Điều tra và xây dựng bản đồ dịch tễ hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính trên nuôi tôm tại tỉnh sóc trăng - Pdf 28

BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

NGUYỄN THẾ HIỀN

ðIỀU TRA VÀ XÂY DỰNG BẢN ðỒ DỊCH TỄ HỘI CHỨNG
HOẠI TỬ GAN TỤY CẤP TÍNH TRÊN TÔM NUÔI
TẠI TỈNH SÓC TRĂNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ

Hà Nội – 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI


i

LỜI CAM ðOAN

Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, số liệu và
kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo
vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm
ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn ngốc.

Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn Nguyễn Thế Hiền

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

ii

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi luôn nhận
được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, cô giáo, đồng nghiệp, bạn bè và
gia đình
Nhân dịp này, trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các giảng

Danh mục bảng vi
Danh mục hình vii
Danh mục chữ viết tắt ix
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Khái quát tình hình nuôi tôm trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng 4
1.1.1 Khái quát địa bàn tỉnh Sóc Trăng 4
1.1.2 Tình hình nuôi tôm tại Sóc Trăng 5
1.2 Đặc tính sinh học của tôm thẻ và tôm sú 6
1.2.1 Tôm thẻ chân trắng 6
1.2.2 Tôm sú 7
1.3 Khái quát tình hình Hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính trên tôm
sú và tôm thẻ chân trắng 8
1.3.1 Lịch sử tên bệnh 8
1.3.2 Diễn biến AHPNS trên thế giới và Việt Nam 8
1.4 Một số nghiên cứu trong nước về Hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính
trên tôm sú và tôm thẻ chân trắng và một số bệnh có liên quan. 10
1.4.1 Khái quát quá trình nghiên cứu AHPNS tại Việt Nam và thế giới 10
1.4.2 Nghiên cứu trong và ngoài nước về hội chứng AHPNS 11
1.5 Một số bệnh tác động lên gan tụy tôm nuôi 13
1.5.1 Bệnh còi trên tôm do Baculovirus (MBV). 13
1.5.2 Bệnh gan tụy tôm he do Hepatopancreatic Parvorius – HPV 14

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

iv

1.5.3 Bệnh hoại tử tuyến ruột giữa tôm he do Baculoviral Midgut
gland Necrosis virus - BMN 15
1.5.4 Bệnh hoại tử gan tụy ở tôm 16

vùng nuôi tôm 32
3.2.3 Tính hình AHPNS theo đối tượng thả nuôi 34
3.2.4 Tình hình dịch AHPNS theo hình thức nuôi 37
3.2.5 Diễn biến dịch AHPNS theo thời gian 41
3.2.6 Diễn biến dịch AHPNS theo ngày tuổi tôm sau khi thả 45
3.3 Một số yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến tình hình dịch bệnh
AHPNS 50
3.4 Bản đồ dịch tễ AHPNS trên tôm nuôi trong năm 2011 54
3.5 Tình hình dịch bệnh AHPNS và bản đồ dịch tễ năm 1012 58
3.5.1 Tình hình dịch bệnh chung tại 3 huyện nghiên cứu. 58
3.5.2 Diễn biến bệnh theo thời gian, bản đồ dịch tễ AHPNS năm 2012 59
KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 64
I Kết luận 64
II. Kiến nghị 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
PHỤ LỤC 71 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

vi

DANH MỤC BẢNG

STT Tên bảng Trang

2.1 Bảng tương liên 2 x 2 25
3.1 Tổng hợp số liệu điều tra tại các huyện nghiên cứu 30
3.2 Tổng hợp tình hình nuôi tôm trên địa bàn nghiên cứu 31
3.3 Tỷ lệ diện tích tôm nuôi bị AHPNS theo vùng nuôi 31

2.3 Tôm thẻ chân trắng bị AHPNS, gan - tụy sưng to (16 ngày sau thả) tại
Trần Đề - Sóc Trăng 20
2.4 Tôm thẻ chân trắng bị AHPNS yếu, lờ đờ, bỏ ăn (16 ngày sau thả) tại
Trần Đề - Sóc Trăng 20
2.5 Tôm sú bị AHPNS, gan - tụy bị teo, dai và nhạt màu (Đào Thanh Huê
– RAHO6). 21
2.7 Mô gan - tụy tôm khỏe mạnh (Nguồn: Đào Thanh Huê – RAHO VI) 21
2.6 Tôm sú bị AHPNS, gan - tụy bị teo, dai và nhạt màu (Đào Thanh Huê
– RAHO 6) 21
2.8 Mô gan - tụy tôm bị AHPNS – giai đoạn cuôi không thấy tế bào B, F, R và
nhiễm khuẩn – Vật kính 40x (Nguồn: Đào Thanh Huê – RAHO VI) 21
2.9 Gan - tụy tôm sú khỏe mạnh 22
2.11 Mô gan - tụy tôm bị AHPNS giai đoạn cấp tính, tế bào bị bong tróc, không
thấy tế bào B,R,F Thành ống gan - tụy teo - vật kính 40x 22
2.10 Tôm sú khỏe mạnh 21
2.12 Mô gan - tụy tôm bị AHPNS bị nhiểm khuẩn – Vật kính 10x (nguồn:
Đào Thanh Huê – RAHO VI) 22
3.1 Tỷ lệ diện tích nuôi tôm bị AHPNS theo vùng nuôi 32
3.2 Tỷ lệ hộ có tôm mắc AHPNS theo vùng nuôi 33
3.3 Tỷ lệ diện tích mắc AHPNS trên tôm sú theo vùng nuôi 35

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

viii

3.4 Tỷ lệ diện tích mắc AHPNS theo đối tượng nuôi. 37
3.5 Tỷ lệ diện tích tôm nuôi bị AHPNS theo hình thức nuôi 38
3.6 Tỷ lệ hộ có tôm bị mắc AHPNS theo hình thức nuôi 40
3.7 Diễn biến diện tích nuôi bị AHPNS theo thời gian (ngày) 42
3.8 Diễn biến bệnh AHPNS theo các tháng trong năm 44

(Regional Animal Health Office Number VI)
RR : Nguy cơ tương đối (Risk Ratio)
SPF : Sạch bệnh (Specific Pathogen Free)
V. : Vibrio
95%CI : Ước lượng khoảng tin cậy 95%
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp 1

MỞ ðẦU

I. ðặt vấn ñề
Việt Nam là một nước sản xuất và xuất khẩu tôm, đầu thế giới (tập trung chủ
yếu ở vùng đồng bằng sông Cửu Long). Hiện nay, hai đối tượng tôm nuôi chủ yếu
của nước ta là tôm sú (Penaeus monodon) và tôm thẻ chân trắng (Litopanaeus
vannamei) đang mang lại kim ngạch xuất khẩu cao nhất cho Việt Nam. Cụ thể, sản
lượng tôm qua các năm: 2009, 2010, 2011 lần lượt là 352.000 tấn, 469.893 tấn và
240.000 tấn (Trung Mai, 2012). Xét về mặt giá trị kinh tế, xuất khẩu tôm đem lại
một lượng ngoại tệ rất lớn cho Việt Nam, năm 2009 khoảng 1,5 tỷ USD, 2010 ước
khoảng 1,9 tỷ USD và khoảng 2,4 tỷ USD trong năm 2011, tính tổng 6 tháng đầu
năm 2012 giá trị xuất khẩu tôm Việt Nam ước đạt 1.015,299 triệu USD với các thị
trường chủ yếu là: Mỹ, Châu Âu, Úc (Australia), Nhật Bản và một số các nước khác
(Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam - VASEP, 2012). Vùng nuôi
tôm chủ yếu của nước ta là vùng đồng bằng sông Cửu Long gồm các tỉnh: Bến Tre,
Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang với diện tích khoảng
565.000 ha nuôi tôm, tương đương 92% diện tích nuôi tôm của cả nước.

nuôi tôm và ngành thủy sản Việt Nam trong năm 2011, 2012. Đặc biệt, trong năm
2011, dịch AHPNS đã gây thiệt hại lớn, trên diện rộng cũng ở các tỉnh phía Nam, trong
đó Sóc Trăng là tỉnh bị thiệt hại lớn nhất. Tính đến đầu tháng 6/2011 diện tích nuôi tôm
của cả nước là 566.189 ha, trong đó diện tích tôm chết ước tính là 53.048 ha (chiếm
9,3% diện tích đã thả giống). Riêng 7 tỉnh ven biển Đồng bằng Sông Cửu Long (Tiền
Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang), diện tích tôm
nuôi bị chết là 51.928 ha (chiếm 97% diện tích tôm nuôi bị thiệt hại trong cả nước).
Trong đó, diện tích bị bệnh Đốm trắng là 621 ha (chiếm 1,18% diện tích thiệt hại), còn
lại tôm chủ yếu bị chết do Hội chứng AHPNS và bệnh khác (chiếm tỷ lệ ít). Chỉ tính
riêng Sóc Trăng đã có 19.349 ha tôm chết/25.447 ha đã thả giống (chiếm 76% diện tích
thả nuôi), trong đó chủ yếu là do Hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính gây ra (Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn, 2011).
Một vấn đề đặt ra với các nhà khoa học và cơ quan quản lý nhà nước về thú
y thủy sản năm 2011- 2012 là: Làm thế nào có thể mô tả được bệnh một cách nhanh,
chính xác và toàn diện? Các yếu tố nào ảnh hưởng đến bệnh (yếu tố nguy cơ)? Để từ
đó để đưa ra biện pháp phòng bệnh nhanh, kịp thời làm giảm thiệt hại cho người nuôi
tôm trong giai đoạn chưa thể xác định chính xác tác nhân gây bệnh do việc nghiên
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp 3

cứu luôn mất rất nhiều thời gian. Để giải quyết việc này, điều tra dịch tễ theo phương
pháp cắt ngang kết hợp với phương pháp bệnh chứng là một lựa chọn đúng đã được
áp dụng cho nhiều nghiên cứu trước đây kể cả nhân y và thú y.
Xuất phát từ yêu cầu đó, Chi cục Thú y tiến hành điều tra dịch tễ Hội chứng
hoại tử gan tụy cấp tính trên tôm nuôi dưới sự hướng dẫn của Cục Thú y, nhằm đưa
ra định hướng ban đầu và biện pháp phòng chống bệnh khẩn cấp. Trong quá trình
đó, tôi là một trong những người trực tiếp tham gia xây dựng phiếu điều tra, hướng
dẫn điều tra, điều tra, thu mẫu, thu thập số liệu. Trong báo cáo này, tôi sử dụng số

yếu dựa vào nuôi trồng thủy sản trong đó nuôi tôm là ngành chủ lực của tỉnh. Đối
tượng chính là tôm sú và tôm thẻ chân trắng.

Hình 1.1. Bản ñồ Hành chính tỉnh Sóc Trăng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp 51.1.2. Tình hình nuôi tôm tại Sóc Trăng
Theo Tổng cục Thống kê (2012, 2013), Sóc Trăng có 64.400 ha diện tích
nuôi trồng thủy sản, trong đó đóng góp một phần rất lớn cho sản lượng nuôi tôm cả
nước. Cụ thể, năm 2007: Sóc Trăng thu hoạch được 58.495 tấn tôm thương phẩm
(sản lượng cả nước thu hoạch được: 384.519 tấn tôm thương phẩm) tương đương
15,21% tổng sản lượng tôm nuôi cả nước; 2008: 58.790 tấn tôm thương phẩm (sản
lượng cả nước thu hoạch được: 388.359 tấn tôm thương phẩm), tương đương:
15,14% tổng sản lượng tôm nuôi cả nước. Đến năm 2010 sản lượng tăng lên là
60.830 tấn tôm thương phẩm (sản lượng cả nước thu hoạch được 449.652 tấn tôm
thương phẩm) tương đượng 13,53% sản lượng tôm nuôi cả nước; năm 2011 là
47.753 tấn tôm thương phẩm (cả nước thu hoạch được 482.193 tấn tôm thương
phẩm) tương đương 9,9% sản lượng tôm của cả nước.
Các huyện nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng: Mỹ Xuyên, Trần Đề, Cù Lao
Dung, Vĩnh Châu, Mỹ Tú. Con giống chủ yếu nhập từ các tỉnh chuyên sản xuất tôm
giống như: Ninh Thuận, Bình Thuận, Khánh Hòa và một số công ty sản xuất giống
lớn như: Uni-President, CP. Ngoài ra, một phần nguồn giống được sản xuất tại tỉnh
nhưng thị phần không đáng kể.
Tôm nuôi tại Sóc Trăng gồm hai đối tượng nuôi chính: Tôm sú và tôm thẻ
chân trắng (năm 2011 chỉ có rất ít hộ nuôi do chưa được sự cho phép nuôi tôm thẻ
chân trắng) trong đó tôm sú chiếm phần lớn. Tuy nhiện từ năm 2012, với sự cho

thức ăn. Do sức ép về kinh tế lớn, vì vậy họ cũng đầu tư bài bản hơn về kỹ thuật,
con người để tự bảo vệ mình, giảm rủi ro, tăng năng suất. Đặc biệt các cơ sở/hộ
nuôi đầu tư cho công tác phòng chống dịch bệnh, do đây là yếu tố chính quyết định
sự thành công hay thất bại trong nuôi tôm hiện nay tại Sóc Trăng nói riêng, trên cả
nước nói chung. Ngược lại, những người nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến và
tôm lúa, mức đầu tư hạn chế, kinh phí hạn hẹp. Do vậy, các cơ sở/hộ nuôi này
không có điều kiện đầu tư trang thiết bị, máy móc, thuê kỹ thuật viên tham gia vào
công tác nuôi trồng như các cơ sở nuôi tôm công nghiệp. Việc nuôi tôm tại các cơ
sở/ hộ nuôi chủ yếu dựa trên kinh nghiệm, theo phong trào và yếu tố may rủi còn
lớn, khả năng quản lý sức khỏe tôm còn một số hạn chế.
1.2. ðặc tính sinh học của tôm thẻ và tôm sú
1.2.1. Tôm thẻ chân trắng
Tôm thẻ chân trắng có tên khoa học là: Lipopenaeus Vannamei, tên tiếng anh
là: White Shrimp. Ngoài ra nó còn được gọi với một số tên là: tôm bạc Thái Bình
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp 7

Dương, tôm bạc Tây Châu Mỹ. Tôm có một số đặc điểm hình thái sau: dưới chủy
có từ 2-6 răng, gờ và rãnh bên chủy ngắn, không có gai mắt và gai đuôi. Tôm có
màu trắng đục, kích cỡ tôm trưởng thành khoảng 23 cm (Trung tâm Khuyến ngư
Quốc gia, 2004). Mỗi lần tôm đẻ khoảng 100.000-250.000 trứng
Tôm thẻ chân trắng có tốc độ phát triển nhanh hơn so với tôm sú (khoảng 3 –
4 tháng có thể đạt kích cỡ 15 g/con). Trong điều kiện tự nhiên tôm thích sống nơi có
đáy bùn, độ sâu khoảng 72m, độ mặn giao đổng từ: 5-50%
0

trong đó thích hợp nhất
ở 28-34%
8

Đông Nam Á trong đó có Việt Nam (Trung tâm Khuyến ngư Trung ương, 2000).
1.3. Khái quát tình hình Hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính trên tôm sú và tôm
thẻ chân trắng
1.3.1. Lịch sử tên bệnh
Hiện nay (tháng 6/2013) Hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính đã bước đầu xác
định tác nhân gây bệnh là do vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus có mang thực khuẩn
thể (phage) gây ra. Tuy nhiên, vẫn chưa có một nghiên cứu chính thức nào xác định
được có phải chỉ do vi khuẩn này gây ra hay có sự kết hợp với tác nhân khác? Do đây
là loài vi khuẩn rất phổ biến trong nước, nó được ví về mức độ phổ biến giống như vi
khuẩn E.coli đối với môi trường trên cạn. Cho tới thời điểm hiện tại (tháng 10/2013),
các nhà khoa học trong nước và quốc tế chưa có nghiên cứu nào xác định chính xác
thực khuẩn thể (phage) trong Vibrio parahaemolyticus gây bệnh.
Tại thời điểm chúng tôi bắt đầu tiến hành nghiên cứu (tháng 6/2011), bệnh
được xác định là bệnh mới xuất hiện tại Việt Nam và trên thế giới. Bệnh ban đầu
được gọi là Hội chứng chết sớm (Early Mortality Syndrome) trên tôm hay thường gọi
là Hội chứng tôm chết dưới 30 ngày tuổi. Việc đặt tên dựa trên đặc điểm: Hội chứng
EMS xảy ra cấp tính trong thời gian ngắn và tập trung ở tôm nuôi giai đoạn dưới 30
ngày tuổi tại vùng đồng bằng sông Cửu Long. Sau đó đến năm 2012, bệnh được đặt lại
tên là Hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính (Acute Hepatopancreatic Necrosis Syndrome:
AHPNS) trên tôm nuôi. Người ta đặt tên này dựa trên đặc điểm bệnh tích điển hình của
bệnh là hiện tượng hoại tử cấp tính trên gan tụy tôm nuôi. Tôm bệnh có ở giai đoạn đầu
có hiện tượng gan bị sưng hoặc vỡ vụn và biến đổi màu sắc, với những con tôm còn
sống sau dịch có hiện tượng gan teo nhỏ và cứng. Đến tháng 6/2013, bước đầu đã xác
định được tác nhân gây bệnh là do Vibrio parahaemolyticus song chưa xác định được
phage gây bệnh và đang tiếp tục nghiên cứu.
1.3.2. Diễn biến AHPNS trên thế giới và Việt Nam

Năm 2012 bệnh tiếp tục diễn biến phức tạp và lan ra toàn bộ khu vực nuôi
tôm tại Việt Nam. Cũng như năm 2011, các tỉnh nuôi tôm trọng điểm tại Việt
Nam vẫn là các tỉnh chịu thiệt hại nghiêm trọng nhất là: Sóc Trăng (2.100 ha),
Trà Vinh (1.642 ha), Bạc Liêu (2.000 ha), Cà Mau (4.007 ha), Bến Tre (133
ha), Tiền Giang. Đồng thời bệnh bắt đầu bùng phát, lây lan tại các tỉnh miền
trung: Bình Định (39 ha), Ninh Thuận (6,2 ha), Bà Rịa – Vũng Tàu (13 ha). Sau
đó bệnh tiếp tục xảy ra tại các tỉnh miền trung khác: Thanh Hóa, Nghệ An,
Quảng Trị, Quảng Ngãi, Ninh Thuận (82,6ha), Bình Thuận, Khánh Hòa (10,7
ha) và Phú Yên (OIE, 2012). Như vậy, toàn bộ vùng nuôi tôm chính tại Việt
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp 10

Nam đều bị bệnh.
1.4. Một số nghiên cứu trong nước về Hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính trên
tôm sú và tôm thẻ chân trắng và một số bệnh có liên quan.
1.4.1. Khái quát quá trình nghiên cứu AHPNS tại Việt Nam và thế giới
Đây là hội chứng bệnh mới xuất hiện tại Việt Nam và trên thế giới (Bệnh
xuất hiện cuối năm 2010, đến đầu năm 2011 bệnh mới được ghi nhận và nghiên
cứu). Do đó, nguồn tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước về AHPNS là rất ít
(gần như không có), các nước bị nhiễm bệnh cũng không có báo cáo chính thức về
bệnh. Các nghiên cứu bệnh trước đây có liên quan đến hiện tượng gan tụy tôm bị
hoại tử hay tác động đều được xem xét. Tuy nhiên, khi xét nghiệm các bệnh đó
(được giới thiệu phần sau) đều cho kết quả âm tính hoặc không rõ ràng. Do vậy,
việc nghiên cứu là hoàn toàn cần thiết và gặp một số khó khăn nhất định.
Tại Việt Nam, các đề tài dự án nghiên cứu liên quan đến bệnh nêu trên cũng
bắt đầu từ năm 2011 đến nay. Thời điểm đề tài này được nghiên cứu trùng với thời
điểm các nghiên cứu khác được triển khai. Việc nghiên cứu chủ yếu theo yêu cầu của
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và một số trường đại học trong và ngoài

nghiên cứu của tôi thuộc một phần của điều tra dịch tễ của Cục Thú y đã triển khai
trong năm 2011 tại 28 tỉnh ven biển có nuôi tôm.
1.4.2. Nghiên cứu trong và ngoài nước về hội chứng AHPNS
1.4.2.1. Các nghiên cứu trong nước
Trong giai đoạn đầu tiên khi dịch bệnh mới xảy ra, có rất nhiều các nhà
nghiên cứu tham gia và bước đầu đưa ra các định hướng sau:
Bùi Quang Tề và cộng sự (2011) cho thấy, mẫu gan tụy tôm bị bệnh có
biểu hiện: Gan tuỵ bị hoại tử (rỗng) và có thể chứa các giọt mỡ. Một số tế bào
mô gan bị trương to, chứa đầy các hạt nhỏ, nhân phân hoá. Các mô gan qua sát
được tỷ lệ nhiễm vi bào tử Enterocytonzoon sp. khá cao 92,77%), ngoài ra có sự
xuất hiện vi khuẩn vibrio spp trong các mẫu bệnh (Bùi Quang Tề và cộng sự, 2011)
Lê Hồng Phước và cộng sự (2012) nghiên cứu thực hiện trên tôm thẻ và tôm
sú với thiết kế 52 mẫu tôm thu định kỳ 10 ngày/lần, quan sát thấy dấu hiệu bệnh lý
trên tôm xuất hiện từ ngày thứ 17 sau khi thả và muộn nhất vào ngày thứ 77, bệnh
xảy ra tập trung vào tôm sau khi thả từ 20-45 ngày, tôm chết tập trung ở giai đoạn
19-31 ngày với các dấu hiệu hoại tử gan tụy và không có khả năng phục hồi chức
năng gan tụy.
Lê Hữu Tài và cộng sự (2012) quan sát thấy: tế bào ống gan tụy bị thoái hóa
hoàn toàn và bong tróc vào trong lòng ống, không tìm thấy sự hiện diện của các tác
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp 12

nhân gây bệnh hữu sinh, không có những biến đổi bệnh lý đặc trưng trên tế bào gan
tụy khi quan sát dưới kính hiển vi điện tử. Ngoài ra quan sát thấy có hiện tượng
melanin hóa, viêm quanh các ống gan tụy với sự xuất hiện của vô số tế bào máu và
sự hiện diện của trực khuẩn Gram âm trong vùng hoại tử.
Theo Nguyễn Thị Hiền và cộng sự (2012)


13

Ngoài ra còn thấy hiện tượng mềm vỏ hoặc có đốm nhỏ trên vỏ đầu -ngực.
Bệnh tích: Theo nghiên cứu của Lightner và các cộng sự (2012) cho thấy:
quan sát mô trên tôm bệnh quan sát được sự thoái hóa của gan tụy cấp tính, giảm
sự hoạt động phân bào trong tế bào E (tế bào phôi) của tổ chức gan tụy, rối loạn
chức năng ở giữa ngoại biên của tế bào B (tế bào men tiêu hóa), F (tế bào chuyển
tiếp) và R (tế bào dự trữ). Quan sát cho thấy nhân các tế bào vùng tổn thương
trương to, tế bào biểu mô bong tróc. Ngoài ra còn qua sát thấy sự có mặt của vi
khuẩn. Các nghiên cứu khác của các nhà khoa học khác cũng cho thấy kết bệnh
tích tương tự như: T.W. Flegel, Prachumwat, Eduado và Mohan đã công bố
trong năm 2012 và 2013.
Đến tháng 6/2013, dựa trên các nghiên cứu của các nhà khoa học và các
nghiên cứu trong khuôn khổ dự án TCP/VIE/3304 nêu trên, tại cuộc họp tổng kết dự
án tại Hà Nội ngày 26/6/2013, các nhà khoa học đã chính thức xác nhận tác nhân
gây AHPNS là do Vibrio parahaemolyticus có mang thể thực khuẩn (phage) gây ra
tuy nhiên chưa xác định được chính xác phage (FAO, 2013).
1.5. Một số bệnh tác ñộng lên gan tụy tôm nuôi
1.5.1. Bệnh còi trên tôm do Baculovirus (MBV).
Tác nhân gây bệnh: Monodo-type Baculovirus (MBV) là vi rút gây bệnh còi
có hình gậy (que), nhân ds_DNA (douple – stranded DNA), có thể ẩn (occlusion
body), kích thước 327 ± 29 nm x 87 ± 12 nm. Tại Đài Loan năm 1980, vi rút gây ra
dịch làm chết hoàng loạt tôm nuôi, gây thiệt hại lớn cho nghề nuôi tôm sú. Ngoài ra
còn có bệnh còi trên tôm chân trắng do Baculovirus penaei (BP) gây ra (Bùi Quang
Tề, 2006)
Phân bố, lan truyền: Baculovirus phân bố rộng tại trên 16 quốc gia trên thế
giới. Bệnh MBV hiện nay đã có mặt ở hầu hết các nước nuôi tôm trong khu vực
Châu Á – Thái Bình Dương như Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Phillippin,
Malaysia, Thái Lan, Ấn Độ; Sri Lanka, Singapore, Úc, Israel, Kuwait, Oman, Ý,
Kenya, Gambia, Nam Phi. Ngoài ra người ta cũng đã thấy bệnh này trên tôm nuôi

1.5.2. Bệnh gan tụy tôm he do Hepatopancreatic Parvorius – HPV
Tác nhân gây bệnh: Hepatopancreatic parvovirus (HPV) là vi rút có nhân
DNA, đường kính 22-24 m, không có vỏ ngoài ký sinh bên trong nhân tế bào gan
- tụy và biểu bì ruột trước của tôm. HPV không có thể ẩn nhưng có thể vùi
(inclusion body). Cơ quan đích của HPV là khối gan - tụy. Bệnh được ghi nhận đầu
tiên tại Trung Quốc trên tôm Penaeus chinensis (Lightner D.V., 1996). Chúng

Trích đoạn Bệnh do Vibrio Phạm vi nghiên cứu Phương pháp chọn mẫu ựiều tra Bảng tương liên 2x2, OR và RR Tình dịch bệnh theo số lượng hộ xuất hiện AHPNS theo từng vùng nuôi tôm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status