảo hiểm và không dược bảo hiểm , trong trường hợp này việc giám
định và tính toán tổn thất phải phân tách được rõ mức độ thiệt hại do từng rủi ro riêng biệt
gây ra mà công việc này thường không đơn giản và đòi hỏi một sự giám định kĩ càng và có
tay nghề của các giám định viên có kinh nghiệm.
Một điểm quan trọng cũng cần phải lưu ý là phải cố gắng thu hồi phế liệu nhằm
giảm thiểu số tiền bồi thường. Phương pháp thu hồi thông dụng là chào thầu bán phế liệu
20
qua đó thoả thuận giá trị thu hồi với người được bảo hiểm rồi đối trừ khi tính số tiền bồi
thường.
3.3. Hướng dẫn cụ thể về việc đánh giá và tính toán toán thiêt hại trong bảo hiểm
xây dựng
a, Mô tả thiệt hại
- Vẽ sơ đồ khu vực bị tổn thất trên công trường .
- Mô tả chi tiết mức độ thiệt hại, bao gồm cả các thiệt hại tiềm ẩn(nếu có)
- Xác định rõ liệu đó là công trình xây dựng tạm thời hay công trình xây dựng chính
thức.
- Xác định mức độ hư hại của các công trình do nhà thầu phụ thực hiện: nêu cụ thể
tên thầu phụ và hình thức hợp đồng thầu phụ.
- Xác định chi phí sửa chữa hoặc khôi phục lại các công đoạn đã bị tổn thất (nếu
phức tạp có thể mời các công ty tư vấn hoặc các tổ chức giám định độc lập để đánh giá)
Để đánh giá thiệt hại thuộc trách nhiệm bảo hiểm cần thu thập các thông tin sau:
- Thiệt hại xảy ra ở giai đoạn nào(trong quá trìng thi công, chạy thử hay bảo hành)
Nêu phương án khắc phục cụ thể, ví dụ hư hại nào người được bảo hiểm có thể tự
khắc phục được, hư hại nào phải thuê sủa chữa …Nếu người được bảo hiểm tự sửa chữa
thì phải theo dõi giám sát quá trình sửa chữa và các chi phi trên cơ sở dự toán sửa chữa đã
thống nhất. Nếu phải thuê đơn vị khác sửa chữa hoặc khôi phục lại thì để đảm bảo việc sửa
chữa hay khôi phục vừa đạt yêu cầu về chất lượng vừa hợp lí về giá cả, giám định viên
phải phối hợp và bàn bạc với người được bảo hiểm để thống nhất một phương án khắc
phục tối ưu và tổ chức đấu thầu sửa chữa hoặc thay thế để chọn giá thấp nhất, sau đó phối
hợp với người được bảo hiểm theo dõi giám sát chặt chẽ quá trình sửa chữa khôi phục.
c, Xác định trách nhiệm của công ty bảo hiểm
Để xác định được trách nhiệm bảo hiểm phải nêu được nguyên nhân xảy ra tổn thất
và trên cơ sở các thông tin đã được xác định đối chiếu với các điều kiện, điều khoản, các
điểm loại trừ và các điều khoản bổ sung (nếu có) để đưa ra đánh giá.Trong trường hợp
phức tạp thì có thể nhờ cơ quan giám định độc lập thực hiện việc giám định nguyên nhân
tổn thất.
d, Tính toán tổn thất
22
Yêu cầu lập dự toán sửa chữa với các yếu tố sau:
- Dọn dẹp hiện trường
- Chủng loại, số lượng và giá cả nguyên vật liệu
- Chi phí lao động
- Số ca kíp cần bố trí làm việc
- Chi phí vận chuyển và các chi phí liên quan khác.
Trên cơ sở dự toán sửa chữa có thể tiến hành đấu thầu sửa chữa hoặc chủ thầu tự
khắc phục và trong trường hợp nào cũng phải đề nghị chủ thầu mở sổ kế toán riêng biẹt để
quản lí và theo dõi công việc sửa chữa, khôi phục và các chi phí có liên quan như:
- Số lượng và chi phí về lao động, thiết bị máy móc đã sử dụng
- Chi phí về nguyên vật liệu đã sử dụng trong các công việc khôi phục và phục hồi.
- Chi phí quản lí hành chính khác
Tất cả các chi phí liên quan đến tổn thất đòi bồi thường đều phải được chứng minh
qua hoá đơn, chứng từ biên nhận rõ ràng.
S: số tiền bảo hiểm
D: mức khấu trừ
s: giá trị thu hồi
d: tỉ lệ khấu hao theo thời gian
t: thời gian sử dụng của công trình
Vr: giá trị thay thế mới của công trình tại thời điểm xảy ra thiệt hại
Va: giá trị còn lại thực tế của công trình tại thời điểm xảy ra tổn thất
Va=Vr *(1-dt)
C1: chi phí sửa chữa, khôi phục công trình bị tổn thất
C2: chi phí sửa chữa,khôi phục sau khi trừ đi khấu hao
C2 = C1(1-dt)
l: Số tiền bồi thường
* Tổn thất toàn bộ (C2>=Va hoặc thiệt hại không thể sửa chữa khôi phục được)
- Nếu S>=Va-s
l=Va-s-D
- Nếu S< Va-s
24
l= S-D
* Tổn thất bộ phận (C2< Va)
- Nếu bảo hiểm đúng hoặc trên giá trị (S>=Va)
l=C2-s-D
- Nếu bảo hiểm dưới giá trị (S<Va)
l={(C2-s)*S/Va}- D
Một số điểm cần nhấn mạnh:
Theo các công thức trên chúng ta có thể thấy rằng trong mọi trường hợp điều quan
trọng là phải xác định cho được giá trị thực tế của tài sản ngay trước thời điểm xảy ra thiệ
hại để làm cơ sở tính toán và đối chiếu khi tính toán số tiền bồi thường thuộc trách nhiệm
bảo hiểm vì một số nguyên tắc cơ bản được áp dụng trong các đơn bảo hiểm tài sản tiêu
chuẩn hiện nay là số tiền bồi thường không được vượt quá giá trị thực tế của tài sản bị tổn
thất ở thời điểm ngay trước thời điểm xảy ra tổn thất. Giá trị thực tế của tài sản ngay trước