VÊn ®Ò më réng vèn tõ cho
häc sinh tiÓu häc vïng d©n
téc T©y Nguyªn
L−u Quý B×nh
Mở Đầu
1. Lý do chọn đề ti
Ngôn ngữ đó l chìa khoá để chúng ta tiếp cận đợc với thế giới xung
quanh. Vì thế, sự khác biệt về ngôn ngữ sẽ dẫn đến những khó khăn cơ bản
trong việc giao tiếp. Việt Nam l một quốc gia có rất nhiều thnh phần dân
tộc khác nhau, mỗi dân tộc đều mang một nét văn hoá riêng v đặc biệt l
sử dụng ngôn ngữ riêng biệt. Trong một quốc gia sự đa dạng về ngôn ngữ l
điều thờng gặp nhng cần phải thống nhất để có một ngôn ngữ chính thức
giao tiếp chung.
Từ lâu Đảng v Nh nớc ta đã nhận thức đợc điều ny v đã hoạch
định đợc một chính sách ngôn ngữ đúng đắn v khá ton diện, trong đó
tiếng Việt đợc xem l tiếng phổ thông, tiếng dùng chung cho cộng đồng
các dân tộc Việt Nam.
Trong cộng đồng các dân tộc thiểu số nớc ta, tiếng Việt có vai trò
quan trọng nhất đối với sự phát triển xã hội. Tuy nhiên, ở chức năng l công
cụ giao tiếp trong xã hội, tiếng mẹ đẻ của các dân tộc thiểu số thờng hạn
chế trong môi trờng gia đình v sinh hoạt văn hoá truyền thống, đây l một
trong những trở ngại khiến cho tiếng Việt khó có điều kiện phát triển.
Trong thực tế ở các vùng dân tộc - miền núi ở nớc ta, m đặc biệt l ở
vùng Tây Nguyên tính đến nay tiếng phổ thông đã đợc phổ biến rộng rãi
nhng chất lợng, trình độ sử dụng tiếng Việt của học sinh còn bị hạn chế.
cụ giao tiếp chung giữa cộng đồng các dân tộc với nhau trong một không
gian tự nhiên v một môi trờng xã hội rộng lớn. Tiếng phổ thông cùng với
tiếng mẹ đẻ của từng dân tộc l công cụ của t duy v động lực của sự phát
triển trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Việt Nam nói chung v ở Tây
Nguyên nói riêng.
Trong những năm gần đây, xã hội v đặc biệt l ngnh giáo dục đã có
những thay đổi theo chiều hớng tích cực. Việc Bộ Giáo dục thực hiện đại
tr chơng trình tiểu học 2000 v mới đây l Dự án phát triển giáo viên tiểu
học l một minh chứng. Có một thực tế l trong các trờng tiểu học hiện
nay, kể cả các thnh phố lớn nh H Nội, Thnh phố Hồ Chí Minh, học
sinh vẫn học theo phơng pháp: thầy đọc, trò ghi chép v lm theo. Rất có
thể với đặc điểm tâm lý của bậc học ny cộng với phơng pháp dạy học
cứng nhắc sẽ lm cho cá tính sáng tạo của trẻ không còn. Để thay đổi hon
ton phơng pháp, t duy đã thnh tiền lệ lâu nay không thể một sớm một
chiều, nhng chúng ta bắt buộc phải thay đổi. Không thể để trẻ em hởng
thụ một quá trình giáo dục bắt buộc, khô cứng, hon ton không có tính
sáng tạo. (Thông tin giáo dục - Bộ giáo dục, 2005).
ý nghĩa v tầm quan trọng của tiếng Việt đã đợc khẳng định trong
quyết định 53/ CP của Hội đồng chính phủ (1980) rằng: Tiếng v chữ phổ
thông l ngôn ngữ chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Nó l
phơng tiện giao lu không thể thiếu đợc giữa các địa phơng v các dân
tộc trong cả nớc, giúp cho các địa phơng v các dân tộc có thể phát triển
đồng đều về các mặt kinh tế, văn hoá, khoa học - kĩ thuật, tăng cờng khối
đon kết dân tộc v
thực hiện quyền bình đẳng dân tộc.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề ti Vấn đề mở rộng
vốn từ cho học sinh tiểu học vùng dân tộc Tây Nguyên. Đề ti chỉ nhằm
khai thác một khía cạnh nhỏ, cụ thể trong ton bộ nội dung phơng pháp
dạy học tiếng Việt ở nh trờng phổ thông.
Việt Nam. Các tác giả đã lm rõ một số vấn đề khá phức tạp của việc phát
triển ngôn ngữ cho đồng bo DTTS ở nớc ta, chỉ ra những tồn tại trong
việc đa tiếng phổ thông với đồng bo dân tộc thiểu số, để từ đó có những
hoạch định cụ thể cho t
ơng lai. Bên cạnh đó, các tác giả đã chỉ ra một số
trở ngại, yếu kém, hạn chế cho sự phát triển ngôn ngữ v đề xuất một số
giải pháp về xu thế thống hợp, quy tụ l những xu thế chủ yếu trong sự phát
triển NNDTTS ở nớc ta, xoá dần sự khác biệt giữa các thổ ngữ, phơng
ngữ. Ngoi ra, còn có một số bi viết Đời sống ngôn ngữ của ngời Dao ở
Việt Nam (Tác giả Nguyễn Hữu Honh, Tạ Văn Thông), Ngôn ngữ trong
giáo dục ở vùng đồng bo các dân tộc thiểu số Việt Nam (Tác giả Tạ Văn
Thông - Viện ngôn ngữ học), Ngôn ngữ giao tiếp trên lớp học của giáo
viên v học sinh tiểu học hiện nay (Tác giả Đo Thản), Một vi nhận xét
về năng lực sử dụng tiếng việt của đồng bo dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên
v những ảnh hởng của nó đối với sự phát triển (Tác giả Mai Văn Mô).
Bi viết đã có sự phân tích, đánh giá về tình trạng đa văn hoá, đa ngôn ngữ
của các quốc gia. V để tránh trình trạng xung đột ngôn ngữ dẫn đến sự
xung đột về dân tộc, lm bất ổn về chính trị, ngời ta phải chọn một ngôn
ngữ để lm ngôn ngữ chung, ngôn ngữ quốc gia (ở Việt Nam tiếng Việt
đợc coi l tiếng phổ thông - tiếng dùng chung của các dân tộc trên lãnh thỗ
Việt Nam). Bên cạnh đó, tác giả cũng đã thống kê cụ thể các số liệu về trình
độ văn hoá, trình độ tiếng phổ thông v tình trạng học sinh lu ban ở các
tỉnh Tây Nguyên, từ đó tác giả đã đa ra những giải pháp khá thuyết phục
cho việc phát triển năng lực sử dụng tiếng Việt cho đồng bo dân tộc thiểu
số ở Tây Nguyên.
3. Mục đích nghiên cứu
Phát hiện thực trạng về khó khăn ngôn ngữ của học sinh tiểu học
- Phơng pháp điều tra bằng phiếu thăm dò ý kiến: Sử dụng các phiếu
điều tra để thăm dò ý kiến đối với các giáo viên trực tiếp giảng dạy bộ môn
tiếng Việt ở các trờng tiểu học.
- Phơng pháp phỏng vấn: Tiến hnh gặp gỡ trò chuyện v trao đổi
với Ban giám hiệu, giáo viên đang trực tiếp giảng dạy bộ môn tiếng Việt ở
một số trờng tiểu học trên địa bn tỉnh Kon Tum; các cán bộ chuyên môn
Phòng phổ thông Sở giáo dục - Đo tạo, cán bộ chuyên môn Phòng giáo
dục huyện Đăk Tô - Tỉnh Kon Tum theo phiếu phỏng vấn đã chuẩn bị
trớc.
- Phơng pháp thống kê: Phân tích v xử lý các số liệu điều tra, định
hớng các kết quả nghiên cứu.
- Phơng pháp tổng hợp, phân tích, đánh giá.
7. Cơ sở khoa học v thực tiễn của đề ti
7.1. Cơ sở lý luận: - Cách hiểu chung về mở rộng vốn từ:
Mở rộng hay phát triển vốn từ cho học sinh đó l yêu cầu củng cố v
nâng cao hiệu quả dạy - học ngôn ngữ của chơng trình, theo các mức độ
có thể phụ thuộc vo điều kiện của từng trờng (trình độ học sinh, khả năng
giáo viên, trang thiết bị dạy học, cơ sở vật chất)
- Một số đặc điểm tâm lý của học sinh ngời dân tộc thiểu số:
Học sinh tiểu học ngời DTTS thờng gặp khó khăn trong việc thiết
lập v duy trì các mối quan hệ với giáo viên v các bạn học l ngời Kinh.
Khó thích ứng với môi trờng mới nên thờng rụt rè, sợ sệt, ít nói v
không ho đồng với các bạn.
Học sinh DTTS dễ mặc cảm, tự ti vì cảm thấy mình luôn thua kém
mọi ngời v hay giữ khoảng cách.
ở trờng học, trong quá trình giao tiếp các em hay lúng túng, vụng
đơng đầu l năng lực tiếng Việt của học sinh dân tộc thiểu số còn ở mức
rất thấp. Đặc điểm c trú vừa phân tán, vừa đan xen của đồng bo các dân
tộc thiểu số rõ rng có ảnh hởng không nhỏ đến vấn đề phát triển xã hội.
M ảnh hởng ny trớc hết l do vấn đề ngôn ngữ. Bởi vì, trong một môi
trờng đa dạng nh vậy, vấn đề ngôn ngữ giao tiếp sẽ l vấn đề nổi lên hng
đầu, nếu nh không nói l vấn đề mang tính quyết định.
Trong thực tế ở các vùng dân tộc - miền núi nớc ta, hiện nay không
phải nơi no tiếng phổ thông cũng đợc phổ biến v phát triển giống nhau.
Thực tế l, khả năng nói v viết tiếng phổ thông của học sinh ngời dân tộc
thiểu số trên địa bn các tỉnh Tây Nguyên còn gặp nhiều khó khăn m giáo
dục ở địa phơng v giáo dục cả nớc cần phải đặc biệt quan tâm.
Có một thực tế m chúng ta dễ nhận thấy l hiện nay vốn từ vựng
tiếng Việt của học sinh ngời dân tộc còn nhiều mặt hạn chế. Do những
khoảng cách về vị trí địa lý, phân bố dân c, kinh tế, trình độ, dân trí
khiến cho đồng bo dân tộc thiểu số cha thể tiếp thu, vận dụng tốt tiếng
phổ thông trong sinh hoạt của mình. Do vậy, việc phát triển vốn từ cho học
sinh tiểu học ngời dân tộc có một ý nghĩa quan trọng, giúp cho các em có
khả năng ho nhập tốt với sự phát triển xã hội hiện nay. Qua đó xoá dần
những khoảng cách ngôn ngữ lâu nay giữa các dân tộc trên đất nớc ta. V
chúng ta có thể nói, phát triển ngôn ngữ trong xã hội các dân tộc thiểu số
thực chất l góp phần phát triển đời sống các dân tộc thiểu số. Đây l một
việc lm thiết thực có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự nghiệp công
nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc.
Hơn bao giờ hết việc đầu t cho phát triển, mở rộng vốn từ đối với
học sinh ngời dân tộc thiểu số sẽ l nền tảng, động lực giúp cho sự phát
triển mọi mặt của đồng bo vùng dân tộc. Cùng với tiếng mẹ đẻ từng dân
tộc, kết hợp chặt chẽ với tiếng phổ thông dùng chung cho các cộng đồng
dân tộc Việt Nam sẽ l công cụ của t duy v động lực của sự phát triển
trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Việt Nam nói chung v ở khu vực
Trong quá trình mở rộng vốn từ cho học sinh tiểu học cũng cần phải
đề cập tới nghĩa của từ. Trong hng loạt các từ khác nhau đó thì nghĩa của
chúng có mối quan hệ với nhau. Xét về mặt ngữ nghĩa có các mối quan hệ:
đồng nghĩa, trái nghĩa, trờng nghĩa. Nhờ những mối quan hệ ny m từ
ngữ trở thnh một hệ thống rng buộc lẫn nhau, khiến cho ngôn ngữ trở nên
đa dạng, phong phú, nhiều mu sắc.
ở đây chúng ta cần quan tâm đến đối tợng học sinh tiểu học, đặc
biệt l học sinh dân tộc thiểu số. Giáo viên trong quá trình giảng dạy phải
tích cực giải nghĩa từ cho học sinh; có sự liên hệ, so sánh, đối chiếu v nếu
có điều kiện về thiết bị dạy học thì nên sử dụng các loại phơng tiện dạy
học hỗ trợ trong quá trình dạy. ở các trờng tiểu học trên địa bn tỉnh Kon
Tum khi giáo viên dạy bi tập đọc v giảng giải các từ nh ông ké, Tây
đồn, Thong manh
[]
38
thì học sinh tiểu học ngời dân tộc thiểu số khó có
thể hình dung nắm bắt đợc. Đó l chúng ta cha đề cập đến những yếu tố
Hán Việt có ở trong các bi tập đọc nh các từ : Tình cờ, chứng kiến, thán
phục, đại ti
[]
39
. Để giải thích tờng tận cho các em hiểu thán phục l
đánh giá cao ti năng ngời khác, trong trờng hợp no thì chúng ta có thể
sử dụng từ ny không phải l đơn giản đối với học sinh dân tộc.
Có lẽ, từ khi chập chững biết đi cho đến khi trởng thnh các em học
sinh dân tộc chỉ biết những dòng sông chảy xiết, mái nh rông lm nơi tụ
hội của dân lng, những cánh rừng bạt ngn của mình m thôi. Vì thế, phát
triển vốn từ cho học sinh tiểu học ngời dân tộc không thể không lu ý đến
điều ny.
từ cho học sinh đó l mối quan hệ giữa ngôn ngữ v Văn học. Một tác phẩm
Văn học dù đợc viết dới bất cứ hình thức no đi chăng nữa cũng phải cần
đến công cụ đắc lực đó l ngôn ngữ. Có một điều dễ nhận thấy, trớc khi
các em học sinh tiểu học biết viết thì các em đã biết nói. Cái vốn từ vựng ít
ỏi ấy dù sao cũng l bớc khởi đầu thuận lợi cho các em trớc khi đến
trờng.
Vì thế, ngôn ngữ v Văn học khó có thể tách rời nhau trong quá trình
dạy học ở trờng phổ thông. Học sinh tiểu học ngoi việc đợc nh trờng
cung cấp kiến thức sơ giản về tiếng Việt thì các em còn đợc trang bị những
kiến thức về Văn học qua các bi tập đọc (Văn xuôi, thơ ). Chúng ta có thể
minh họa điều ny nh sau:
Quạt cho b ngủ
Ơi chích choè ơi!
Chim đừng hót nữa
B em ốm rồi,
Lặng cho b ngủ.
Bn tay bé nhỏ
Vẫy quạt thật đều
Ngấn nắng thiu thiu
Đậu trên tờng trắng.
Căn nh đã vắng
Cốc chén nằm im.
Đôi mắt lim dim
Ngủ ngon b nhé.
Hoa cam hoa khế
phát triển năng lực ngôn ngữ nói chung v năng lực từ ngữ nói riêng.
Thông qua những hoạt động của ngôn ngữ trong những môi trờng
nh vậy sẽ giúp cho vốn từ ngữ của các em ngy cng đợc tích luỹ v trở
nên phong phú hơn. Vốn từ ny cũng đợc tập hợp thnh một hệ thống dựa
trên những quan hệ nhất định. Khi vận dụng ngôn ngữ vo thực tế - chẳng
hạn nh lm một bi Tập lm văn, ít nhiều các em sẽ có sự lựa chọn những
từ ngữ thích hợp nhất trong vốn từ ngữ của riêng mình. Nh vậy, từ vựng
trong đầu óc mỗi cá nhân l một biểu hiện cụ thể hệ thống từ vựng của
ngôn ngữ. Tuỳ theo lứa tuổi, trình độ, sự hiểu biết khác nhau m có sự khác
nhau về chất v lợng.
Nói tóm lại, tất cả những điều vừa trình by l cơ sở của việc lựa
chọn, sắp xếp, tổ chức v kiểm soát việc phát triển vốn từ ngữ cho học sinh.
Sẽ có những cơ sở đợc chú trọng nhiều hơn trong quá trình vận dụng (đối
tợng nghiên cứu của chúng ta l học sinh dân tộc thiểu số), do vậy cần có
những biện pháp tác động thích hợp hơn. Chính vì điều đó, tâm lý tiếp nhận
trong quá trình dạy học của đối tợng ny cần đợc đặc biệt chú trọng, lm
sao đáp ứng đợc các quy luật dạy học v mục tiêu của cấp học, xem xét nó
trong ton bộ cơ cấu v
hoạt động của hệ thống.
1.3. Khả năng từ vựng ban đầu của học sinh tiểu học ngời dân
tộc.
ở đây chúng tôi muốn đề cập đến giai đoạn trớc khi bớc vo lớp 1
của học sinh dân tộc thiểu số (giai đoạn tiền học đờng). Vốn từ ngữ ban
đầu m các em tích luỹ đợc trớc khi đến trờng có ý nghĩa rất lớn đến kết
quả học tập tiếng Việt v các môn học khác.
Thông thờng đối với học sinh tiểu học ngời Kinh, trớc khi bớc
vo lớp 1 các em đã tạo dựng đợc cho mình một số vốn từ nhất định. Học
đề giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc. Thế nhng, nếu chúng ta lạm dụng nó
mọi lúc mọi nơi sẽ rất khó khăn cho ngời đồng bo dân tộc thiểu số tiếp
cận tri thức tiếng Việt, đặc biệt l không thể hòa nhập v theo kịp đ phát
triển rất nhanh của xã hội hiện nay.
Suy cho cùng, có một thực tế l trớc khi bớc vo lớp 1, học sinh
ngời dân tộc thiểu số rất hạn chế về khả năng sử dụng tiếng Việt. Điều ny
l cản trở không nhỏ cho quá trình học tập của các em tại nh trờng tiểu
học.
Những nhận định trên đợc thể hiện khá rõ ở kết quả học tập của các
em tại các môn học ở nh trờng tiểu học v đặc biệt l môn tiếng Việt. Cụ
thể:
Kỳ thi tốt nghiệp tiểu học năm học 2002 - 2003 đợc tổ chức tại tỉnh
Kon Tum. Tổng số học sinh tiểu học ton tỉnh l 9639, trong đó học sinh
dân tộc l 5323, đây l một tỷ lệ học sinh dân tộc đến trờng khá cao.
Nhng kết quả của kỳ thi lại khiến cho công tác giáo dục tại Kon Tum suy
nghĩ. Chúng ta xem bảng sau:
Bảng 1.1. Kết quả kỳ thi tốt nghiệp tiểu học tỉnh Kon Tum 2002 - 2003
Loại HS ngời
Kinh
Tỉ lệ % HSDTTS Tỉ lệ %
Giỏi 212 4,91 17 0,17
Khá 3032 70,4 1241 12,8
TB 1068 24,7 3988 41,3
ở bảng trên đối chiếu tỉ lệ giữa học sinh tiểu học ngời Kinh v học
sinh tiểu học ngời DTTS, chúng ta thấy rằng tỉ lệ học sinh giỏi ngời Kinh
gấp khoảng 12 lần so với HSDTTS. Trong khi đó xếp loại trung bình thì
HSDTTS lại hơn khoảng 3,7 lần so với học sinh ngời Kinh. Kết quả ny
Học sinh tiểu học ngời Kinh v học sinh tiểu học ngời DTTS đều
cùng một đối tợng m chơng trình học ở nh trờng tiểu học cùng tác
động. Mục tiêu của môn tiếng Việt hớng tới hai đối tợng ny l: hình
thnh v phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói,
đọc, viết) để học tập v giao tiếp trong các môi trờng hoạt động của lứa
tuổi. Bên cạnh đó, còn cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về
tiếng Việt v những hiểu biết ban đầu về xã hội, tự nhiên v con ngời, về
văn hoá, Văn học của Việt Nam v nớc ngoi. Đặc biệt l mục tiêu không
thể thiếu của bộ môn l bồi dỡng tình yêu tiếng Việt v hình thnh thói
quen giữ gìn sự trong sáng, giu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thnh
nhân cách con ngời Việt Nam đáp ứng yêu cầu xã hội hiện đại.
Tuy nhiên, trong thực tế giảng dạy tiếng Việt ở tiểu học đã nảy sinh
một số trờng hợp buộc những ngời lm công tác giáo dục đặc biệt quan
tâm. Cụ thể l, học sinh tiểu học ngời Kinh có những thuận lợi khá cơ bản
trớc khi vo lớp 1. Các em học sinh ngời Kinh có đợc môi trờng sống,
môi trờng xã hội tốt hơn rất nhiều so với các em học sinh ngời dân tộc.
Ngay từ trong giai đoạn cha đến trờng các em đã đợc tiếp xúc với tiếng
Việt thờng xuyên v lĩnh hội khá nhanh. Gia đình các em chủ yếu tập
trung ở các vùng trung tâm thị trấn, thị xã. Điều ny tác động rất lớn đến
năng lực sống, năng lực học tập của các em. Trong khi đó, các em học sinh
dân tộc thiểu số đa phần l những hộ gia đình nghèo, sống cách xa trung
tâm Huyện, thiếu thốn về nhiều mặt v đặc biệt l rất ít có cơ hội tiếp xúc
với tiếng Việt trớc khi đến tr
ờng.
Bớc vo lớp 1 trong khi học sinh ngời Kinh đã có đợc một vốn
liếng tiếng Việt nhất định thì học sinh tiểu học ngời dân tộc thiểu số lại
quá hạn chế về kiến thức tiếng Việt. Tiếng Việt với học sinh ngời DTTS
không khác gì ngoại ngữ thứ hai cùng với tiếng Anh. Đây l trở ngại rất lớn
cho các em trong việc học tập các môn học khác khi không có kiến thức cơ
ời l tiếng Ê Đê, Ba Na, Gia Rai ở
Tây Nguyên. Điều ny có ảnh hởng không nhỏ đến quá trình lĩnh hội tiếng
Việt của học sinh dân tộc thiểu số. Chơng 2: Vấn đề dạy mở rộng vốn từ cho học sinh tiểu học
ngời dân tộc thiểu số tây nguyên.
2.1. Thực trạng dạy học tiếng Việt v vấn đề dạy mở rộng vốn từ
hiện nay cho học sinh dân tộc.
2.1.1. Thuận lợi:
Vấn đề dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc có một thuận lợi vô
cùng to lớn đó l đợc sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nh nớc v của
Ngnh giáo dục. Dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số l thực hiện
chính sách ngôn ngữ văn hoá dân tộc của Nh nớc ta. Lm tốt điều ny
chính l chúng ta đang ra sức bảo tồn, giữ gìn bản sắc văn hoá riêng từng
dân tộc, lm cho các dân tộc đều phát triển.
Giáo dục Việt Nam xác định rõ vấn đề dạy học tiếng Việt cho học
sinh dân tộc thiểu số l rất quan trọng. Chính vì thế m việc giảng dạy tiếng
Việt v ngôn ngữ các dân tộc thiểu số đã đợc ghi thnh luật: Các dân tộc
thiểu số có quyền sử dụng tiếng nói chữ viết của dân tộc mình cùng với
tiếng Việt để thực hiện giáo dục tiểu học
(Điều 4, chơng 1; Luật phổ cập giáo dục tiểu học, 1991)
hay: Tiếng Việt l ngôn ngữ chính thức dùng trong nh trờng
(Điều 5; Luật giáo dục, 1998)
ở trờng học, việc dạy học tiếng Việt đối với học sinh dân tộc thiểu
số luôn đợc xác định l rất quan trọng. Chúng ta đã thể hiện sự quan tâm
đến giáo dục tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số bằng cách chuẩn bị
Song song bên cạnh đó, việc chơng trình v sách giáo khoa áp dụng
các môn học nh: Toán, Tự nhiên - Xã hội, Đạo đức đều dung chung cho
cả nớc l thật sự cha hợp lý.
Mặc dù đợc sự quan tâm đặc biệt của xã hội nhng thực tế giảng
dạy đối tợng học sinh DTTS l một bi toán nan giải cho những ngời lm
công tác giáo dục. Ngnh giáo dục đã triển khai rất nhiều chơng trình, dự
án nhng kết quả thu đợc vẫn cha khả quan. Điều ny thể hiện ở chơng
trình 120 tuần (áp dụng từ năm học 1987 - 1988; dnh cho học sinh biết ít
hoặc không biết tiếng Việt, ít có thời gian học tập, ở những nơi điều kiện
giáo dục khó khăn, ở những vùng đồng bo DTTS). Chơng trình hớng tới
những học sinh có tiếng mẹ đẻ không phải tiếng Việt, nội dung học tập v
các yêu cầu cần đạt thấp hơn bình thờng, sách giáo khoa có nhiều ngữ liệu
gắn với thực tế đời sống sinh hoạt của các dân tộc Tuy nhiên, việc rút bớt
thời gian học ở chơng trình 120 tuần cha đợc coi l giải pháp hữu hiệu,
thay vì chúng ta tăng thời gian học cho học sinh DTTS thì lại rút bớt thời
lợng.
Hiện nay trình độ, năng lực sử dụng tiếng Việt (tiếng phổ thông) của
học sinh DTTS còn một khoảng cách khá xa so với học sinh ngời Kinh.
Trong quá trình sử dụng tiếng Việt, các em học sinh DTTS đã mắc phải
những lỗi cơ bản thờng gặp. Ví dụ nh:
- Thờng xuyên nói v viết thiếu dấu:
Hai con ngời - hai con ngơi (sai)
Chạy - cháy (sai)
Uống - uông (sai)
Không phân biệt đợc danh từ chung, danh từ riêng v cách thức
viết hoa:
Việt Nam - việt nam (sai)
- Trong khi nói thờng không có chủ ngữ, vị ngữ:
Tại sao hôm qua em nghỉ học?
Bảng 2.2. Tình hình học sinh phổ thông trong độ tuổi huy động ra lớp
Cấp học Tổng số học sinh HSDTTS Tỉ lệ %
Tiểu học 54.575 36.712 67,2
THCS 36.034 18.934 52,5
THPT 13.193 3.635 27,5
(Theo số liệu báo cáo đầu năm học 2005 - 2006 của Sở giáo dục & Đo
tạo Tỉnh Kon Tum) Nhìn vo bảng thống kê ny, chúng ta có thể thấy không khác nhiều
so với số liệu năm học 2001 - 2002, ở cấp học cng cao tỉ lệ huy động học
sinh ra lớp cng thấp, riêng học sinh DTTS ở bậc tiểu học l 36.712 em
(chiếm 67,2%) nhng ở bậc THPT tỉ lệ huy động ra lớp chỉ còn 3.635 em
(chiếm 27,5%), một con số khiến cho những ai lm công tác giáo dục cũng
phải suy nghĩ.
Trình độ tiếng phổ thông của học sinh l ngời DTTS khu vực Tây
Nguyên còn có thể đợc hình dung qua số học sinh lu ban ở các cấp học
trên địa bn tỉnh Kon Tum nh sau:
Bảng 2.3. Tình hình lu ban của học sinh DTTS, năm học 1998 - 1999
Cấp học Tổng số
học sinh
Học sinh
lu ban
Tỉ lệ
%
HSDTTS Số HSDTTS
lu ban